Đặt vấn đề Bệnh tiểu đường trên chó đã được mô tả trong y tế thú y lần đầu tiên trên thế giới cách đây hơn 150 năm (1861) dưới dạng bệnh cảnh tiểu đường type 1, các bác sĩ thú y chẩn đoán bệnh bằng cách nếm nước tiểu của chó bệnh và phát hiện vị ngọt trong nước tiểu. Từ đó, các nhà khoa học đã đặt ra nhiều nghi vấn về nguyên nhân của căn bệnh. Cho đến năm 1893, Minkowski và Mirning đã tiến hành thí nghiệm cắt bỏ tuyến tụy của chó, tiếp tục theo dõi lâm sàng; tác giả đã khẳng định tiểu đường trên chó có liên quan đến tuyến tụy. Thời kỳ này cũng được mệnh danh là thời kỳ “kỷ nguyên khám phá insulin”.
Năm 1921, Banting và Best đã chiết xuất thành công insulin và được ứng dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh tiểu đường trên nhân y và thú y (Minkowski, 1929). Từ những cơ sở trên kết hợp với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật công nghệ, các nhà nghiên cứu thú y đã kết luận rằng bệnh tiểu đường trên chó là một nhóm bệnh nội tiết. Nguyên nhân của bệnh là do thiếu hụt insulin nhiều hoặc ít thường đi kèm với tăng đề kháng insulin ở các mức độ khác nhau làm tăng đường huyết, tăng đường niệu gây nhiều biến chứng cấp và mãn tính (Catchpole et al., 2008; Watson, 2010; David, 2011) và làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con thú, sức khỏe, tinh thần cũng như kinh tế gia đình của người nuôi. Tiểu đường trên chó là một bệnh lý thường gặp nhất trong các bệnh rối loạn chuyển hóa và gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây nhất là ở những quốc gia có nền công nghiệp đang phát triển (Louis, 2012).
Cần Thơ là thành phố lớn của Miền Tây Nam bộ - trực thuộc Trung ương đang phát triển đổi mới và đô thị hóa. Đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu nuôi thú cưng giải trí cũng tăng theo và chó là loài động vật được lựa chọn hàng đầu vì chúng có thính và khứu giác nhanh nhẹn, tinh khôn và nhất là tính trung thành cao. Nếu trước đây người ta nuôi chó để giữ nhà, bắt chuột thì ngày nay người xem chó như là thành viên trong gia đình, chúng làm bạn với người già neo đơn, với trẻ em hoặc chúng được huấn luyện trở thành chiến sĩ thực hiện các vai trò nghiệp vụ. Ngoài ra, người ta còn nuôi chó để làm thú cảnh để kinh doanh và thể hiện đẳng cấp, phần lớn những giống chó này được du nhập từ nước ngoài có ngoại hình và bộ lông đẹp mắt.
Từ đó, số lượng và chủng loại chó ở Cần Thơ gia tăng đáng kể. Thực tế, tổng đàn chó của Cần Thơ từ 36.467 con trong năm 2013 tăng lên 42. Song song với sự gia tăng đó thì tình hình bệnh tật của chúng cũng có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là căn bệnh tiểu đường trên đàn chó nuôi. Việc quản lý cũng như phát hiện sớm và điều trị sớm bệnh tiểu đường trên chó có vai trò đặc biệt quan trọng trong dự phòng các biến chứng nặng nề là một việc làm hết sức cần thiết trong công tác thú y hiện nay.
Tuy nhiên chưa có môt nghiên cứu nào để đánh giá tần suất lưu hành, các yếu tố nguy cơ, các tác hại của bệnh và những phác đồ điều trị phù hợp cho bệnh tiểu đường trên quần thể chó ở thành phố Cần Thơ. Với mong muốn thông qua nghiên cứu này, sẽ có chiến lược tư vấn về bảo vệ sức khỏe cho đàn chó nuôi nhằm giúp giảm thiểu số chó có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường để từng bước giảm thiểu các biến chứng, giúp người nuôi hiểu rõ hơn về căn bệnh này, góp phần giảm bớt “gánh nặng bệnh tật” do hậu quả của bệnh tiểu đường trên chó gây ra cho người chăn nuôi. Từ đó, đề tài: “Bệnh tiểu đường trên chó tại các quận huyện thành phố cần Thơ” được tiến hành.2 Mục tiêu chung của đề tài Xây dựng thang chuẩn nồng độ glucose, HbA1c (glycohemoglobin), insulin trong máu chó, xác định tần suất lưu hành, đánh giá mức độ biến chứng cũng như hiệu quả kiểm soát đường huyết bệnh tiểu đường trên đàn chó được nuôi dưỡng tại Thành phố Cần Thơ.3 Ý nghĩa khoa học của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu đầu tiên ở Việt Nam về bệnh tiểu đường trên chó, từ đó hỗ trợ tích cực cho các nhà thú y trong công tác chẩn đoán, tiên lượng và điều trị, đồng thời làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu sau.4 Điểm mới của luận án Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách cơ bản có hệ thống bệnh tiểu đường trên chó đang được nuôi rộng rãi ở thành phố Cần Thơ. Từ đó, xây dựng được thang chuẩn glucose, HbA1c, insulin trong máu chó, xác định các triệu chứng lâm sàng, phân loại, xác định các biến chứng và chọn phác đồ phù hợp điều trị chó bệnh tiểu đường.
2 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm bệnh tiểu đường Bệnh tiểu đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện là tăng đường huyết mãn tính do hậu quả của việc thiếu hụt hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và trong quá trình hoạt động của insulin (WHO, 1999). Theo AAHA (2010), bệnh tiểu đường trên chó là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng đường huyết, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng đường huyết mãn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Bệnh tiểu đường là một rối loạn mãn tính của quá trình chuyển hóa carbohydrate do thiếu insulin tương đối hoặc tuyệt đối.
Hầu hết các trường hợp tự phát bệnh tiểu đường xảy ra ở chó trung niên và lớn tuổi. Tỷ lệ chó cái mắc bệnh tiểu đường cao gấp đôi chó đực và bệnh xảy ra trên tất cả các giống chó nhưng xảy ra thường hơn trên một số giống chó nhỏ con như: Poodles Miniature, Dachshunds, Schnauzers và Cairn Terrier (The Merck, 2010).2 Lịch sử bệnh tiểu đường trên chó Tiểu đường tự phát trên chó đã được mô tả sớm nhất vào năm 1861. Trong năm này có hai báo cáo, một là báo cáo của Leblanc (1861), tác giả phát hiện 1 chó 15 tuổi, giống Petit Griffon; một báo cáo khác của Thiernesse (1861), tác giả báo cáo một con chó giống Sighthound, 6 năm tuổi bị bệnh tiểu đường. Trong giai đoạn này, để chẩn đoán được bệnh tiểu đường trên chó, bác sĩ thú y đã nếm thử nước tiểu của con chó bệnh tiểu đường và phát hiện vị ngọt.
Khoảng hơn 30 năm sau, vào năm 1892, Frohner đã báo cáo có 5 trường hợp chó mắc bệnh tiểu đường, tác giả đã ước tính tần số chó mắc bệnh tiểu đường là 1:10.000 con chó trong bệnh viện thú y của tác giả (Fall, 2009). Một năm sau đó, vào năm1893, hai tác giả Minkowski và Mering đã thực hiện thí nghiệm bằng cách hủy bỏ tuyến tụy của con chó và theo dõi các biểu hiện lâm sàng của chúng. Kết quả là cả 2 tác giả đều phát hiện ra rằng tuyến tụy có liên quan đến bệnh tiểu đường và lúc này được mệnh danh là thời kỳ “kỷ nguyên khám phá insulin”. Thừa kế thành tựu khoa học trên, vào năm 1921, Banting 3 và Best đã chiết xuất thành công insulin và được ứng dụng rộng rãi trong công tác điều trị bệnh tiểu đường trong nhân y và thú y (Minkowski, 1929).
Một khoảng thời gian dài không thấy xuất hiện những báo cáo về bệnh tiểu đường trên chó. Mãi cho đến năm 1960 thì Krook (1960) và Wilkinson (1960) đã báo cáo về bệnh tiểu đường trên chó có nguồn gốc từ Vương Quốc Anh và Thụy Điển, cả 2 tác giả cho rằng tiểu đường xảy ra chủ yếu ở chó lớn tuổi và chó cái mắc bệnh tiểu đường gấp 3 lần chó đực. Campbell (1958) và Wilkinson (1960) cũng kết luận phần lớn chó cái có đường huyết tăng cao trong thời kỳ động dục, tác giả đề nghị thiến chó cái là biện pháp hữu hiệu giảm tỷ lệ bệnh tiểu đường trên chó cái. Trong một nghiên cứu khác của Wilkinson (1960), tác giả xác định có năm giống chó mắc bệnh tiểu đường với tỷ lệ cao bao gồm Dachshund, Spaniel, Poodle, Fox Terrier và Cairn Terrier.
Tuy nhiên, vào năm 1975, Foster đã báo cáo với một kết quả đối lập, tác giả cho rằng tỷ lệ bệnh tiểu đường trên chó hầu như không phụ thuộc vào giới tính. Đây cũng là một vấn đề để chúng ta cần nghiên cứu và thảo luận. Một mốc lịch sử quan trọng trong bệnh lý tiểu đường trên chó là sự khám phá hormone progesterone gây tăng trưởng tuyến vú có liên quan đến bệnh tiểu đường; khám phá này do Eigenmann (1983) và Selman (1994) công bố. Kéo dài suốt một thập niên, bệnh tiểu đường trên chó được nhiều nhà khoa học quan tâm hơn về nguyên nhân gây bệnh.
Vì thế, có khá nhiều nghiên cứu được công bố chủ yếu tập trung vào tự kháng thể DLA và công nghệ gen (Kennedy, 2006; Short, 2007; Davison, 2008; Short, 2012).3 Sinh lý bệnh tiểu đường 2.1 Sự hấp thu và chuyển hóa glucose Glucose là nguồn cung cấp năng lượng cho các mô để duy trì sự sống trên động vật. Cơ thể hấp thụ glucose theo 2 con đường, hấp thu trực tiếp từ nguồn thức ăn được ăn vào và hấp thu gián tiếp từ các acid amin thông qua quá trình tân tạo glucose. Lượng glucose được tiêu thụ hàng ngày chủ yếu cung cấp cho các hoạt động của não bộ (75%) thông qua con đường hiếu khí. Phần còn lại (25%) cung cấp cho các hoạt động của hồng cầu, cơ xương và cơ tim.
Khi lượng glucose trong máu tăng lên thì nó được tích lũy ở gan dưới dạng glycogen và là chất dự trữ chính của đường trong máu, một phần dự trữ trong cơ, một phần trong thận và ruột, glycogen ở cơ gấp 2 lần ở thận. Khi cơ 4 thể mệt mỏi, dấu hiệu của sự thiếu glucose, thì glycogen sẽ bị phân giải (Wood and Trayhurn, 2003). Sự hấp thu của glucose và galactose ở ruột non: Từ lòng ruột, glucose và galactose được vận chuyển qua diềm bàn chải vào tế bào biểu mô theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Protein mang sẽ gắn một với glucose và một với ion Na+.
Chỉ khi cả glucose và ion Na+ đã được gắn vào protein mang thì protein này mới thay đổi hình dạng để đưa cả Na+ và glucose này vào bên trong tế bào biểu mô ruột.