ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động. Theo thời gian, sự gia tăng tuổi tác cùng với quá trình lão hóa, suy giảm chức năng và hoạt động của các hệ cơ quan khác thì chức năng dinh dưỡng này cũng bắt đầu thay đổi [27], [57]. Lão hóa tác động đến toàn bộ hệ thống tiêu hóa ở người cao tuổi. Khi tuổi càng cao niêm mạc miệng ngày càng mỏng đi, số lượng thần kinh vị giác trên lưỡi cũng mất dần, kèm theo đó là giảm tiết dịch vị của dạ dày và lượng men tiêu hóa ở gan góp phần làm ảnh hưởng lên quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn [43].
Bên cạnh sự suy giảm chức năng, hoạt động của các hệ cơ quan thì người cao tuổi thường hay mắc các bệnh mãn tính [22]. Một chế độ dinh dưỡng tốt bao gồm cung cấp đầy đủ năng lượng, protein, vitamin, khoáng chất, chất xơ và nước là cần thiết cho người cao tuổi, làm giảm được nguy cơ mắc các bệnh mãn tính liên quan đến quá trình lão hóa như bệnh tim mạch, loãng xương và tiểu đường [41]. Già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê năm 2010 cho thấy tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10,0% tổng dân số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017. Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập kỷ nữa dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng từ 35,5 năm 2009 lên hơn 100 vào năm 2032 [16].
Mặc dù vấn đề dinh dưỡng đối với người cao tuổi là hết sức cần thiết nhưng ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, theo kết quả của một số 2 nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi ở một số tỉnh thành gần đây cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi vẫn chiếm tỉ lệ cao: 24,2% tại An Giang (2009), 27,5% tại Bến Tre (2011) và Nam Định (2012) là 25,7%, cùng song hành với tình trạng suy dinh dưỡng thì tình trạng thừa cân - béo phì ở người cao tuổi cũng tăng cao một cách đáng ngại, theo các nghiên cứu trên thì tỉ lệ thừa cân - béo phì tương ứng là 14,4%, 28,0% và 9,2% [19], [21], [25]. Điều kiện kinh tế hộ gia đình người cao tuổi nước ta còn khó khăn, theo thống kê năm 2008 khoảng 43% người cao tuổi nước ta vẫn đang làm việc với các công việc khác nhau, nhưng đa số vẫn trong lĩnh vực nông nghiệp với mức thu nhập còn thấp và bấp bênh. Đời sống gia đình, đời sống tinh thần và văn hóa của người cao tuổi thay đổi nhanh chóng. Tỉ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh, trong khi tỉ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồng người cao tuổi tăng lên đáng kể.
Có thể chính những yếu tố trên đây đã tác động đến tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi [16]. Xuất phát từ những vấn đề trên nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015” với những mục tiêu sau: 1. Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm về ngƣời cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi (NCT). Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [10]. Về mặt pháp luật: Luật người cao tuổi Việt Nam do Quốc Hội thông qua ngày 23/11/2009 đã nêu rõ: “Người cao tuổi là tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [23]. Khái niệm về tình trạng dinh dƣỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng [30].DÂN SỐ NGƢỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Theo số liệu của Quỹ dân số Liên hợp quốc năm 1980, số người từ độ tuổi 60 trở lên trên thế giới là 378 triệu. Sau 30 năm, con số này đã tăng lên gấp đôi (759 triệu) và ước tính đến năm 2050 con số này là 2 tỷ người.
4 Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi, cứ 100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới. Cứ 100 phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 nam giới [24]. Tại Việt Nam Dự báo dân số của Tổng cục Thống kê năm 2010 cho thấy tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 2017 (Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy tỉ lệ dân số cao tuổi ở Việt Nam là 9%.), tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017. Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập kỷ nữa dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng từ 35,5 năm 2009 lên hơn 100 vào năm 2032 [16].
Chỉ số giới tính ngƣời cao tuổi tại Việt Nam Nhóm tuổi 60-69 70 -79 ≥ 80 Số cụ bà so với 100 cụ ông 131 149 200 Chỉ số giới tính ở NCT Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như các quốc gia khác trên thế giới cụ thể là chỉ số giới tính nghiêng về nữ giới khi độ tuổi ngày càng cao (Bảng 1. Nguyên nhân có thể lý giải cho xu hướng này là nam giới cao tuổi thường có tỉ suất chết cao hơn nữ giới cao tuổi ở cùng nhóm tuổi [16]. ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG Ở NGƢỜI CAO TUỔI 1. Phân loại tình trạng dinh dƣỡng theo Tổ chức Y tế Thế giới Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương nông của Liên hợp quốc (FAO) đều khuyến nghị dùng Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index = BMI) để đánh giá TTDD ở người trưởng thành [30].
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một chỉ số đơn giản thể hiện cân nặng theo chiều 5 cao thường được sử dụng để phân loại tình trạng suy dinh dưỡng (SDD), thừa cân (TC) và béo phì (BP) ở người trưởng thành. BMI của một người được tính bằng trọng lượng tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét (kg/m2). Ví dụ, một người lớn nặng 70 kg và có chiều cao là 1,75 mét sẽ có chỉ số BMI là 22,9 [55]. Phân loại tình trạng dinh dƣỡng theo Tổ chức Y tế Thế giới.
Phân loại Khoảng BMI Độ I <16 Suy dinh dưỡng Độ II 16- 16,99 Độ III 17- 18,49 Bình thường 18,5 - 24,99 Thừa cân 25- 25,99 Độ I 30- 34,99 Béo phì Độ II 35- 39,99 Độ III ≥40 1. Phân loại tình trạng dinh dƣỡng theo cơ quan của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dƣơng (WPRO - WHO) Một số chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới xem xét các bằng chứng khoa học cho thấy rằng các nước châu Á có nhiều nguy cơ về sức khỏe hơn so với người châu Âu khi cùng chỉ số khối cơ thể. Tỉ lệ người dân châu Á có nguy cơ cao đối với bệnh tiểu đường type 2 và bệnh tim mạch là đáng kể ở chỉ số khối cơ thể thấp hơn 25 kg/m2 tức là chưa bị thừa cân theo thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới [56]. Do đó đã đề nghị thang phân loại sau: 6 Bảng 1.
Phân loại tình trạng dinh dƣỡng dành cho ngƣời châu Á Phân loại Khoảng BMI Độ I <16 Suy dinh dưỡng Độ II 16 - 16,99 Độ III 17 - 18,49 Bình thường 18,5 - 22,99 Thừa cân 23 - 24,99 Độ I 25 - 29,99 Béo phì Độ II 30 - 34,99 Độ III ≥35 Tỉ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ. Do đó chỉ số này được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì. Khi tỉ số vòng eo/vòng mông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo trung tâm. Người ta còn nhận thấy số đo vòng eo thường không liên quan đến chiều cao, có liên quan chặt chẽ đến BMI và tỉ số vòng eo/vòng mông và vì thế được coi như là một tiêu chuẩn đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng và khối lượng mỡ của toàn cơ thể.
Người ta nhận thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng eo ≥ 90 cm đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ [30]. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG 1. Yếu tố sinh học - Thay đổi về cảm giác Những thay đổi cảm giác bao gồm suy giảm thị lực, tai nghe kém, giảm cảm nhận về mùi vị và hương vị. Những thay đổi tổng thể diễn ra trong thời gian dài, không những ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của NCT.
Những thay đổi về khứu giác và vị giác có thể ảnh hưởng đến sở thích 7 tiêu thụ các loại thực phẩm ở NCT. Nếu thực phẩm có hương vị kém hấp dẫn sẽ làm NCT cảm thấy khó tiếp nhận với loại thực phẩm đó. Khi có những thay đổi trong chế độ ăn uống như hạn chế lượng muối ăn, đường hoặc chất béo trong món ăn cũng có thể dẫn đến giảm lượng thức ăn ở NCT [45].