CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi và vi chất dinh dưỡng 1. Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi 1. Định nghĩa Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi là tình trạng cơ thể kém tăng trưởng và phát triển.
Trẻ SDD thấp còi có khẩu phần dinh dưỡng nghèo nàn, thiếu số lượng, kém chất lượng, trẻ hay bị bệnh. Ở trẻ em dưới 5 tuổi SDD thể thấp còi được thể hiện ở tình trạng chiều cao của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều cao theo tuổi" (Height for Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2 SD so với chuẩn tăng trưởng, WHO 2006) [81], [101],[144],[113]. Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [91].
Ở mọi nơi trên thế giới tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còi cao hơn tỷ lệ hiện mắc SDD thể nhẹ cân. Lý do là có những trẻ bị SDD thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời, nhưng lại đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp [148]. Khuynh hướng thay đổi gia tăng về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn từ 2 năm đầu tiên của cuộc đời chủ yếu thông qua tăng chiều dài chân. Thời kỳ này là thời kỳ tăng trưởng cao nhất sau khi sinh và do đó rất nhạy cảm với các yếu tố bất lợi.
Trẻ thấp còi ở thời kỳ này ít có cơ hội đạt chiều cao bình thường khi trưởng thành hoặc đòi hỏi thời gian dài qua nhiều thế hệ [30]. Hậu quả Suy dinh dưỡng thấp còi SDD thấp còi trong những năm đầu đời, đặc biệt trong 1000 ngày đầu đời kể từ khi mang thai, cho tới khi trẻ được 24 tháng tuổi, gây ảnh hưởng tới tăng trưởng. SDD thấp còi ảnh hưởng tới nhận thức của trẻ, khả năng học tập giảm sút, năng suất lao động giảm, thu nhập kém hơn ở trẻ bình thường. Những trẻ SDD thấp còi sau này có mức tăng cân quá mức trong thời kỳ niên thiếu sẽ là yếu tố nguy cơ mắc các bệnh mạn tính liên quan tới dinh dưỡng khi ở tuổi trưởng thành [160].
5 Tăng trưởng kém trong giai đoạn thơ ấu có liên quan tới nguy cơ mắc bệnh, tử vong, bệnh không lây nhiễm, khả năng học tập và năng suất lao động. Tăng trường kém có mối liên quan chặt chẽ tới phát triển của trẻ như khả năng nhận thức, ngôn ngữ, cảm giác-vận động. Các chiến lược can thiệp phòng chống SDD thấp còi cho trẻ nhỏ giúp trẻ tăng trưởng thể chất, phát triển nhận thức, tinh thần, xã hội, trí tuệ. SDD thấp còi ở trẻ em để lại hậu quả trước mắt và lâu dài, ảnh hưởng tới sức khỏe và nguồn lực con người.
Trẻ SDD thấp còi thường chậm lớn, tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng, tử vong, chậm phát triển trí tuệ và vận động, khả năng học tập, thành tích học tập kém. Khi ở tuổi trưởng thành, những trẻ SDD thấp còi sẽ là những người có năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, nếu là trẻ gái thì sức khỏe sinh sản kém, nguy cơ cao mắc bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch [112], [160]. Thực trạng SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới và Việt Nam Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi trên thế giới Tình trạng SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi những năm gần đây trên toàn thế giới đã được cải thiện, tuy nhiên tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ vẫn còn khá cao, phổ biến ở những nước chậm và đang phát triển. Theo báo cáo của UNICEF năm 2013 cho thấy, có khoảng 165 triệu trẻ em trên toàn cầu, chiếm trên ¼ (một phần tư) trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi [145].
Số trẻ dưới 5 tuổi tử vong hàng năm tuy đã giảm so với những năm 1990 nhưng vẫn còn cao (xấp xỉ 7 triệu trẻ em) trong đó có khoảng 2,3 triệu trẻ chết vì những nguyên nhân liên quan đến SDD [147]. Báo cáo của WHO cũng cho thấy, năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệu trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23% tổng số trẻ dưới 5 tuổi. Nhiều báo cáo cho thấy số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn cao, tỷ lệ phân bố trẻ SDD thấp còi ở các khu vực trên thế giới không đều [145], [16], [146]. Các dữ liệu phân tích cho thấy SDD thấp còi vẫn là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của nhiều nước đặc biệt ở các nước chậm và đang phát triển.
SDD thấp còi cản trở sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Thêm vào đó, nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của trẻ. Các báo cáo của UNICEF và WHO đều cho biết, số trẻ 6 em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn rất cao trên thế giới, gánh nặng của SDD thấp còi phân bố không đồng đều, phổ biến ở 2 châu lục là châu Phi và châu Á. Theo báo cáo của UNICEF năm 2013 cho biết, khu vực Sub-Saharan của châu Phi và Nam Á chiếm khoảng ¾ tổng số trẻ em thấp còi trên toàn thế giới.
Khu vực cận Sahara của châu Phi có khoảng 40% phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và ở Nam Á, con số này là 39%. Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở Việt Nam Ở Việt Nam tình trạng SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi là một trong những thách thức đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. SDD thể thấp còi để lại hậu quả trước mắt và lâu dài và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và nguồn lực của đất nước. Trong những năm qua, Việt Nam có nhiều cố gắng cải thiện tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi và được đánh giá là quốc gia thành công trong việc giảm nhanh tỷ lệ SDD trẻ em nói chung và SDD thể thấp còi nói riêng.
Theo tổ chức Y tế Thế giới, tình trạng SDD thể thấp còi hiện vẫn còn ở mức cao [154] [153]. Theo số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020, Tình trạng SDD thấp còi trong những năm qua được cải thiện. Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 24,6% năm 2015 xuống còn 19,6 % năm 2020 , tuy vậy hiện vẫn ở mức trung bình theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO. Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi ở 6 vùng sinh thái có sự chênh lệch đáng kể.
Diễn biến SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi theo 6 vùng sinh thái từ năm 2015 – 2020 TT Vùng sinh thái Năm 2015 (%) Năm 2020 (%) 1 Đồng bằng sông Hồng 21,8 11,2 2 Trung du và miền núi phía Bắc 30,3 37,4 3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 27,1 17,4 4 Tây Nguyên 34,2 28,8 5 Đông Nam Bộ 19,3 9,7 6 Đồng bằng sông Cửu Long 23,5 12,4 Nguồn: Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020, Viện Dinh dưỡng Hình 1.1 cho thấy diễn biến SDD thấp còi theo vùng sinh thái từ năm 2015 đến năm 2020 còn cao nhưng cao nhất ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Mức độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi đáng kể ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, tỷ lệ SDD thấp còi giảm rất chậm ở khu vực miền núi và vẫn ở mức cao (38% năm 2020). Khái niệm về vi chất dinh dưỡng 1.
Định nghĩa Vi chất dinh dưỡng (VCDD) là những chất dinh dưỡng mà cơ thể chỉ cần với một lượng rất nhỏ nhưng vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể, nếu thiếu sẽ gây tác hại to lớn. Được gọi là vi chất dinh dưỡng vì chúng chỉ cần với số lượng rất nhỏ nhưng rất cần thiết cho cơ thể, tham gia vào các quá trình sản xuất enzyme, hormone và các chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển. Tuy cơ thể người và động vật cần các vi chất dinh dưỡng với một hàm lượng rất nhỏ nhưng thiếu vi chất dinh dưỡng gây 8 hậu quả nghiêm trọng đối với cơ thể. Bốn vi chất Iốt, vitamin A, Sắt và Kẽm là nhóm vi chất dinh dưỡng thiếu hụt phổ biến trên thế giới nói chung và phổ biến tập trung ở các nước chậm và đang phát triển.
Thiếu hụt 4 vi chất dinh dưỡng trên là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và sự phát triển của dân số trên toàn thế giới, đặc biệt là đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước thu nhập thấp [112]. Vitamin Vitamin là chất hữu cơ cần thiết, hầu hết không được cơ thể tạo ra, hoặc chỉ tạo ra 1 lượng không đáng kể, mà chủ yếu lấy từ thực phẩm. Khi khẩu phần không đủ, sẽ xuất hiện rối loạn do thiếu vitamin. Vitamin chỉ có 1 lượng nhỏ, nhu cầu cũng ít hơn so với chất dinh dưỡng đa lượng, nhưng quan trọng với sức khỏe, là 1 vấn đề “an ninh dinh dưỡng”[112].
Chất khoáng Chất khoáng là những chất dinh dưỡng vô cơ, có vai trò quan trọng với sức khỏe, các chất khoáng vi lượng (vết) bao gồm: đồng, I ốt, sắt, mangan, selen, kẽm, các chất khoáng đa lượng bao gồm: canxi, magie, kali, natri. Không thực phẩm nào chứa đủ các vitamin, chất khoáng. Vì vậy, chế độ ăn cần đa dạng, cân đối, đầy đủ. Chất khoáng chỉ có 1 lượng nhỏ trong cơ thể và phải được cung cấp từ thực phẩm [141].
Chất khoáng là một nhóm các chất dinh dưỡng cần thiết, không sinh năng lượng, nhưng có vai trò trong nhiều chức phận quan trọng của cơ thể. Chất khoáng thường ở dạng rắn, là chất vô cơ. Cơ thể có khoảng 60 nguyên tố hóa học trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev. Dựa theo nhu cầu hàng ngày, chất khoáng được phân thành 2 nhóm: chất khoáng đa lượng và chất khoáng vi lượng.
Chất khoáng đa lượng là loại chất khoáng có nhu cầu hàng ngày lớn hơn 100 mg, ví dụ canxi, phospho, magie, natri, kali, clo, sulfur. Chất khoáng vi lượng, còn gọi là yếu tố vết, là loại chất khoáng có nhu cầu hàng ngày nhỏ hơn 100 mg, ví dụ sắt, kẽm, đồng, bạc, mangan, selen. [141] 9 Cơ thể cần lượng chất khoáng đa lượng nhiều hơn so với chất khoáng vi lượng để thực hiện các chức năng của cơ thể. Chất khoáng vi lượng cần với lượng nhỏ, ít hơn so với chất khoáng đa lượng, nhưng cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ thể.
Vi chất dinh dưỡng sắt 1. Phân bố sắt trong cơ thể Sắt là một trong những chất khoáng vi lượng được tập trung nghiên cứu nhiều nhất.