Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Các nhân tố ảnh hưởng đến thị hiếu người tiêu dùng về mỹ phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện bởi sinh viên Đặng Thị Thảo Hiền (MSSV: 1311190932, Lớp 13DTDN03), dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Đức Thắng, thuộc Khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) vào năm 2017. Đề tài thuộc ngành Tài chính, chuyên ngành Tài chính Doanh nghiệp, tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu hành vi thị trường và quản trị tiêu dùng.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các ngành thương mại dịch vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với sự cải thiện về chất lượng cuộc sống, nhu cầu làm đẹp và sử dụng mỹ phẩm của người dân đô thị có xu hướng gia tăng rõ rệt theo thời gian. Sự gia tăng nhu cầu dẫn đến sự gia nhập mạnh mẽ của nhiều đơn vị sản xuất, nhập khẩu và phân phối mỹ phẩm với mẫu mã đa dạng. Tuy nhiên, thực tế thị trường ghi nhận sự phân hóa lớn: một số nhãn hàng đạt doanh số tiêu thụ rất cao, trong khi nhiều thương hiệu khác lại có doanh số thấp, không mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này thông qua việc phân tích thị hiếu của người tiêu dùng.

Văn bản xác định mục đích nghiên cứu bao gồm hai nội dung chính:

  1. Đem lại kết quả đánh giá có định lượng với độ tin cậy nhất định về các nhân tố ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng về mỹ phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Làm cơ sở phân tích và định hướng giải pháp cho ngành mỹ phẩm.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thị hiếu của người tiêu dùng mỹ phẩm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tế thu thập số liệu được tiến hành từ ngày 01/04/2017 đến ngày 10/06/2017.
  • Đối tượng khảo sát: Người tiêu dùng mỹ phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung chủ yếu vào nhóm giới trẻ trong độ tuổi từ 20 đến 29 tuổi, bao gồm học sinh, sinh viên và nhân viên văn phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật và chuyên ngành về nhân tố ảnh hưởng, thị hiếu, người tiêu dùng và mỹ phẩm:

  • Khái niệm thị hiếu được tiếp cận theo hướng khuynh hướng ưa thích của đông đảo quần chúng về sinh hoạt vật chất hoặc văn hóa trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Định nghĩa mỹ phẩm được tham chiếu qua ba góc độ: theo từ điển bách khoa mở (hỗn hợp hóa học tự nhiên hoặc tổng hợp dùng để trang điểm, thay đổi diện mạo, mùi hương); theo cách hiểu thông thường (sản phẩm làm đẹp phục vụ phái nữ); và theo từ điển y dược kết hợp Đạo luật về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Liên bang (Federal Food, Drug, and Cosmetic Act - FD&C Act) nhằm phân biệt mỹ phẩm (tẩy sạch, làm đẹp) với dược phẩm (chẩn đoán, điều trị, thay đổi cấu trúc cơ thể).
  • Hệ thống phân loại mỹ phẩm: Phân loại thông thường (mỹ phẩm bề ngoài, mỹ phẩm dự phòng, mỹ phẩm sửa chữa/phục hồi); Phân loại theo dòng sản phẩm (dành cho mặt, cơ thể, tay/móng, tóc và đồ hóa trang); Phân loại theo mục đích sử dụng (hàng phổ thông/popular brand, hàng cao cấp, hàng chuyên nghiệp sử dụng kèm tư vấn kê toa tại spa/phòng khám với hai dòng home care và cabin); và phân loại theo bộ phận cơ thể tiếp xúc (da, lông/tóc, mắt, môi, móng).

Về các nghiên cứu thực nghiệm tiền đề, tác giả tổng thuật các công trình:

  • Nghiên cứu trong nước: Đề tài của Lê Thị Hồng Vân (2010, Đại học Đà Nẵng) vận dụng thang đo CSI của Sproles & Kendall (1986); đề tài của Trần Bảo Châu (2013, Đại học Đà Nẵng) về thái độ đối với quảng cáo ngành mỹ phẩm; nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Đào (2015) về chất lượng cảm nhận và quyết định mua hàng.
  • Nghiên cứu nước ngoài: Công trình của H. Hemanth Kumar (2014, Đại học Kumar) tại thị trường Tamilnadu và Kerala; nghiên cứu của Sheroog Alhedhaif (2016, Đại học Qassim KSA) về lòng trung thành thương hiệu mỹ phẩm tại Ả Rập Saudi; nghiên cứu của Tsiotsou và cộng sự (2006) về chất lượng cảm nhận và sự thỏa mãn tác động lên ý định mua hàng.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng các lý luận, tài liệu thu thập có sẵn để thiết kế bảng biểu so sánh, phân tích các nhóm biến quan sát.
  • Phương pháp định lượng: Quy mô mẫu xác định dựa trên cơ sở lý thuyết kiểm định của Hair và cộng sự (1998) (yêu cầu tối thiểu 100 - 150 mẫu), Bollen (1989) (tỷ lệ tối thiểu 5 quan sát cho một biến) và quan điểm của Gorsuch (tối thiểu 200 mẫu). Tác giả đã phát ra 350 phiếu khảo sát (kết hợp phát phiếu trực tiếp tại trường đại học, nơi thực tập và gửi biểu mẫu khảo sát trực tuyến). Sau khi loại bỏ 25 phiếu không hợp lệ, cỡ mẫu chính thức đưa vào xử lý dữ liệu là 325 mẫu.
  • Công cụ và kỹ thuật phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện:
    1. Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học và thói quen tiêu dùng.
    2. Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (điều kiện chấp nhận hệ số Alpha ≥ 0.6 và hệ số tương quan biến - tổng Corrected Item-Total Correlation ≥ 0.3 theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
    3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phương pháp trích Principal Components, phép xoay Varimax (yêu cầu KMO ≥ 0.5, kiểm định Bartlett có Sig < 0.05, Eigenvalue > 1, Factor Loading ≥ 0.5, tổng phương sai trích ≥ 50%).
    4. Phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính bội theo phương pháp Enter (kiểm định hệ số R bình phương hiệu chỉnh, kiểm định F trong ANOVA, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai VIF < 10, kiểm định t của các hệ số hồi quy).

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận được cấu trúc thành 5 chương với nội dung cụ thể trong văn bản như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự cạnh tranh và chênh lệch doanh số giữa các nhãn hàng mỹ phẩm tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả xác định rõ mục đích nghiên cứu là đo lường định lượng các nhân tố tác động đến thị hiếu và cung cấp cơ sở hoạch định chính sách cho doanh nghiệp; xác định phạm vi nghiên cứu từ tháng 04/2017 đến tháng 06/2017 tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; tóm lược quy trình nghiên cứu hai giai đoạn định tính - định lượng và bố cục toàn bộ khóa luận gồm 5 chương.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 tập trung làm rõ các định nghĩa nền tảng về thị hiếu, người tiêu dùng và phân định các nhóm mỹ phẩm. Điểm nhấn của chương là hệ thống hóa các nhóm nhân tố giả định tác động đến thị hiếu tiêu dùng, bao gồm: giới tính, độ tuổi; công việc/nghề nghiệp; thương hiệu sản phẩm; sản phẩm được ưa chuộng và tần suất sử dụng; mức độ hài lòng; xuất xứ; giá cả, địa điểm mua sắm cùng các yếu tố cá nhân. Tác giả cũng phân tích chi tiết công dụng của từng dòng mỹ phẩm chuyên biệt (kem lót, kem che khuyết điểm, kem nền, phấn phủ, phấn má, viền mặt, mascara, phấn mắt, bút kẻ mắt, xịt định hình...) và tổng thuật 6 công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để làm cơ sở xây dựng mô hình khảo sát.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu gồm 6 bước: Đặt vấn đề, xác định mục đích, nghiên cứu định tính dựa trên cơ sở lý thuyết, xây dựng mô hình và bảng hỏi, thu thập và tổng hợp số liệu khảo sát, điều chỉnh dữ liệu và xử lý định lượng trên phần mềm SPSS 20.0 (phân tích EFA, chạy mô hình hồi quy và đưa ra kết luận). Tác giả thiết kế hệ thống 12 thang đo thành phần với các mã biến quan sát tương ứng:

  • Thang đo mức độ thường xuyên sử dụng (C5): 5 mức độ.
  • Thang đo mỹ phẩm được dùng nhiều nhất (C6): 10 nhóm sản phẩm.
  • Thang đo phân khúc mỹ phẩm (C7): cao cấp, trung cấp, bình dân.
  • Thang đo mục đích mua (C8): dùng cho bản thân, kinh doanh, biếu tặng, khác.
  • Thang đo hãng mỹ phẩm được chọn lựa (C9): 20 thương hiệu (Nivea, Pond’s, Shiseido, Biore, Thefaceshop, Chanel, Ohui, Clinique...).
  • Thang đo mức độ hài lòng (C10): 5 mức đánh giá (rất hài lòng đến không thích lắm).
  • Thang đo xuất xứ ưa chuộng (C11): 5 nguồn gốc.
  • Thang đo lý do chọn loại mỹ phẩm (C12): 15 biến quan sát (C12.1 đến C12.15).
  • Thang đo địa điểm mua sắm (C13): 6 địa điểm.
  • Thang đo số tiền chi tiêu (C14): 6 mức ngân sách.
  • Thang đo tần suất thời gian mua sắm (C15): 9 mốc thời gian.
  • Thang đo yếu tố ảnh hưởng khi chọn một mỹ phẩm (C16): 20 biến quan sát (C16.1 đến C16.20).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 thể hiện kết quả phân tích số liệu từ 325 mẫu khảo sát thực tế, chia thành hai phần: thống kê mô tả và đánh giá thang đo bằng các kiểm định thống kê.

Về thống kê mô tả mẫu:

  • Giới tính: Nữ giới chiếm 78% (254 người), nam giới chiếm 22% (71 người).
  • Độ tuổi: Độ tuổi từ 20 đến 29 tuổi chiếm áp đảo với 87,7% (285 người); nhóm 16 - 19 tuổi chiếm 10,8% (35 người); nhóm 30 - 39 tuổi chỉ chiếm 1,5% (5 người).
  • Nghề nghiệp: Học sinh/sinh viên chiếm 90,8% (295 người); nhân viên văn phòng chiếm 9,2% (30 người).
  • Địa bàn phân bổ: Khảo sát thực hiện tại 18 quận/huyện, trong đó quận Bình Thạnh chiếm tỷ lệ cao nhất với 106 phiếu (chiếm 32,6% mẫu), các quận còn lại (Quận 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức, Bình Chánh, Bình Tân, Nhà Bè) dao động từ 2 đến dưới 40 mẫu.
  • Thói quen sử dụng và lựa chọn sản phẩm: Mức độ sử dụng mỹ phẩm ghi nhận thỉnh thoảng chiếm 29,2% (95 người); thường xuyên chiếm 25,2% (82 người); ít khi dùng chiếm 24,3% (88 người); bình thường chiếm 18,5% (60 người).
  • Danh mục sản phẩm được dùng nhiều nhất: Dầu gội, dầu xả chiếm 88% (286 người); sữa rửa mặt chiếm 78,15% (254 người); sữa tắm chiếm 72% (234 người); nước hoa/dầu thơm/phấn thơm chiếm 50,46% (164 người); kem chống nắng chiếm 41,23% (134 người); kem dưỡng da chiếm 28% (91 người); phấn trang điểm chiếm 13,85% (45 người); phấn mắt chiếm 4,92% (16 người); sản phẩm khác chiếm 1,54% (5 người).
  • Phân khúc và mục đích: Phân khúc trung cấp được chọn nhiều nhất với 56,6% (184 người); phân khúc bình dân chiếm 34,2% (111 người); cao cấp chiếm 16,9% (55 người). Mục đích mua sắm chủ yếu là phục vụ bản thân với 98,5% (318 người); biếu tặng chiếm 14,2% (46 người); kinh doanh chiếm 2,2% (7 người).
  • Đánh giá mức độ hài lòng: Hài lòng chiếm 42,5% (138 người); bình thường chiếm 26,2% (85 người); khá hài lòng chiếm 23,1% (75 người); rất hài lòng chiếm 8% (26 người); không thích lắm chiếm 0,3% (1 người).
  • Xuất xứ và nơi mua: Hàng sản xuất tại Việt Nam được 43,1% (140 người) chọn; nhập khẩu nước ngoài chiếm 38,8% (126 người); thương hiệu ngoại sản xuất/đóng gói tại Việt Nam chiếm 37,2% (121 người); hàng xách tay chiếm 25,8% (83 người). Địa điểm mua sắm tập trung tại siêu thị với 52,6% (171 người); cửa hàng bán nhiều loại mỹ phẩm chiếm 45,2% (147 người); cửa hàng chính hãng chiếm 36,6% (119 người); nhóm nhà thuốc/tạp hóa/online chiếm 26,7% (87 người).
  • Chi phí và tần suất mua: 50,5% (164 người) chi từ 100.000 đến 500.000 đồng/tháng; 20,6% (62 người) chi dưới 100.000 đồng/tháng; 18,2% (59 người) chi từ 500.000 đến 1.000.000 đồng/tháng; trên 1.000.000 đồng/tháng chiếm 10,8% (40 người). Về chu kỳ, 53,5% người tiêu dùng theo phương châm "hết thì mua"; 2 tháng/lần chiếm 10,2%; mua khi thấy sản phẩm phù hợp chiếm 10,2%; 1 tháng/lần chiếm 7,1%.
Tiêu chí thống kê mô tả Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất Nhóm chiếm tỷ lệ kế tiếp Nhóm chiếm tỷ lệ thấp
Giới tính Nữ: 78,0% (254 mẫu) Nam: 22,0% (71 mẫu) —
Độ tuổi 20 – 29 tuổi: 87,7% (285 mẫu) 16 – 19 tuổi: 10,8% (35 mẫu) 30 – 39 tuổi: 1,5% (5 mẫu)
Nghề nghiệp Học sinh/Sinh viên: 90,8% (295 mẫu) Nhân viên văn phòng: 9,2% (30 mẫu) —
Phân khúc mỹ phẩm Trung cấp: 56,6% (184 mẫu) Bình dân: 34,2% (111 mẫu) Cao cấp: 16,9% (55 mẫu)
Mục đích sử dụng Dùng cho bản thân: 98,5% (318 mẫu) Biếu tặng: 14,2% (46 mẫu) Bán/Kinh doanh: 2,2% (7 mẫu)
Ngân sách chi tiêu/tháng 100.000 – 500.000 đ: 50,5% (164 mẫu) < 100.000 đ: 20,6% (62 mẫu) > 1.000.000 đ: 10,8% (40 mẫu)
Địa điểm mua sắm Siêu thị: 52,6% (171 mẫu) Cửa hàng nhiều mỹ phẩm: 45,2% Cửa hàng chính hãng: 36,6%
Tần suất mua sắm Hết thì mua: 53,5% Mua định kỳ 2 tháng: 10,2% Định kỳ 6–12 tháng: 6,2%

Về đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha):

  • Thang đo Hãng mỹ phẩm: Lần 1 có hệ số Cronbach's Alpha = 0,376 (loại biến C9.20 do tương quan biến - tổng < 0,3); chạy lại lần 2 đạt Cronbach's Alpha = 0,723, các biến còn lại có tương quan biến tổng > 0,3, đạt độ tin cậy.
  • Thang đo Lý do chọn mỹ phẩm: Lần 1 có Cronbach's Alpha = 0,629 (loại biến C12.3 có tương quan biến - tổng < 0,3); lần 2 đạt Cronbach's Alpha = 0,711 (loại tiếp biến C12.4); lần 3 đạt Cronbach's Alpha = 0,723, các biến đều đạt yêu cầu đưa vào phân tích EFA.
  • Thang đo Yếu tố ảnh hưởng khi chọn một mỹ phẩm: Lần 1 đạt Cronbach's Alpha = 0,779 (loại biến C16.5); lần 2 đạt Cronbach's Alpha = 0,857 (loại tiếp biến C16.6); lần 3 đạt Cronbach's Alpha = 0,865, các biến thành phần đạt hệ số tương quan biến tổng > 0,3.

Về phân tích nhân tố khám phá (EFA):

  • EFA lần 1: Hệ số KMO = 0,820 (> 0,5); kiểm định Bartlett có giá trị Chi-Square = 3880,913 với 435 bậc tự do, Sig = 0,000 (< 0,05). Phương pháp Principal Components trích được 7 nhân tố từ 29 biến quan sát tại giá trị Eigenvalue = 1,157 (> 1), tổng phương sai trích đạt 78,395% (> 50%). Ma trận xoay Varimax loại biến C12.8 (không xuất hiện trọng số tải), biến C16.11 (chênh lệch trọng số tải giữa hai nhân tố < 0,3), và biến C12.15.
  • EFA lần 2: Hệ số KMO tăng lên 0,850 (> 0,5); kiểm định Bartlett đạt Chi-Square = 4990,913, 445 bậc tự do, Sig = 0,000 (< 0,05), xác nhận dữ liệu phù hợp để nhóm các biến quan sát.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Căn cứ mục lục và danh mục bảng biểu của văn bản, Chương 5 khái quát lại các phát hiện cốt lõi từ khảo sát thực tế và phân tích thống kê; đề xuất các định hướng quản trị tập trung vào yếu tố thương hiệu (mục 5.3); đồng thời chỉ rõ những giới hạn của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các kết quả định lượng cụ thể về hành vi và thị hiếu tiêu dùng mỹ phẩm tại đô thị lớn:

  • Nhận diện phân khúc khách hàng cốt lõi: Người tiêu dùng mỹ phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu thuộc độ tuổi 20 - 29 (87,7%), là nữ giới (78%) và học sinh/sinh viên (90,8%). Nhóm này ưu tiên phân khúc trung cấp (56,6%) và bình dân (34,2%), mức chi trả tập trung trong khoảng 100.000 đến 500.000 đồng/tháng (50,5%).
  • Cơ cấu tiêu dùng sản phẩm: Các sản phẩm chăm sóc vệ sinh cơ bản chiếm tỷ lệ áp đảo (dầu gội/xả 88%, sữa rửa mặt 78,15%, sữa tắm 72%), trong khi các sản phẩm trang điểm chuyên sâu (phấn mắt 4,92%, phấn trang điểm 13,85%) có tỷ lệ thấp hơn nhiều.
  • Xu hướng địa điểm và hành vi mua: Người tiêu dùng chuộng mua sắm tại các điểm bán có độ tin cậy cao như siêu thị (52,6%) và cửa hàng chuyên doanh (45,2%); hành vi mua mang tính chất phát sinh theo nhu cầu sử dụng thực tế ("hết thì mua" chiếm 53,5%).
  • Đóng góp về mặt phương pháp: Tác giả đã tiến hành lọc biến qua 3 vòng kiểm định Cronbach's Alpha và 2 lần xoay nhân tố EFA, loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu về độ phân biệt và độ tin cậy (như C9.20, C12.3, C12.4, C16.5, C16.6, C12.8, C16.11, C12.15), thiết lập được bộ dữ liệu nghiên cứu có hệ số KMO đạt 0,850 và tổng phương sai trích giải thích trên 78% biến thiên dữ liệu.
  • Về định hướng giải pháp: Tác giả nhấn mạnh vào việc củng cố yếu tố thương hiệu, cải tiến sản phẩm nội địa khi nhận thấy tỷ lệ tiêu thụ hàng nhập khẩu và hàng đóng gói theo thương hiệu nước ngoài vẫn chiếm ưu thế lớn trong tâm lý người tiêu dùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các giới hạn xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện nghiên cứu:

  • Tính đại diện của mẫu khảo sát: Cỡ mẫu 325 phiếu tập trung phần lớn vào học sinh/sinh viên (90,8%) tại các trường đại học và đồng nghiệp tại đơn vị thực tập của tác giả. Số lượng mẫu phân bổ không đồng đều giữa các khu vực địa lý, trong đó quận Bình Thạnh chiếm tới 106 mẫu (gần 1/3 mẫu khảo sát), khiến mức độ khái quát hóa cho toàn bộ các nhóm dân cư trưởng thành và các quận/huyện khác tại Thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế.
  • Giới hạn về cơ cấu nhân khẩu học: Mẫu khảo sát có tỷ lệ nam giới thấp (22%) và nhóm tuổi trên 30 tuổi chỉ chiếm 1,5%, chưa phản ánh đầy đủ thị hiếu của đối tượng khách hàng có thu nhập cao và ổn định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng phạm vi điều tra sang các nhóm đối tượng người đi làm, đa dạng hóa các quận huyện ngoại thành, và mở rộng phân tích chuyên sâu các mô hình hồi quy để lượng hóa chính xác mức độ tác động của từng nhân tố độc lập lên quyết định mua sắm mỹ phẩm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Marketing, Tài chính Doanh nghiệp: Cung cấp tài liệu mẫu về quy trình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, cách xây dựng thang đo Likert nhiều biến quan sát, và kỹ thuật làm sạch dữ liệu qua các bước kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA trên SPSS.
  • Người làm đề tài nghiên cứu thị trường mỹ phẩm: Có thể kế thừa hệ thống biến quan sát chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng khi chọn mỹ phẩm (thang đo C16) và thang đo lý do chọn mua (thang đo C12).
  • Doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm: Cung cấp các số liệu thống kê mô tả chân thực về thói quen chi tiêu, kênh mua sắm ưa chuộng và cơ cấu mặt hàng làm đẹp phổ biến của phân khúc khách hàng trẻ tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi thường gặp

1. Kích thước mẫu khảo sát thực tế của khóa luận là bao nhiêu và được thu thập bằng cách nào?
Tác giả đã phát ra 350 phiếu khảo sát thông qua hai hình thức: phát phiếu khảo sát trực tiếp (tại trường đại học và cơ quan thực tập) và khảo sát trực tuyến trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sàng lọc, 25 phiếu không hợp lệ bị loại bỏ, còn lại 325 mẫu hợp lệ được đưa vào xử lý dữ liệu trên SPSS 20.0.

2. Nhóm người tiêu dùng nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong mẫu nghiên cứu của đề tài?
Theo kết quả thống kê mô tả, nhóm người tiêu dùng chiếm tỷ lệ cao nhất là nữ giới (78%), độ tuổi từ 20 đến 29 tuổi (87,7%), nghề nghiệp là học sinh/sinh viên (90,8%), cư trú tập trung đông nhất tại quận Bình Thạnh (106 trên 325 mẫu).

3. Mặt hàng mỹ phẩm nào và phân khúc giá nào được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất?
Sản phẩm được sử dụng nhiều nhất là dầu gội/dầu xả (88%), sữa rửa mặt (78,15%) và sữa tắm (72%). Về phân khúc, mỹ phẩm trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,6%, kế đến là mỹ phẩm bình dân (34,2%), trong khi mỹ phẩm cao cấp chỉ chiếm 16,9%. Mức chi tiêu phổ biến nhất là từ 100.000 đến 500.000 đồng/tháng (50,5%).

4. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha của thang đo "Yếu tố ảnh hưởng khi chọn 1 mỹ phẩm" đạt bao nhiêu?
Thang đo này trải qua 3 lần phân tích. Lần 1 đạt hệ số Alpha = 0,779 (loại biến C16.5); lần 2 đạt Alpha = 0,857 (loại biến C16.6); lần 3 sau khi thanh lọc đạt hệ số tin cậy Alpha = 0,865, với toàn bộ các biến quan sát còn lại đều có hệ số tương quan biến - tổng đạt trên 0,3.

5. Trong phân tích EFA lần thứ nhất, những biến quan sát nào đã bị loại bỏ?
Trong lần xoay nhân tố EFA thứ nhất (trích được 7 nhân tố, phương sai trích 78,395%), có 3 biến bị loại gồm: biến C12.8 (không cho ra trọng số factor loading), biến C16.11 (chênh lệch trọng số tải giữa 2 nhân tố nhỏ hơn 0,3), và biến C12.15. Sau khi loại các biến này, phân tích EFA lần 2 đạt chỉ số KMO = 0,850 với Sig kiểm định Bartlett = 0,000.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Thảo Hiền đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và đo lường thực nghiệm thị hiếu tiêu dùng mỹ phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên quy mô 325 mẫu khảo sát xử lý qua SPSS, đề tài đã chỉ rõ đặc điểm hành vi của nhóm khách hàng trẻ, ưa chuộng sản phẩm chăm sóc cơ bản ở phân khúc trung cấp - bình dân qua kênh bán lẻ siêu thị và cửa hàng chuyên doanh. Toàn bộ các thang đo được kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá bài bản, tạo nền tảng dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chiến lược sản phẩm và phát triển thương hiệu mỹ phẩm trên thị trường đô thị.