ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt, liên quan đến sức khỏe và tính mạng của con người, thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Chính vì vậy việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng điều trị, đây là vấn đề mà hiện nay các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm. Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trường và đa dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày cảng phong phú về số lượng, chủng loại và cả nhà cung cấp. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn.
Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng như tình trạng lạm dụng thuốc. Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tăng khả năng kháng thuốc trong điều trị. Ngày 08/08/2013, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện, có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Thường xuyên rà soát danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện sẽ giúp nhà quản lý phát hiện những bất cập để từ đó kịp thời đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm đạt được hiệu quả điều trị, hiệu quả chi phí.
Bệnh viện đa khoa Tây Ninh là bệnh viện hạng II với quy mô 800 giường bệnh, thuộc Sở Y Tế Tây Ninh. Vì vậy, bệnh viện luôn đặt yêu cầu hiệu quả, chất lượng điều trị và sự hài lòng của bệnh nhân lên hàng đầu. Bệnh viện đa khoa Tây Ninh đã từng bước triển khai, chấn chỉnh và thực hiện các biện pháp tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn trong điều trị và đã đạt được nhiều kết quả nhất định. Tuy vậy, công tác cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
1 Chính vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình lập kế hoạch cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của bệnh viện, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh năm 2022” nhằm các mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh năm 2022. Phân tích Danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh năm 2022 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Từ kết quả nghiên cứu đề tài xin đưa ra một số kiến nghị góp phần xây dựng được DMT phù hợp đáp ứng nhu cầu điều trị, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh trong những năm tiếp theo.
Danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện và các phương pháp phân tích danh mục thuốc 1. Khái niệm danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện Danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện là kết quả của quá trình cung ứng thuốc tại bệnh viện từ: Lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện, lập kế hoạch, tổ chức mua sắm đến cấp phát thuốc tại bệnh viện. Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng giúp HĐT & ĐT nắm bắt được rõ hơn tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện nhằm mục đích tìm ra những điểm chưa hợp lý để kịp thời điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện DMT sử dụng tại bệnh viện. Vai trò của DMT sử dụng tại bệnh viện: DMT sử dụng tại bệnh viện sẽ phản ánh chính xác nhất thực trạng sử dụng thuốc thực tế tại bệnh viện.
Qua đó giúp Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) nắm bắt được những thông tin mới nhất về tình hình sử dụng thuốc trong bệnh viện để có thể đưa ra kế hoạch xây dựng, lựa chọn, cũng như cấp phát sử dụng thuốc cho những năm tiếp theo nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Đối với mỗi bệnh viện, một DMT có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích rất lớn trong công tác khám chữa bệnh. Trong lĩnh vực cung ứng thuốc, nó giúp cho việc mua sắm thuốc dễ dàng hơn, lưu trữ thuận tiện hơn, đảm bảo chất lượng hơn và cấp phát dễ dàng hơn. Với việc kê đơn thì sẽ tập trung được nhiều kinh nghiệm hơn khi số lượng thuốc ít đi; sẽ không có các phương án thay thế thuốc bất hợp lý; việc thông tin thuốc được trọng tâm và xử trí ADR dễ dàng hơn.
Chi phí thuốc sẽ hợp lý hơn bởi giá cả thấp hơn và cạnh tranh hơn. Với việc tư vấn, giáo dục có trọng tâm và cải thiện được mức độ sẵn có giúp cho việc sử dụng thuốc trên người bệnh được tốt hơn [1]. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản tạo hành 3 lang pháp lý quy định về các vấn đề hướng dẫn sử dụng thuốc nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng DMT có ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ sở khám chữa bệnh. - Thông tư 22/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế (BYT) quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện.
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện, có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác được trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [2]. - Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong bệnh viện. Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Thông tư đề cập đến các nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn thuốc và các bước xây dựng DMT bệnh viện [3].
- Thông tư 23/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Thông tư đưa ra hướng dẫn lựa chọn đường dùng thuốc cho bệnh nhân, chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm [4]. - Thông tư 30/2018/TT-BYT ban hành ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT. Danh mục ban hành kèm theo thông tư bao gồm 27 nhóm tác dụng dược lý, trong đó có 1.030 hoạt chất thuốc hóa dược, sinh phẩm và 59 hoạt chất thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế [5].
- Thông tư 05/2015/TT-BYT ban hành ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế ban hành mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT. Danh mục ban hành kèm theo thông tư bao 4 gồm 229 thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và 349 vị thuốc y học cổ truyền [6]. - Thông tư 19/2018/TT-BYT ban hành ngày 30/08/2018 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc thiết yếu. Thông tư đưa ra một số tiêu chí lựa chọn thuốc vào DMT thiết yếu, đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm ưu tiên lựa chọn các thuốc đơn thành phần, nếu là đa thành phần phải chứng minh được sự kết hợp đó có lợi hơn khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn [7].
Một số phương pháp sử dụng trong phân tích DMT 1. Phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách [3]. - Phân tích ABC cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này được sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế + Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn - Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật.
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn. Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu. Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là các thuốc trong nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng giá thành rẻ hơn.
5 Thuốc trong nhóm A là các loại thuốc giá trị sử dụng cao, có thể được thay thế bởi các thuốc rẻ hơn. Mua thuốc A nên thường xuyên hơn, nhưng số lượng nhỏ hơn, tồn kho thấp hơn. Khi thay thế thuốc nhóm A bằng thuốc tương đương sinh học giá rẻ hơn có thể dẫn đến tiết kiệm ngân sách đáng kể. Nên cẩn thận theo dõi tình trạng sử dụng của nhóm thuốc A, vì sự gián đoạn bất ngờ trong cung ứng có thể dẫn đến chi phí tốn kém lớn.
Phân tích theo nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý. Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc của toàn viện.