Tổng quan nghiên cứu

Bệnh xơ gan và các biến chứng của xơ gan mất bù đang là một trong những thách thức y tế lớn trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, xơ gan là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 12 trên toàn cầu vào năm 2020. Khu vực Đông Nam Á hiện đứng thứ 5 về tỷ lệ tử vong do căn bệnh này. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B mạn tính có xu hướng gia tăng liên tục từ 6,4 triệu trường hợp năm 1990 lên khoảng 8,4 triệu trường hợp năm 2005 và ước tính đạt 8,0 triệu ca vào năm 2025, tạo nên gánh nặng bệnh tật rất lớn về xơ gan và ung thư gan.

Trong tiến trình bệnh, tổn thương thận cấp là một biến chứng cấp tính đặc biệt nguy hiểm, xuất hiện ở khoảng 20% đến 50% bệnh nhân xơ gan mất bù khi nhập viện. Biến chứng này làm suy giảm nhanh chóng chức năng bài tiết của thận, thúc đẩy tiến triển đến hội chứng gan thận với tiên lượng sống vô cùng dè dặt. Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng khi hội chứng gan thận xuất hiện, thời gian sống trung bình của người bệnh chỉ khoảng 1,7 tuần và có đến 90% bệnh nhân tử vong trong vòng 10 tuần nếu không được chẩn đoán và hồi sức tích cực.

Đề tài luận văn tập trung vào hai mục tiêu chính: xác định tỷ lệ mắc tổn thương thận cấp cùng các yếu tố liên quan theo tiêu chuẩn mới của Hội báng bụng quốc tế năm 2015, đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị và nhận diện các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân xơ gan mất bù. Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Tiêu hóa - Huyết học, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp các bác sĩ lâm sàng tối ưu hóa việc phân tầng nguy cơ, cải thiện tỷ lệ hồi phục chức năng thận từ giai đoạn sớm và giảm thiểu tỷ lệ tử vong nội viện cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng các học thuyết sinh lý bệnh kinh điển và tiêu chuẩn đồng thuận quốc tế về rối loạn chức năng gan thận:

Thuyết giãn động mạch ngoại biên của tác giả Arroyo và cộng sự năm 1983: Học thuyết chỉ ra rằng tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân xơ gan mất bù dẫn đến giãn mạch tạng quá mức và ứ trệ máu tại hệ tuần hoàn mạc treo. Hậu quả là thể tích máu lưu thông hữu hiệu sụt giảm nghiêm trọng, kích hoạt phản xạ bù trừ của hệ thần kinh giao cảm, hệ thống Renin - Angiotensin - Aldosterone và tăng tiết hormone kháng bài niệu. Sự co thắt mạch thận dữ dội nhằm duy trì huyết áp trung tâm vô tình làm giảm dòng máu tưới cho thận, gây suy giảm độ lọc cầu thận và thúc đẩy hình thành báng bụng cùng tổn thương thận cấp.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương thận cấp của Hội báng bụng quốc tế (ICA 2015): Tiêu chuẩn định nghĩa tổn thương thận cấp khi có sự gia tăng creatinin huyết thanh từ 0,3 mg/dl (tương đương 26,5 µmol/l) trở lên trong vòng 48 giờ hoặc tăng từ 50% trở lên so với creatinin nền trong vòng 7 ngày. Phân loại này loại bỏ tiêu chí thể tích nước tiểu nhằm khắc phục tình trạng thiểu niệu sinh lý do ứ muối nước ở bệnh nhân xơ gan, giúp chẩn đoán sớm hơn so với tiêu chuẩn KDIGO hay RIFLE trước đây.

Thang điểm Child - Turcotte - Pugh: Hệ thống phân loại đánh giá mức độ suy giảm chức năng tế bào gan và mức độ nghiêm trọng của bệnh xơ gan dựa trên 5 thông số lâm sàng và cận lâm sàng gồm nồng độ bilirubin toàn phần, albumin huyết thanh, tỷ lệ prothrombin hoặc chỉ số INR, mức độ báng bụng và độ nặng của bệnh não gan. Điểm số phân chia thành 3 mức độ: Child A (5-6 điểm), Child B (7-9 điểm) và Child C (10-15 điểm).

Khái niệm hội chứng gan thận và tổn thương thận thực thể: Phân biệt rõ giữa suy giảm chức năng thận do co mạch chức năng có khả năng hồi phục khi dùng thuốc co mạch kết hợp truyền albumin và các tổn thương cấu trúc tế bào như hoại tử ống thận cấp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang tiến cứu, theo dõi liên tục bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị nội viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ năm 2019 đến năm 2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với mức tin cậy 95%, sai số biên cho phép là 5% và tỷ lệ tổn thương thận cấp tham chiếu là 19,1% từ nghiên cứu của tác giả Võ Thị Mỹ Dung tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2015. Cỡ mẫu tối thiểu tính toán được là 238 bệnh nhân. Thực tế nghiên cứu đã thu thập được cỡ mẫu là 250 bệnh nhân xơ gan mất bù đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện không xác suất. Tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên nhập viện được chẩn đoán xơ gan mất bù đều được đưa vào nghiên cứu sau khi loại trừ các trường hợp suy thận do nguyên nhân tắc nghẽn sau thận, bệnh nhân đã ghép tạng hoặc đang điều trị thay thế thận định kỳ. Đối với các trường hợp không có creatinin trước đó, nồng độ creatinin nền được xác định dựa trên phương trình MDRD với độ lọc cầu thận giả định là 75 ml/phút/1,73 m2 da.

Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18.0. Các biến số định lượng được biểu diễn qua giá trị trung bình, độ lệch chuẩn hoặc trung vị; các biến định tính biểu diễn qua tần số và tỷ lệ phần trăm. Nghiên cứu sử dụng kiểm định t-test và ANOVA để so sánh hai hoặc nhiều giá trị trung bình, kiểm định Chi-square để so sánh các tỷ lệ. Mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến được lựa chọn thực hiện nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu, xác định chính xác các yếu tố nguy cơ độc lập tác động đến sự xuất hiện của tổn thương thận cấp và tiên lượng tử vong với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 250 bệnh nhân xơ gan mất bù mang lại những phát hiện quan trọng về dịch tễ, lâm sàng và diễn tiến tổn thương thận:

Đặc điểm nhân khẩu học và căn nguyên gây xơ gan: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 61,1 ± 12,9 tuổi, trải dài từ 20 đến 95 tuổi, trong đó nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,0%. Về giới tính, nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 66,8% (167 bệnh nhân), gấp hai lần so với nữ giới chiếm 33,2% (83 bệnh nhân). Căn nguyên phổ biến nhất gây xơ gan là do nhiễm virus viêm gan B chiếm 37,6% (94 ca), tiếp đến là do lạm dụng rượu chiếm 20,0% (50 ca) và virus viêm gan C chiếm 16,8% (42 ca). Các trường hợp kết hợp viêm gan virus và rượu chiếm 4,8%, nguyên nhân khác chiếm 19,2%.

Phân bố mức độ xơ gan và biểu hiện lâm sàng: Theo thang điểm Child - Pugh, bệnh nhân giai đoạn Child B chiếm tỷ lệ áp đảo với 71,2% (178 ca), giai đoạn Child C chiếm 27,6% (69 ca) và chỉ có 1,2% (3 ca) thuộc Child A. Về lâm sàng, triệu chứng ăn uống kém xuất hiện nhiều nhất với 90,4%, theo sau là báng bụng với 88,0%, vàng da niêm mạc chiếm 52,8%, phù hai chi dưới chiếm 50,4% và lách to ghi nhận ở 39,2% trường hợp.

Đặc điểm cận lâm sàng huyết học và sinh hóa: Xét nghiệm cho thấy tình trạng thiếu máu chiếm 90,0% (với 17,6% bệnh nhân có nồng độ hemoglobin dưới 7 g/dL), giảm tiểu cầu dưới 150.000/mm3 chiếm 72,8%, tỷ lệ prothrombin dưới 70% chiếm 85,2% (trong đó mức dưới 40% chiếm 26,4%). Về sinh hóa, có tới 92,0% bệnh nhân bị giảm albumin máu dưới 35 g/L với nồng độ trung bình là 25,8 ± 6,3 g/L; 46,0% có nồng độ bilirubin toàn phần tăng cao trên 51 µmol/L; 73,2% bệnh nhân bị hạ natri máu dưới 135 mmol/L và 40,4% có nồng độ urê máu tăng trên 7,5 mmol/L.

Tỷ lệ mắc và phân độ tổn thương thận cấp: Tỷ lệ tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan mất bù trong nghiên cứu đạt 25,6% (64 trên tổng số 250 bệnh nhân). Trong nhóm 64 bệnh nhân này, phân bố theo các giai đoạn của ICA 2015 cho thấy giai đoạn 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,4% (31 ca), giai đoạn 1 chiếm 31,3% (20 ca) và giai đoạn 3 chiếm 20,3% (13 ca).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ tổn thương thận cấp 25,6% ghi nhận tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ hoàn toàn phù hợp với y văn thế giới, vốn ghi nhận tỷ lệ này dao động từ 20% đến 50% ở bệnh nhân xơ gan mất bù nhập viện. Kết quả này cao hơn tỷ lệ 19,1% trong nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Dung tại Bệnh viện Chợ Rẫy nhưng thấp hơn đáng kể so với nghiên cứu của Khatua năm 2021 (54,69%) và Pan năm 2016 (67,0%). Sự khác biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về đặc điểm bệnh nhân, mức độ kiểm soát bệnh nền ngoại trú và tỷ lệ bệnh nhân nặng tại các khoa hồi sức tích cực so với khoa nội tiêu hóa thông thường.

Nguyên nhân dẫn đến tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan mất bù là sự kết hợp đa yếu tố. Bệnh nhân có chức năng gan suy giảm nặng độ Child C có nguy cơ mắc tổn thương thận cấp cao hơn rõ rệt. Các biến chứng như xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng dịch báng (viêm phúc mạc nhiễm khuẩn nguyên phát) làm bùng phát cơn suy thận cấp thông qua cơ chế mất máu cấp, tụt huyết áp và bão cytokin gây viêm nội mô mạch thận. Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc lợi tiểu quai không kiểm soát và tiền sử dùng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) làm suy giảm nghiêm trọng lượng máu đến cầu thận do ức chế tổng hợp prostaglandin giãn mạch.

Về phương diện trình bày trực quan, các dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ tròn biểu thị tỷ lệ 3 giai đoạn tổn thương thận cấp (với lát cắt giai đoạn 2 chiếm gần một nửa 48,4%) và bảng đối chiếu kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến. Bảng thống kê so sánh các chỉ số odds ratio (OR) sẽ làm nổi bật tác động độc lập của các yếu tố nguy cơ: bệnh não gan, hạ natri máu dưới 130 mmol/L, nồng độ bilirubin máu trên 51 µmol/L và tổn thương thận cấp giai đoạn 2-3 đến tỷ lệ tử vong nội viện của bệnh nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chẩn đoán sớm và giảm thiểu tỷ lệ tử vong do biến chứng tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan mất bù, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị can thiệp cụ thể:

Thứ nhất, thiết lập quy trình tầm soát creatinin huyết thanh thường quy cho 100% bệnh nhân xơ gan mất bù trong 48 giờ đầu nhập viện. Các bác sĩ điều trị và điều dưỡng tại khoa Tiêu hóa cần thực hiện đo lường creatinin máu ngay lúc tiếp nhận và lặp lại sau 24 đến 48 giờ. Sử dụng tiêu chuẩn ICA 2015 kết hợp công thức MDRD để ước tính creatinin nền giả định, đặt mục tiêu phát hiện sớm ít nhất 90% các trường hợp tổn thương thận cấp ngay từ giai đoạn 1 trước khi tiến triển sang giai đoạn 2 và 3, áp dụng thực hiện liên tục từ quý 1 năm 2022.

Thứ hai, chuẩn hóa phác đồ điều trị hồi sức thể tích bằng Albumin kết hợp Terlipressin tại các khoa nội tiêu hóa. Bác sĩ điều trị phối hợp với Dược sĩ lâm sàng triển khai ngừng ngay thuốc lợi tiểu, tiến hành truyền Albumin tĩnh mạch liều 1 g/kg/ngày (tối đa 100 g/ngày) trong 2 ngày liên tiếp cho bệnh nhân tổn thương thận cấp giai đoạn 2 và 3. Đồng thời, chỉ định sớm thuốc co mạch Terlipressin tiêm tĩnh mạch chậm liều 0,5 đến 1 mg mỗi 4 đến 6 giờ, phấn đấu đạt tỷ lệ phục hồi chức năng thận hoàn toàn trên 70% sau 14 ngày điều trị.

Thứ ba, siết chặt quy chế quản lý và hướng dẫn sử dụng thuốc lợi tiểu và thuốc giảm đau ngoại trú. Đội ngũ bác sĩ đa khoa và chuyên khoa tiêu hóa tại phòng khám cần kiểm soát chặt chẽ chỉ định thuốc lợi tiểu quai và kháng aldosterone, tránh tình trạng rút dịch quá mức gây giảm thể tích tuần hoàn. Nghiêm cấm sử dụng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) và thận trọng khi dùng kháng sinh nhóm aminoglycoside cho bệnh nhân xơ gan cổ trướng, hướng tới mục tiêu giảm 50% các ca suy thận cấp do nguyên nhân dùng thuốc trong vòng 1 năm tới.

Thứ tư, xây dựng hệ thống phát hiện sớm và xử trí triệt để các ổ nhiễm trùng nội viện. Khoa Xét nghiệm và Bác sĩ lâm sàng cần phối hợp thực hiện chọc dò dịch màng bụng chẩn đoán cho toàn bộ bệnh nhân báng bụng nhập viện nhằm tầm soát viêm phúc mạc nguyên phát khi bạch cầu đa nhân trung tính vượt quá 250 tế bào/mm3. Điều trị kháng sinh phổ rộng kịp thời giúp ngăn chặn nguy cơ kích hoạt hội chứng gan thận, giảm tỷ lệ tử vong nội viện xuống dưới mức 10% trong kế hoạch 2 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng lâm sàng cao, là nguồn tư liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Bác sĩ chuyên khoa Nội Tiêu hóa - Gan mật: Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn về ứng dụng tiêu chuẩn ICA 2015, phác đồ sử dụng Albumin phối hợp thuốc co mạch Terlipressin và các chiến lược bảo vệ chức năng thận ở bệnh nhân xơ gan tiến triển, giúp bác sĩ tối ưu hóa phác đồ điều trị hằng ngày.

Nhóm 2: Bác sĩ Hồi sức cấp cứu và Nội tổng quát: Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện về chẩn đoán phân biệt giữa suy giảm chức năng thận trước thận, hoại tử ống thận cấp và hội chứng gan thận, giúp xử trí nhanh các trường hợp tụt huyết áp, rối loạn điện giải nặng hoặc chỉ định lọc máu thay thế thận kịp thời.

Nhóm 3: Học viên sau đại học, Bác sĩ nội trú và Sinh viên Y khoa: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng, cách tính toán cỡ mẫu y học, thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và kỹ thuật phân tích số liệu dịch tễ học bằng các mô hình hồi quy logistic.

Nhóm 4: Lãnh đạo bệnh viện và Nhà hoạch định chính sách y tế: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu dịch tễ học xác thực tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, làm cơ sở khoa học để dự trù nguồn lực y tế, trang thiết bị lọc máu và cơ số thuốc thiết yếu phục vụ công tác điều trị bệnh gan mật.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chuẩn ICA 2015 chẩn đoán tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan có điểm gì vượt trội so với các tiêu chuẩn trước đây? Tiêu chuẩn ICA 2015 định nghĩa tổn thương thận cấp khi creatinin tăng từ 0,3 mg/dl trong 48 giờ hoặc tăng từ 50% so với giá trị nền. Điểm vượt trội là tiêu chuẩn này loại bỏ hoàn toàn tiêu chí thể tích nước tiểu do bệnh nhân xơ gan thường bị giữ muối nước tự nhiên, giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn.

Tại sao bệnh nhân xơ gan mất bù lại có nguy cơ cao bị tổn thương thận cấp? Tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa gây giãn mạch tạng quá mức, làm giảm thể tích máu lưu thông hiệu dụng. Cơ thể kích hoạt phản xạ co thắt mạch máu thận dữ dội. Khi gặp các yếu tố thúc đẩy như nhiễm trùng, xuất huyết tiêu hóa hoặc dùng thuốc lợi tiểu, lưu lượng máu nuôi thận giảm mạnh dẫn đến suy thận cấp tính.

Tỷ lệ mắc tổn thương thận cấp trong nghiên cứu này được ghi nhận là bao nhiêu? Nghiên cứu trên 250 bệnh nhân xơ gan mất bù tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ ghi nhận tỷ lệ mắc tổn thương thận cấp là 25,6%. Trong đó, tổn thương thận cấp giai đoạn 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,4%, giai đoạn 1 chiếm 31,3% và giai đoạn 3 chiếm 20,3%.

Các biện pháp điều trị ban đầu đối với tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan gồm những gì? Chiến lược can thiệp ban đầu bao gồm việc ngừng ngay lập tức các thuốc độc cho thận và thuốc lợi tiểu, bù thể tích lòng mạch bằng Albumin truyền tĩnh mạch liều 1 g/kg/ngày trong 2 ngày liên tiếp, kết hợp dùng thuốc co mạch Terlipressin và điều trị triệt để các ổ nhiễm trùng nguyên phát.

Những yếu tố nào liên quan chặt chẽ nhất đến nguy cơ tử vong ở bệnh nhân xơ gan mất bù? Các yếu tố độc lập làm gia tăng tỷ lệ tử vong gồm có mức độ suy gan Child-Pugh C, sự xuất hiện của tổn thương thận cấp giai đoạn tiến triển, biến chứng bệnh não gan, xuất huyết tiêu hóa, nồng độ natri máu giảm dưới 130 mmol/L và bilirubin máu tăng cao trên 51 µmol/L.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra với những kết luận cốt lõi:

  • Tỷ lệ tổn thương thận cấp ở bệnh nhân xơ gan mất bù tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là 25,6%, trong đó giai đoạn 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,4%.
  • Virus viêm gan B (37,6%) và nghiện rượu (20,0%) là hai nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan mất bù trong quần thể nghiên cứu.
  • Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với sự xuất hiện của tổn thương thận cấp bao gồm suy gan độ Child C, biến chứng báng bụng, bệnh não gan, nhiễm trùng và việc dùng thuốc lợi tiểu liều cao.
  • Phác đồ ngưng thuốc độc thận, hồi sức thể tích bằng Albumin kết hợp Terlipressin giữ vai trò then chốt trong việc cải thiện chức năng thận.
  • Tổn thương thận cấp, phân độ Child C, hạ natri máu và tăng bilirubin là những chỉ báo độc lập dự đoán nguy cơ tử vong nội viện.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bức tranh dịch tễ học và lâm sàng thực tế đầu tiên về tổn thương thận cấp theo tiêu chuẩn ICA 2015 tại khu vực Cần Thơ. Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng các nghiên cứu can thiệp đa trung tâm và theo dõi dọc sau xuất viện 6 đến 12 tháng. Các cơ sở y tế cần khẩn trương chuẩn hóa quy trình theo dõi creatinin huyết thanh định kỳ nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, mang lại tiên lượng sống tốt nhất cho người bệnh.