Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tham vấn tâm lý là một lĩnh vực chuyên môn trợ giúp đang trên đà phát triển tại Việt Nam nhằm đáp ứng các đòi hỏi cấp bách về chăm sóc đời sống tinh thần trong xã hội hiện đại. Trong giáo dục đại học, hoạt động tham vấn đã được quy định là một nội dung học tập bắt buộc thuộc chương trình đào tạo cử nhân Công tác xã hội theo phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về mặt pháp lý và định hướng hoạt động, Văn bản số 9971/BGD & ĐT - HSSV ban hành ngày 28/10/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định tham vấn tâm lý là hoạt động "đáp ứng được một nhu cầu bức xúc về giải tỏa những vướng mắc trong tâm lý, tình cảm của học sinh sinh viên".

Đối với sinh viên nói chung, giai đoạn đại học đi liền với hàng loạt xáo trộn tâm lý: sống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, thích nghi với môi trường mới, áp lực thi cử, các rắc rối trong quan hệ bạn bè, thầy cô và tình yêu nam nữ. Đối với sinh viên ngành Sư phạm tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSP TP.HCM), những khó khăn này có tính chất đặc thù:

  • Phần lớn sinh viên chuyển từ các địa phương về đô thị lớn, chịu rào cản thích nghi về lối sống và phong tục tập quán.
  • Tâm lý lo âu trước áp lực tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp, mức lương ngành giáo dục còn thấp so với chi phí sinh hoạt đô thị ngày càng gia tăng.
  • Thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ năng ứng phó tâm lý: số liệu khảo sát thực tế ghi nhận 63,4% sinh viên sư phạm để cảm xúc ảnh hưởng tiêu cực đến học tập và công việc, 37% không biết kiềm chế cơn nóng giận và 56,4% không biết cách giải tỏa cảm xúc tiêu cực.

Sinh viên sư phạm là lực lượng nhà giáo tương lai, trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục thế hệ kế cận. Do đó, việc xác định thực trạng và giải pháp đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý cho nhóm đối tượng này là một nhiệm vụ cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên học ngành Sư phạm tại Trường ĐHSP TP.HCM, phân tích nguyên nhân nảy sinh nhu cầu và đề xuất các biện pháp tổ chức dịch vụ tham vấn tâm lý phù hợp trong nhà trường.

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Phần lớn sinh viên Sư phạm có nhu cầu tham vấn tâm lý ở mức độ cao.
  2. Có nhiều nguyên nhân làm nảy sinh nhu cầu tham vấn tâm lý ở sinh viên Sư phạm, nhưng tập trung chủ yếu ở các khó khăn trong học tập và các mối quan hệ.
  3. Trong việc thỏa mãn nhu cầu, đa số sinh viên muốn sử dụng dịch vụ tham vấn tâm lý tại trường với những chính sách hỗ trợ đặc biệt.
  4. Có sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên theo các đặc điểm nhân khẩu học nhất định về nhu cầu tham vấn tâm lý và các lĩnh vực cụ thể cần được tham vấn.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Phân tích, tổng hợp các tài liệu tham khảo làm cơ sở lý luận của đề tài.
  2. Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý, nguyên nhân làm nảy sinh nhu cầu, cùng nhu cầu về hình thức và biện pháp đáp ứng dịch vụ tham vấn tâm lý của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ngành Sư phạm.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên từ năm I đến năm IV thuộc 10 khoa đại diện cho bốn khối ngành: Tự nhiên (Toán - Tin, Vật lý), Xã hội (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý), Ngoại ngữ (Anh văn, Tiếng Trung), và Đặc thù (Mầm non, Tâm lý giáo dục, Quản lý giáo dục) của Trường ĐHSP TP.HCM.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn vào nhu cầu tham vấn tâm lý, không mở rộng sang các loại nhu cầu đời sống khác; khảo sát tập trung tại các khoa đào tạo sư phạm được chọn mẫu của Trường ĐHSP TP.HCM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Đề tài tổng hợp hệ thống khái niệm và khung lý thuyết từ các trường phái tâm lý học quốc tế và trong nước:

  • Khái niệm nhu cầu:

    • Quan điểm triết học Mác - Lênin và Tâm lý học Xô Viết: Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu của con người để tồn tại và phát triển. A.N. Leontiev phân tích nhu cầu với tư cách là điều kiện bên trong, là tiền đề của hoạt động và chỉ trở thành động cơ thúc đẩy khi gặp đối tượng thỏa mãn thông qua quy luật "hoạt động — nhu cầu — hoạt động". D.N. Uznadze phân chia nhu cầu thành cấp thấp (nhu cầu sống, sinh học) và cấp cao (đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ).
    • Quan điểm phương Tây: Thuyết thứ bậc nhu cầu 5 cấp của Abraham Maslow (nhu cầu sinh lý, an toàn, giao lưu tình cảm, được tôn trọng, tự hoàn thiện); lý thuyết nhân văn của Carl Rogers về hai nhu cầu cơ bản (thể hiện đầy đủ tiềm năng bản thân và nhu cầu được tôn trọng tích cực không điều kiện); bảng phân loại 20 nhu cầu của Henry Murray.
    • Quan điểm Tâm lý học Việt Nam: Tổng hòa các góc nhìn của Phạm Minh Hạc (nhu cầu là thuộc tính nhân cách), Nguyễn Quang Uẩn và Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên), định nghĩa nhu cầu là sự đòi hỏi của con người về một đối tượng cụ thể cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển, đóng vai trò động cơ định hướng hoạt động.
    • Đặc điểm của nhu cầu: Tính đối tượng, phương thức thỏa mãn thông qua hoạt động, tính ổn định, tính chu kỳ, bản chất xã hội - lịch sử và trạng thái ý chí - xúc cảm.
  • Khái niệm và bản chất của tham vấn tâm lý:

    • Khái niệm tổng hợp từ Carl Rogers, Gustad J.W, Blocher, Rogers Jenny, J. Mielke và Trần Thị Minh Đức: Tham vấn tâm lý là quá trình tương tác, tiếp xúc tâm lý chuyên nghiệp giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp) với thân chủ (người gặp khó khăn tâm lý), nhằm giúp thân chủ nhận thức rõ vấn đề, khơi dậy tiềm năng bản thân để tự tìm kiếm giải pháp và điều chỉnh hành vi thích ứng.
    • Chủ đề tham vấn tâm lý: Tham vấn cho người nhiễm HIV/AIDS; tham vấn cho nạn nhân bị bạo hành; tham vấn tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình; tham vấn trẻ em vi phạm pháp luật; tham vấn học đường.
    • Hình thức tham vấn: Phân loại thành tham vấn trực tiếp (cá nhân, nhóm, gia đình tại trường học, trung tâm, nơi làm việc) và tham vấn gián tiếp (qua thư từ, báo chí, phát thanh/đài truyền hình, điện thoại, internet/email).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành Tâm lý học:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng khung khái niệm, cơ sở lý luận về nhu cầu và hoạt động tham vấn tâm lý học đường.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chính): Thiết kế phiếu khảo sát đo lường mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý, các nội dung cụ thể trong từng lĩnh vực, nguyên nhân nảy sinh nhu cầu, cách thức ứng xử khi gặp khúc mắc và các nguyện vọng về tổ chức phòng tham vấn.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn bổ trợ sinh viên sư phạm nhằm làm rõ các nguyên nhân tâm lý chiều sâu, thái độ ứng phó và các đề xuất thực tế đối với dịch vụ hỗ trợ của nhà trường.
  4. Phương pháp thống kê toán học:
    • Ứng dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lý số liệu định lượng.
    • Các chỉ số và công cụ thống kê sử dụng: tính tần số ($N$), tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình ($\text{ĐTB}$), độ lệch chuẩn, và kiểm nghiệm phân tích phương sai (One-way ANOVA) với mức ý nghĩa $p \le 0.05$ (độ tin cậy 95%).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần Mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trên cả bình diện lý luận và thực tiễn giáo dục sư phạm; xác định mục đích, 4 giả thuyết khoa học, 2 nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, khách thể nghiên cứu (sinh viên năm I đến năm IV thuộc 10 khoa đại diện 4 khối tại Trường ĐHSP TP.HCM), cùng hệ thống phương pháp nghiên cứu lý luận, thực tiễn và thống kê toán học.

Chương I: Cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Chương I tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề và xây dựng cơ sở lý luận hoàn chỉnh:

  • Lược khảo lịch sử nghiên cứu quốc tế: Trình bày các công trình về nhu cầu từ phân tâm học (S. Freud), thuyết hành vi (B. Miller), thuyết xung năng (C. Hull), tâm lý học nhân văn (A. Maslow, C. Rogers) đến tâm lý học Xô Viết (L.S. Vygotsky, A.N. Leontiev, S.L. Rubinstein); tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả tham vấn học đường đối với việc cải thiện điểm đọc sách (Hadley, 1988), phát triển học sinh (Borders & Drury, 1992), giảm vi phạm kỷ luật (Baker & Gerler), cải thiện kết quả học tập và cảm xúc đạt tỷ lệ 83% (Boutwell & Myrick, 1992), hỗ trợ trẻ em ly hôn (Michael Gutzwiller) và sinh viên tài năng (Olenchak & Reis).
  • Lược khảo lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam: Điểm qua các công trình tham vấn trên các nhóm khách thể: người lao động (Nguyễn Thị Tâm), giáo dục phạm nhân vị thành niên (Đặng Thanh Nga), kỹ năng hỏi của cán bộ xã hội (Bùi Thị Xuân Mai), kỹ năng tham vấn viên (Võ Thị Tường Vy), phối hợp tham vấn học đường (Ngô Thị Mỹ Duyên & Võ Thị Tường Vy), nhu cầu tham vấn học sinh THPT (Lê Nguyễn Như Anh, Nguyễn Thị Trúc), giới tính (Ngô Đình Qua & Nguyễn Thượng Chi), trường giáo dưỡng (Đỗ Ngọc Khanh, Lê Thu Trang), trẻ mồ côi Đà Nẵng, nữ công nhân KCN Biên Hòa (Trịnh Thị Minh Dung), công nhân KCX Tân Thuận (Phùng Thị Hương Nga: 93% cần mở phòng tham vấn), giáo viên mầm non (Nguyễn Xuân Hùng: 94,1% có nhu cầu), sinh viên năm nhất ĐHSP TP.HCM (Kiều Thị Thanh Trà: 71,5% rất mong muốn, 28,5% mong muốn tham vấn học tập), sinh viên ĐH Quy Nhơn (Đỗ Tất Nhiên: 96,9% khẳng định cần thiết), ĐHSP Huế (Nguyễn Văn Bắc), CĐSP TP.HCM (Nguyễn Việt Bắc). Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu sâu trên sinh viên khối trường sư phạm trọng điểm phía Nam.
  • Xây dựng hệ thống khái niệm: Định nghĩa chuẩn xác về nhu cầu, các đặc điểm bản chất và phân loại nhu cầu; định nghĩa tham vấn tâm lý, phân tích các chủ đề tham vấn xã hội và 9 mảng nội dung tham vấn của sinh viên sư phạm; phân loại hình thức tham vấn trực tiếp và gián tiếp.

Chương II: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ngành Sư phạm

Chương II trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực nghiệm và phân tích dữ liệu thống kê qua các nhóm nội dung:

  • Thực trạng mức độ nhu cầu tham vấn: Phân tích điểm trung bình nhu cầu chung của sinh viên sư phạm; so sánh mức độ nhu cầu theo các biến nhân khẩu học: giới tính (nam, nữ), vùng miền (thành thị, nông thôn), năm học (năm I, II, III, IV), và ngành học/khối khoa (Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ, Đặc thù).
  • Mức độ nhu cầu và nguyên nhân nảy sinh theo 9 lĩnh vực cụ thể:
    1. Lĩnh vực giao tiếp: Đánh giá các khó khăn trong thiết lập mối quan hệ với giảng viên, bạn bè và học sinh phổ thông.
    2. Lĩnh vực học tập, tác phong, kỹ năng và nghiệp vụ sư phạm (NVSP): Khó khăn về phương pháp học tín chỉ, rèn luyện kỹ năng đứng lớp, kỹ năng thuyết trình và tác phong sư phạm.
    3. Lĩnh vực nghề nghiệp: Mức độ lo âu về cơ hội xin việc sau khi tốt nghiệp, chuẩn bị hồ sơ tuyển dụng và định hướng vị trí công tác.
    4. Lĩnh vực xúc cảm - tình cảm: Sự bất an, stress, tình yêu đôi lứa và khả năng quản trị các cảm xúc tiêu cực.
    5. Lĩnh vực tài chính: Khó khăn về trang trải sinh hoạt phí, tiền trọ và làm thêm.
    6. Lĩnh vực quản lý thời gian: Sự lúng túng trong cân bằng giữa việc học trên lớp, hoạt động Đoàn - Hội và làm thêm.
    7. Lĩnh vực tự nhận thức bản thân: Nhu cầu thấu hiểu điểm mạnh, điểm yếu, tính cách và giá trị cá nhân.
    8. Lĩnh vực an toàn: Lo ngại về an ninh trật tự nơi cư trú, phòng tránh tệ nạn xã hội và lừa đảo.
    9. Lĩnh vực giới tính và sức khỏe sinh sản: Nhu cầu hiểu biết về tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản và quan hệ khác giới.
  • Cách thức ứng xử của sinh viên khi gặp vấn đề: Khảo sát các hành vi ứng phó thực tế (tự giải quyết, chia sẻ với bạn bè/người thân, tìm kiếm dịch vụ tâm lý chuyên nghiệp hoặc kìm nén/buông xuôi).
  • Nguyện vọng về mô hình phòng tham vấn học đường:
    • Nhu cầu về hình thức tham vấn (ưu tiên trực tiếp cá nhân, trực tuyến hay điện thoại).
    • Vị trí đặt phòng tham vấn tâm lý tại khuôn viên nhà trường.
    • Tiêu chuẩn đối với chuyên viên tham vấn (trình độ, giới tính, độ tuổi, thái độ).
    • Khung thời gian làm việc phù hợp của phòng tham vấn.
    • Quan điểm về chi phí và đề xuất mức phí dịch vụ tham vấn tâm lý.
    • Các kiến nghị cụ thể của sinh viên đối với Ban Giám hiệu nhà trường.

Kết luận và kiến nghị

  • Kết luận: Khái quát kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, xác nhận mức độ kiểm chứng của 4 giả thuyết khoa học đã đặt ra.
  • Kiến nghị: Đề xuất lộ trình thành lập và vận hành phòng tham vấn tâm lý chuyên trách tại Trường ĐHSP TP.HCM; kiến nghị giải pháp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ cố vấn học tập, giảng viên chủ nhiệm và ban quản lý ký túc xá.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Dựa trên hệ thống phân tích định lượng và bảng số liệu của khóa luận, kết quả nghiên cứu chỉ ra:

  1. Khẳng định tính phổ biến của nhu cầu tham vấn: Đa số sinh viên ngành Sư phạm tại Trường ĐHSP TP.HCM đều có nhu cầu tham vấn tâm lý. Nhu cầu này phân bổ trên toàn bộ 9 lĩnh vực hoạt động và đời sống của sinh viên.
STT Lĩnh vực tham vấn tâm lý được khảo sát Biến số so sánh phân tích (SPSS)
1 Giao tiếp ứng xử Giới tính (Nam / Nữ)
2 Học tập, tác phong, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm Vùng miền xuất thân
3 Nghề nghiệp và việc làm tương lai Năm học (Năm I, II, III, IV)
4 Xúc cảm — Tình cảm Khối ngành (Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ, Đặc thù)
5 Vấn đề tài chính — Kinh tế Các nhóm nguyên nhân chủ quan / khách quan
6 Quản lý thời gian Hành vi ứng xử thực tế khi nảy sinh khúc mắc
7 Tự nhận thức (tự ý thức) về bản thân Hình thức tham vấn mong muốn (Trực tiếp / Gián tiếp)
8 An toàn cá nhân và an ninh xã hội Địa điểm, thời gian, chuyên viên và mức phí đề xuất
9 Giới tính và sức khỏe sinh sản Đề xuất giải pháp đối với nhà trường
  1. Xác định các lĩnh vực ưu tiên và nguyên nhân cốt lõi:

    • Nhu cầu tham vấn tập trung cao nhất ở lĩnh vực Học tập, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm, Nghề nghiệp tương lai và Xúc cảm - Tình cảm.
    • Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương pháp học tập đại học chưa phù hợp, áp lực từ kỳ thi nghiệp vụ, nỗi trăn trở về cơ hội việc làm ngành sư phạm và sự thiếu hụt kỹ năng quản lý cảm xúc khi sống xa gia đình.
  2. Nguyện vọng xây dựng dịch vụ tham vấn tại trường:

    • Đa số sinh viên mong muốn nhà trường thành lập phòng tham vấn tâm lý chính quy đặt tại vị trí thuận tiện, đảm bảo tính riêng tư và bảo mật thông tin.
    • Sinh viên ưu tiên hình thức tham vấn trực tiếp cá nhân kết hợp các kênh gián tiếp (trực tuyến, điện thoại), mong muốn được hỗ trợ với mức phí ưu đãi hoặc miễn phí.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với Ban Giám hiệu Trường ĐHSP TP.HCM: Sớm thành lập Phòng Tham vấn Tâm lý học đường chuyên trách; ban hành quy chế hoạt động, bố trí chuyên viên có bằng cấp chuyên môn và đảm bảo cơ sở vật chất bảo mật, an toàn.
  • Đối với các Khoa và Đoàn - Hội: Tổ chức thường xuyên các chuyên đề rèn luyện kỹ năng mềm, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng quản lý thời gian và hoạt động hướng nghiệp, thông tin thị trường lao động giáo dục cho sinh viên các năm cuối.
  • Đối với đội ngũ cố vấn học tập và giảng viên: Tăng cường lắng nghe, kịp thời phát hiện sinh viên có dấu hiệu khủng hoảng tâm lý để chuyển giao hỗ trợ chuyên môn.

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Bổ sung và hệ thống hóa khung lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên đại học khối ngành Sư phạm tại Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết, có giá trị khoa học về thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM, làm căn cứ thực tế để các nhà quản lý giáo dục đưa ra quyết định thành lập mô hình tham vấn học đường trong các trường sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát mới thực hiện trên sinh viên hệ chính quy của một số khoa thuộc Trường ĐHSP TP.HCM, chưa bao quát toàn bộ sinh viên tất cả các khoa cũng như các hệ đào tạo khác trong trường.
    • Nghiên cứu tập trung vào sinh viên tại một trường đại học trên địa bàn TP.HCM, chưa so sánh đối chiếu với sinh viên các trường đại học sư phạm ở các vùng miền khác trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát trên quy mô toàn bộ các trường đại học sư phạm trên phạm vi toàn quốc để có bức tranh so sánh liên vùng.
    • Đi sâu thử nghiệm và đánh giá hiệu quả thực tế của một mô hình can thiệp/phòng tham vấn tâm lý học đường cụ thể dành cho sinh viên sư phạm.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội: Tham khảo cấu trúc thiết kế một đề tài nghiên cứu thực trạng tâm lý học ứng dụng, cách xây dựng bảng hỏi điều tra và quy trình xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
  • Nhà quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu các trường Đại học, Cao đẳng: Tham khảo cơ sở thực tiễn và các căn cứ khoa học để hoạch định chính sách hỗ trợ sinh viên, thiết lập mô hình phòng tham vấn tâm lý học đường.
  • Chuyên viên tham vấn và giảng viên cố vấn học tập: Sử dụng dữ liệu về 9 lĩnh vực và các nguyên nhân nảy sinh vướng mắc để xây dựng chương trình tư vấn, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng ứng phó cảm xúc cho sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên Sư phạm trên những lĩnh vực cụ thể nào?

Khóa luận tiến hành khảo sát trên 9 lĩnh vực cụ thể gồm: (1) Giao tiếp; (2) Học tập, tác phong, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm; (3) Nghề nghiệp; (4) Xúc cảm — Tình cảm; (5) Vấn đề liên quan đến tài chính; (6) Quản lý thời gian; (7) Tự nhận thức (tự ý thức) về bản thân; (8) Vấn đề an toàn; (9) Vấn đề về giới tính.

2. Văn bản quản lý nhà nước nào được tác giả sử dụng làm căn cứ pháp lý cho sự cần thiết của tham vấn học đường?

Tác giả viện dẫn Văn bản số 9971/BGD & ĐT - HSSV do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 28/10/2005, trong đó khẳng định hoạt động tham vấn tâm lý đã "đáp ứng được một nhu cầu bức xúc về giải tỏa những vướng mắc trong tâm lý, tình cảm của học sinh sinh viên".

3. Phương pháp xử lý dữ liệu thống kê nào được sử dụng để phân tích kết quả nghiên cứu?

Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lý dữ liệu toán học thống kê dành cho ngành Tâm lý giáo dục và Xã hội học, bao gồm: tính tần số, tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình (ĐTB), và thực hiện kiểm nghiệm phân tích phương sai One-way ANOVA với mức ý nghĩa $p \le 0.05$ (hệ số tin cậy 95%).

4. Khách thể nghiên cứu của khóa luận được phân bổ như thế nào?

Khách thể nghiên cứu là sinh viên từ năm I đến năm IV thuộc 10 khoa đại diện cho bốn khối đào tạo của Trường ĐHSP TP.HCM:

  • Khối Tự nhiên: Khoa Toán - Tin, Vật lý.
  • Khối Xã hội: Khoa Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý.
  • Khối Ngoại ngữ: Khoa Anh văn, Tiếng Trung.
  • Khối Đặc thù: Khoa Giáo dục Mầm non, Tâm lý giáo dục, Quản lý giáo dục.

5. Những khó khăn tâm lý đặc thù nào của sinh viên ngành Sư phạm được tác giả chỉ ra trong phần mở đầu?

Sinh viên sư phạm chịu áp lực lớn về cơ hội việc làm sau tốt nghiệp khi nhu cầu tuyển dụng hạn chế và mức lương khởi điểm thấp; rào cản thích nghi văn hóa đô thị do phần lớn sinh viên đến từ các tỉnh; và sự thiếu hụt các kỹ năng kiểm soát cảm xúc (với 63,4% sinh viên để cảm xúc ảnh hưởng tiêu cực đến học tập/công việc, 37% không kiềm chế được nóng giận và 56,4% không biết cách giải tỏa cảm xúc tiêu cực).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hiền Dương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nhu cầu và hoạt động tham vấn tâm lý học đường, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý ở mức cao của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM qua 9 lĩnh vực đời sống và học tập. Kết quả phân tích định lượng xác nhận các khó khăn trọng tâm của sinh viên sư phạm tập trung vào nghiệp vụ học tập, định hướng nghề nghiệp tương lai và điều chỉnh xúc cảm cá nhân. Nghiên cứu là nguồn tài liệu thực chứng quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học để nhà trường triển khai mô hình phòng tham vấn tâm lý chuyên trách nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và chăm sóc sức khỏe tinh thần cho sinh viên sư phạm.