Tổng quan nghiên cứu

Glôcôm (cườm nước hay thiên đầu thống) là nguyên nhân gây mù lòa không hồi phục hàng đầu trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), căn bệnh này chiếm khoảng 8% tổng số các ca mù lòa toàn cầu và ước tính ảnh hưởng đến hơn 79,6 triệu người vào năm 2020, trong đó khu vực Châu Á chiếm tới 47% tổng số bệnh nhân. Tại Việt Nam, các cuộc điều tra dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ mù lòa do glôcôm chiếm khoảng 5,7%, với ước tính hơn 24.800 người mù cả hai mắt. Việc điều trị glôcôm đòi hỏi quá trình theo dõi và sử dụng thuốc liên tục gần như suốt đời nhằm kiểm soát áp lực nội nhãn, ngăn chặn thoái hóa tế bào hạch võng mạc và tổn hại thị trường.

Mục tiêu tổng quát của luận văn là phân tích cơ cấu chi phí điều trị ngoại trú bệnh glôcôm giai đoạn 2017–2019 và đi sâu đánh giá bệnh glôcôm góc mở năm 2020 tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh. Các mục tiêu cụ thể gồm: xác định đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh, đo lường các cấu phần chi phí trực tiếp y tế, chi phí trực tiếp ngoài y tế và chi phí gián tiếp theo quan điểm người sử dụng dịch vụ, đồng thời kiểm định mối liên quan giữa đặc tính người bệnh với gánh nặng tài chính.

Nghiên cứu được triển khai tại Khoa Glaucoma thuộc Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh – cơ sở chuyên khoa hạng I tiếp nhận khoảng 14.000 lượt điều trị ngoại trú mỗi năm. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc về gánh nặng kinh tế y tế, làm cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa danh mục Bảo hiểm Y tế (BHYT) và hoàn thiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết Kinh tế Dược học hiện đại, trọng tâm là phương pháp phân tích chi phí bệnh tật (Cost of Illness - COI). Mô hình COI cho phép đo lường toàn bộ nguồn lực kinh tế bị tiêu hao do bệnh tật gây ra dựa trên hai góc độ tiếp cận: tỷ lệ hiện mắc (prevalence-based approach) để đánh giá gánh nặng chi phí hàng năm và tỷ lệ mới mắc (incidence-based approach) đối với toàn bộ vòng đời bệnh lý.

Hệ thống biến số chi phí được phân loại toàn diện theo quan điểm người bệnh:

  • Chi phí trực tiếp y tế (Direct Medical Costs - DCm): Bao gồm chi phí tiền khám, xét nghiệm cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh chức năng (chụp OCT, đo thị trường), thủ thuật/phẫu thuật hạ nhãn áp và thuốc đặc trị.
  • Chi phí trực tiếp ngoài y tế (Direct Non-medical Costs - DCnm): Gồm chi phí di chuyển bằng phương tiện cá nhân hoặc công cộng và chi phí ăn uống của người bệnh cùng thân nhân đi kèm.
  • Chi phí gián tiếp (Indirect Costs - IC): Đo lường sự mất mát năng suất lao động do nghỉ việc để đi khám bệnh, được tính toán thông qua phương pháp tiếp cận nguồn vốn nhân lực (Human Capital Approach) dựa trên mức thu nhập thực tế hoặc mức lương trung bình ngày của người bệnh và người chăm sóc.

Ngoài ra, luận văn còn đối chiếu các nguyên lý phân tích kinh tế dược mở rộng như Phân tích chi phí - hiệu quả (Cost-Effectiveness Analysis - CEA) và Phân tích tối thiểu hóa chi phí (Cost-Minimization Analysis - CMA) để đánh giá tính khả thi kinh tế của các phác đồ dùng thuốc nhỏ mắt nhóm đồng vận Prostaglandin so với nhóm chẹn beta giao cảm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hai thiết kế dịch tễ học và kinh tế y tế thực nghiệm trong thời gian 16 tháng (từ tháng 04/2019 đến tháng 10/2020):

  • Thiết kế hồi cứu cắt ngang giai đoạn 2017–2019: Thu thập toàn bộ hồ sơ bệnh án điện tử từ phần mềm quản lý bệnh viện HSoft trên quần thể hơn 5.300 đến 5.734 lượt bệnh nhân ngoại trú mỗi năm. Tất cả chi phí y tế qua các năm được điều chỉnh và quy đổi về mặt bằng giá năm 2020 dựa trên Chỉ số giá tiêu dùng y tế (CPI từ 106,2 năm 2017 lên 116,7 năm 2020).
  • Thiết kế mô tả cắt ngang tiến cứu tháng 05/2020: Thực hiện chọn mẫu thuận tiện có tiêu chí chọn lọc trên 202 người bệnh mắc glôcôm góc mở nguyên phát (POAG - mã ICD-10: H40.1) từ đủ 18 tuổi trở lên đang khám ngoại trú. Dữ liệu thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc gồm 5 phần kết hợp tra cứu viện phí thực tế.

Phương pháp xử lý số liệu sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2016. Do các biến số chi phí thường có phân bố lệch, các phép kiểm định phi tham số Mann-Whitney U (so sánh 2 nhóm độc lập) và Kruskal-Wallis H (so sánh nhiều nhóm độc lập) được lựa chọn với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 để phân tích sự khác biệt chi phí theo nhóm tuổi, địa bàn cư trú và mức hưởng BHYT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học và phân tích kinh tế y tế đã chỉ ra những số liệu nổi bật:

  • Đặc điểm độ tuổi và giới tính: Độ tuổi trung bình của người bệnh glôcôm khảo sát năm 2020 là 59,9 ± 14,2 tuổi; nhóm người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) chiếm tỷ lệ áp đảo 61,4%, trong khi nhóm tuổi 35–59 tuổi chiếm 32,7%. Tỷ lệ phân bố giới tính khá cân bằng với 51,9% nam và 48,1% nữ.
  • Nguồn gốc địa lý và tình trạng bảo hiểm: Bệnh nhân đến từ các tỉnh, thành lân cận luôn chiếm tỷ trọng cao hơn bệnh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, duy trì ở mức 56,0% đến 57,6% trong suốt giai đoạn 2017–2019. Tỷ lệ bệnh nhân tham gia BHYT đạt 69,2% năm 2019, trong đó nhóm hưởng mức thanh toán 80% chiếm phần lớn (65,6%), nhóm hưởng 100% chiếm 23,9% và nhóm hưởng 95% chiếm khoảng 10,5%.
  • Cơ cấu chi phí điều trị: Đối với bệnh nhân glôcôm góc mở năm 2020, chi phí trực tiếp y tế trung bình là 625.579 VND/người/tháng (tương đương khoảng 7.500.000 VND/năm nếu tuân thủ tái khám hàng tháng). Trong đó, tiền thuốc đặc trị hạ nhãn áp chiếm tỷ trọng vượt trội lên tới trên 70% tổng chi phí y tế. Tổng chi phí điều trị ngoại trú trung bình (bao gồm chi phí trực tiếp y tế, chi phí đi lại, ăn uống và chi phí gián tiếp mất ngày công) là 965.599 VND/người/tháng.
  • Sự khác biệt chi phí giữa các nhóm: Phân tích kiểm định phi tham số ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) về tổng chi phí điều trị giữa nhóm bệnh nhân có BHYT so với không có BHYT, cũng như giữa bệnh nhân cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh và bệnh nhân ngoại tỉnh.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu chi phí điều trị ngoại trú phản ánh rõ nét tính chất mạn tính của bệnh glôcôm. Chi phí thuốc chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng chi phí y tế hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu tại Châu Âu như Pháp (390 Euro/năm) và Thụy Điển (531 Euro/năm), nơi tiền thuốc chiếm từ 45% đến 55% chi phí trực tiếp. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn tại Việt Nam nằm ở chi phí trực tiếp ngoài y tế.

Dữ liệu trình bày qua bảng phân bổ chi phí và biểu đồ so sánh địa lý cho thấy bệnh nhân ngoại tỉnh phải gánh chịu chi phí đi lại và ăn uống cao gấp 2,5 đến 3 lần so với bệnh nhân nội thành. Nguyên nhân xuất phát từ quy định hiện hành chỉ cho phép kê đơn thuốc ngoại trú tối đa 30 ngày. Điều này buộc người bệnh từ các tỉnh xa phải di chuyển đến bệnh viện trung bình 12 lần mỗi năm, làm gia tăng đáng kể chi phí gián tiếp do mất ngày công lao động của cả người bệnh lẫn thân nhân đưa đón (chiếm hơn 60% tổng số lượt khám có người chăm sóc đi cùng).

So với nghiên cứu tại Mexico City (nơi chi phí điều trị glôcôm chiếm tới 61,5% thu nhập của nhóm người nghèo), chi phí 965.599 VND/tháng tại Việt Nam tạo ra áp lực tài chính rất lớn đối với người cao tuổi đã nghỉ hưu hoặc lao động tự do không có thu nhập cố định, dẫn đến nguy cơ bỏ trị hoặc không tuân thủ dùng thuốc đều đặn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu gánh nặng tài chính và nâng cao hiệu quả kiểm soát mù lòa do glôcôm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Điều chỉnh quy định kê đơn thuốc ngoại trú cho bệnh mạn tính:

    • Chủ thể thực hiện: Bộ Y tế và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.
    • Hành động: Sửa đổi quy chế kê đơn, cho phép bác sĩ chuyên khoa chỉ định cấp phát thuốc điều trị glôcôm định kỳ 60 đến 90 ngày/lần đối với các trường hợp nhãn áp đã ổn định.
    • Mục tiêu & Thời gian: Giảm 50% tần suất di chuyển và tiết kiệm ít nhất 35% chi phí ngoài y tế cho bệnh nhân ngoại tỉnh trong giai đoạn 2021–2023.
  • Mở rộng danh mục và tỷ lệ chi trả của Bảo hiểm Y tế:

    • Chủ thể thực hiện: Ban Dược - Vật tư y tế thuộc Bảo hiểm Xã hội phối hợp với Hội Nhãn khoa.
    • Hành động: Đưa các hoạt chất phối hợp hạ nhãn áp thế hệ mới (nhóm đồng vận Prostaglandin kết hợp chẹn beta) vào danh mục thanh toán đầy đủ cho tuyến chuyên khoa.
    • Mục tiêu & Thời gian: Nâng tỷ lệ bao phủ chi phí thuốc thiết yếu lên 85–90%, giảm gánh nặng tiền túi tự chi trả của người bệnh trước năm 2024.
  • Tăng cường năng lực chẩn đoán và quản lý glôcôm tuyến cơ sở:

    • Chủ thể thực hiện: Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Mắt (chỉ đạo tuyến).
    • Hành động: Đẩy mạnh đào tạo chuyển giao kỹ thuật đo nhãn áp, soi góc tiền phòng và cấp phát thuốc duy trì tại các bệnh viện mắt tuyến tỉnh/thành phố phía Nam.
    • Mục tiêu & Thời gian: Giảm 30% tỷ lệ bệnh nhân ngoại tỉnh dồn về tuyến cuối khám định kỳ đơn thuần vào giai đoạn 2023–2025.
  • Thiết lập chương trình tư vấn tuân thủ và hỗ trợ người bệnh cao tuổi:

    • Chủ thể thực hiện: Khoa Dược phối hợp Khoa Glaucoma Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Hành động: Xây dựng góc tư vấn dược lâm sàng hướng dẫn kỹ thuật tra mắt chuẩn xác, hạn chế tác dụng phụ toàn thân và thiết lập hệ thống nhắc lịch tái khám tự động qua tin nhắn.
    • Mục tiêu & Thời gian: Tăng tỷ lệ tuân thủ điều trị liên tục từ mức 65% hiện tại lên trên 85% trong vòng 12 tháng triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Cơ quan Quản lý Y tế và Bảo hiểm Xã hội: Cung cấp bằng chứng thực chứng về cơ cấu chi phí thực tế của 14.000 lượt bệnh nhân ngoại trú, hỗ trợ xây dựng chính sách phân bổ ngân sách BHYT và đàm phán giá thuốc nhỏ mắt chuyên khoa.
  • Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc & Điều trị các Bệnh viện Chuyên khoa Mắt: Cung cấp dữ liệu để tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh ngoại trú, giảm tải khu vực chờ và xây dựng danh mục thuốc viện phù hợp với khả năng chi trả của đa số người bệnh.
  • Bác sĩ chuyên khoa Nhãn khoa và Dược sĩ lâm sàng: Giúp các bác sĩ cân nhắc giữa hiệu lực hạ nhãn áp lâm sàng và gánh nặng kinh tế khi lựa chọn phác đồ điều trị lâu dài, từ đó cá thể hóa liệu pháp dùng thuốc nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị.
  • Học viên Sau đại học, Nghiên cứu sinh ngành Kinh tế Y tế và Quản lý Dược: Cung cấp bộ khung phương pháp luận chuẩn xác về mô hình phân tích chi phí bệnh tật (COI), thiết kế bảng hỏi đánh giá năng suất lao động và kỹ thuật phân tích số liệu thống kê phi tham số.

Câu hỏi thường gặp

Chi phí điều trị ngoại trú bệnh glôcôm góc mở trung bình mỗi tháng là bao nhiêu?
Theo kết quả nghiên cứu năm 2020 tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh, tổng chi phí trung bình một người bệnh phải chi trả là 965.599 VND/tháng. Trong đó, chi phí trực tiếp y tế chiếm 625.579 VND, phần còn lại là chi phí đi lại, ăn uống và chi phí do mất ngày công lao động.

Cấu phần nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí trực tiếp y tế điều trị glôcôm?
Chi phí tiền thuốc điều trị hạ nhãn áp chiếm tỷ trọng cao nhất, thường xuyên dao động từ 70% đến hơn 80% tổng chi phí trực tiếp y tế. Các nhóm thuốc tra mắt hạ nhãn áp mới như đồng vận Prostaglandin có hiệu quả cao nhưng chi phí tương đối đắt đỏ so với các thuốc cổ điển.

Tại sao bệnh nhân ở các tỉnh khác lại có tổng chi phí điều trị cao hơn bệnh nhân tại TP.HCM?
Bệnh nhân ngoại tỉnh chiếm tới 57,6% tổng số người khám nhưng phải chịu thêm gánh nặng lớn từ chi phí đi lại đường dài, chi phí ăn uống và tiền mất thu nhập của người thân đi kèm do quy định đơn thuốc chỉ cấp tối đa 30 ngày buộc họ phải di chuyển hàng tháng.

Bảo hiểm Y tế giúp chi trả bao nhiêu phần trăm chi phí cho người bệnh glôcôm?
Khảo sát cho thấy 69,2% người bệnh có thẻ BHYT, trong đó nhóm được quỹ BHYT chi trả 80% chiếm đa số (65,6%), nhóm được hưởng 100% chiếm 23,9%. BHYT giúp giảm đáng kể tiền khám và thuốc thuộc danh mục nhưng chưa bao trả các chi phí trực tiếp ngoài y tế.

Phương pháp phân tích kinh tế dược nào được áp dụng chính trong luận văn?
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích chi phí bệnh tật (Cost of Illness - COI) kết hợp phương pháp vốn nhân lực (Human Capital Approach) để lượng hóa đầy đủ chi phí trực tiếp y tế, chi phí trực tiếp ngoài y tế và tổn thất năng suất lao động gián tiếp trên cỡ mẫu 202 bệnh nhân.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ tổng chi phí điều trị ngoại trú bệnh glôcôm góc mở trung bình là 965.599 VND/người/tháng, trong đó chi phí trực tiếp y tế đạt 625.579 VND/tháng.
  • Nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm đa số với 61,4%, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các chính sách an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe mắt cho người cao tuổi.
  • Bệnh nhân đến từ các tỉnh khác chiếm tỷ lệ cao (56,0% – 57,6%), chịu tổn thất kinh tế lớn do chi phí di chuyển và ăn uống phát sinh định kỳ hàng tháng.
  • Nghiên cứu đã chứng minh vai trò then chốt của BHYT trong việc giảm áp lực kinh tế y tế, với 69,2% người bệnh tham gia bảo hiểm trong giai đoạn khảo sát.
  • Bước tiếp theo cần triển khai ngay việc kéo dài thời hạn đơn thuốc ngoại trú lên 60–90 ngày và đẩy mạnh mạng lưới quản lý glôcôm tại y tế cơ sở nhằm giảm nguy cơ mù lòa vĩnh viễn cho cộng đồng.