ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh glôcôm là một nhóm bệnh có đặc điểm chung là tăng nhãn áp quá mức chịu đựng của mắt bình thường, lõm và teo gai thị thần kinh, làm tổn hại thị trường và giảm thị lực, còn được gọi là bệnh cườm nước hay bệnh thiên đầu thống. Nếu không điều trị đúng mức, thần kinh thị giác sẽ bị hư hại nặng nề dẫn đến mù lòa. Điều nguy hiểm là tình trạng mù này thường không thể đảo ngược, nghĩa là người bệnh sẽ không thể phục hồi và bị mù vĩnh viễn. Chính vì vậy, người bệnh cần phải được khám sàng lọc và điều trị ở giai đoạn sớm.
Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), glôcôm là nguyên nhân gây mù thứ hai trên thế giới (sau đục thủy tinh thể), chiếm tỷ lệ 8% [23], và là nguyên nhân gây mù lòa không hồi phục hàng đầu trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và các nước nghèo [33]. Năm 2020 trên thế giới sẽ có 79,6 triệu người bị glôcôm, trong đó người bệnh glôcôm người Châu Á chiếm 47% [19]. Số người bị mù cả hai mắt do glôcôm được dự đoán là 5,3 triệu người vào năm 2020. Người bệnh gốc Á chiếm hơn phân nửa số lượng người bệnh glôcôm trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, theo điều tra dịch tễ tại 16 tỉnh thành về tình hình mù lòa có thể phòng tránh được của Viện Mắt trung ương và tổ chức Atlantic Philanthropies năm 2007, có 24.800 người bị mù cả hai mắt do glôcôm [8]. Bệnh glôcôm, nhất là glôcôm góc mở với tiến triển bệnh từ từ, không triệu chứng, nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ góp phần giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ mù lòa nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Ở các nước phát triển, khoảng 50% số người bị bệnh glôcôm không biết có bệnh do bệnh tiến triển rất thầm lặng ở giai đoạn đầu (không có triệu chứng cảnh báo hoặc có triệu chứng không rõ ràng). Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, con số này có thể tăng tới 90% [4].
Điều trị bệnh glôcôm là phải điều trị gần như suốt đời từ khi bắt đầu phát hiện bệnh. Trong glôcôm góc đóng, điều trị phẫu thuật được chỉ định cho mọi giai đoạn bệnh. Điều trị nội khoa chỉ được chỉ định tạm thời trong những trường hợp cấp cứu cũng như trong thời gian chờ đợi phẫu thuật, hoặc những trường hợp bệnh nhân có tình. 2 trạng bệnh toàn thân nặng không có khả năng điều trị phẫu thuật.
Trong glôcôm góc mở, điều trị nhằm mục đích làm hạ nhãn áp, không làm tổn thương thêm thị trường và trạng thái đĩa thị. Trước tiên điều trị bằng thuốc tra tại mắt hoặc bằng laser. Phẫu thuật được chỉ định khi điều trị nội khoa hoặc laser không kết quả hoặc trên những trường hợp không có điều kiện về kinh tế, sức khoẻ, theo dõi định kỳ [6]. Sự tuân thủ điều trị khi dùng thuốc góp phần quan trọng trong giảm tỷ lệ mù lòa ở người bệnh glôcôm.
Phương pháp điều trị thích hợp đối với người bệnh glôcôm phải dung hòa được cả tình trạng bệnh và khả năng kinh tế của người bệnh để đảm bảo chi phí điều trị suốt đời. Có nhiều nghiên cứu về chi phí điều trị bệnh glôcôm nhưng chủ yếu tập trung vào dân số châu Âu, Mỹ vì vậy chưa rõ chi phí trung bình hiện nay ở Việt Nam như thế nào. Gánh nặng kinh tế trong điều trị tăng nhãn áp không chỉ đáng kể cho các hệ thống y tế, mà còn cho gia đình và người bệnh. Do đó, các kế hoạch sàng lọc để chẩn đoán sớm hơn và các chính sách y tế giúp giảm chi phí quản lý bệnh, tăng tuân thủ điều trị và giảm tỷ lệ mù lòa do bệnh tăng nhãn áp là rất cần thiết.
Những điều này sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm chi tiêu cá nhân và quốc gia. Tại Bệnh viện Mắt TP.HCM, khoa Glaucoma là nơi trực tiếp điều trị nội trú và ngoại trú cho người bệnh glôcôm tuyến cuối của các tỉnh phía Nam. Năm 2018, ước tính khoảng 2.500 người bệnh nội trú và 14.000 người bệnh ngoại trú. Tổng chi phí của người bệnh nội trú tại Bệnh viện Mắt TP.HCM năm 2018 là khoảng 11,2 tỷ đồng [1].
Để đánh giá thực trạng gánh nặng kinh tế của người bệnh glôcôm tại Bệnh viện Mắt TP.CHM, đề tài: “PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BỆNH GLÔCÔM GIAI ĐOẠN 2017-2019 VÀ GLÔCÔM GÓC MỞ NĂM 2020 TẠI BỆNH VIỆN MẮT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” được thực hiện nhằm các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát Phân tích chi phí điều trị bệnh glôcôm giai đoạn 2017-2019 và bệnh glôcôm góc mở năm 2020 cho người bệnh điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Mắt TP. 3 Mục tiêu cụ thể 1. Phân tích đặc điểm người bệnh và chi phí trực tiếp y tế trong điều trị bệnh glôcôm tại Bệnh viện Mắt TP.HCM giai đoạn 2017-2019. Phân tích đặc điểm người bệnh và tổng chi phí điều trị ngoại trú bệnh glôcôm góc mở trong một tháng tại Bệnh viện Mắt TP.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ GLÔCÔM 1. Định nghĩa và phân loại 1. Định nghĩa Glôcôm là một nhóm bệnh lý thần kinh thị đặc trưng bởi sự mất tế bào hạch võng mạc chọn lọc và tiến triển dần.
Bệnh lý biểu hiện trên lâm sàng qua sự mỏng và mất viền thần kinh võng mạc và lớp sợi thần kinh, tương xứng với tình trạng mất thị trường. Đây là định nghĩa của Hiệp hội Glôcôm Châu Á Thái Bình Dương (Asia Pacific Glaucoma Group). Phân loại Người ta phân loại glôcôm theo lứa tuổi người bệnh, vị trí cản trở lưu thông thủy dịch, mô liên quan (thủy tinh thể) và bệnh căn. Tuy nhiên phân loại theo hai kiểu glôcôm: góc đóng và góc mở là phổ biến nhất vì nó dựa vào sinh lý bệnh học và chỉ ra phương hướng xử trí lâm sàng thích hợp.
Trong glôcôm góc đóng, lưu thông thủy dịch bị cản trở bởi chu vi mống mắt bít tắt vùng bè. Trong glôcôm góc mở, lưu thông thủy dịch bị cản trở bởi vùng bè và ống Schlemm. - Glôcôm thứ phát. - Glôcôm ở trẻ em [5].
Dịch tễ học 1. Dịch tễ học bệnh glôcôm trên thế giới Trên toàn cầu, ước tính 60,5 triệu người (2,65% dân số toàn cầu trên 40 tuổi) mắc bệnh tăng nhãn áp vào năm 2010. Trong số này, ước tính có 44,7 triệu người mắc bệnh tăng nhãn áp góc mở nguyên phát ( POAG) và 15,7 triệu người bệnh tăng nhãn áp góc đóng nguyên phát (PACG). Tỷ lệ mắc bệnh tăng nhãn áp dự kiến sẽ đạt 79,6 triệu vào năm 2020, ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, mặc dù mức tăng lớn nhất dự kiến là ở Trung Quốc và Ấn Độ sẽ chiếm gần 40% các trường hợp trên toàn thế giới.
Trên toàn cầu, số người mắc bệnh POAG ước tính sẽ đạt 58,6 triệu vào năm 2020 và. 5 21 triệu người sẽ có PACG. Hơn 4,5 triệu người hiện bị mù do POAG trong năm 2010, một con số được dự báo sẽ tăng lên 5,9 triệu vào năm 2020 [26]. Tại Singapore, khoảng 3% số người trên 50 tuổi mắc bệnh tăng nhãn áp và gần 10% ở những người trên 70 tuổi theo nghiên cứu của Singapore Eye Research Institute 2009.
Hiện tại, ước tính khoảng 3% dân số trên 40 tuổi mắc bệnh tăng nhãn áp, với trung bình từ 65% đến 75% các trường hợp mắc bệnh tăng nhãn áp vẫn chưa được chẩn đoán; nói cách khác, tỷ lệ chẩn đoán trước đó là 34% ở các nước phát triển và 8% ở các nước đang phát triển [26]. Mất thị lực và mù lòa được ước tính đóng góp tới 8.2% do glôcôm và trong số 161 triệu người bị mù do bệnh, hơn 90% tập trung ở những nơi nghèo nhất đang phát triển thế giới [17], [28]. Tỷ lệ mắc bệnh tăng nhãn áp dự kiến sẽ tăng vào giai đoạn 2010 - 2020 Theo nghiên cứu của Yih-Chung Tham và cộng sự, tỷ lệ mắc bệnh tăng nhãn áp toàn cầu đối với dân số ở độ tuổi 40-80 là 3,54% (KTC 95%, 2,09-5,82). Tỷ lệ mắc bệnh POAG cao nhất ở châu Phi (4,20%; KT 95%, 2,08-7,35) và tỷ lệ mắc bệnh PACG cao nhất ở châu Á (1,09%; KTC 95%, 0,43-2,32).
Năm 2013, số người (từ 40-80 tuổi) mắc bệnh tăng nhãn áp trên toàn thế giới được ước tính là 64,3 triệu, tăng lên 76,0 triệu vào năm 2020 và 111,8 triệu vào năm 2040 [30]. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ, với nhân khẩu học bị ảnh hưởng nhiều nhất là những người từ 40–60 tuổi [29]. Dịch tễ học bệnh glôcôm tại Việt Nam Glôcôm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở nước ta cũng như trên thế giới, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời bệnh có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn. Theo số liệu thống kê của ngành mắt năm 2002, tỷ lệ mù lòa do glôcôm ở Việt Nam là 5,7%.
Tỷ lệ glôcôm góc đóng là 79,8% và tỷ lệ glôcôm góc mở là 20,2%. Bệnh glôcôm nguyên phát có tính chất gia đình. Tiền sử gia đình được coi là yếu tố có ý nghĩa trong bệnh glôcôm nguyên phát. Các nhà khoa học đã xác định được gen gây bệnh đối với glôcôm góc mở nguyên phát.
Trong glôcôm góc đóng nguyên phát, người ta nhận thấy glôcôm góc đóng có thể được di truyền nhưng tiền sử gia đình không cho phép khẳng định trong tương lai người ruột thịt của người bệnh glôcôm góc đóng có bị glôcôm hay không. Glôcôm là bệnh liên quan đến tuổi, tuổi càng cao tỷ lệ bị glôcôm càng lớn. Bệnh thường gặp ở những người từ 35 tuổi trở lên. Bệnh glôcôm góc đóng hay gặp ở những mắt có cấu trúc đặc biệt như sau: mắt nhỏ, giác mạc nhỏ, tiền phòng nông, góc tiền phòng hẹp, thể thủy tinh to hơn bình thường, vị trí của thể thủy tinh nhô ra trước, viễn thị.
Glôcôm góc mở thường xảy ra ở những người da đen và da trắng do đặc điểm cấu trúc nhãn cầu và kích thước độ cong giác mạc ở người da đen và da trắng lớn. Glôcôm góc đóng thường xảy ra trên những người da vàng. Điều này được giải thích do nhãn cầu của người da vàng thường nhỏ. Bệnh thường xảy ra trên những cơ địa dễ xúc cảm, tỷ lệ gặp ở nữ cao hơn nam phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới [6] [29].
Phương pháp điều trị và phác đồ điều trị tại Bệnh viện Mắt TP. Phương pháp điều trị Có ba phương pháp điều trị glôcôm: dùng thuốc, laser và phẫu thuật. - Điều trị glôcôm bằng thuốc: có 6 nhóm thuốc chính trong điều trị glôcôm [5]: Cường α - adrenergic. Ức chế men anhydrase carbonic.
Thuốc tăng thẩm thấu. Nhóm đồng vận Prostaglandin.