ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một thách thức lớn đối với ngành y tế trên thế giới n i chung và Việt Nam n i riêng. Theo ước t nh của các nhà khoa học Mỹ, tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (tương đương 972 triệu người, riêng các nước đang phát triển chiếm 639 triệu và s tăng lên 29,2% vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh tăng huyết áp trên toàn thế giới khoảng 1.56 tỷ người [1]. a phần tư trong số các bệnh nhân này là người thuộc các nước đang phát triển [2]. ên cạnh tăng huyết áp, đái tháo đường là bệnh lý nội tiết chuyển h a song hành với các bệnh l tim mạch, c ng đang là vấn đề xã hội mang t nh toàn cầu trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và được xếp vào nhóm bệnh không lây phát triển nhanh nhất thế giới [1].
M i năm, trên thế giới c khoảng 17,5 triệu người tử vong do các bệnh l về tim mạch. Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm c khoảng 35% - 40% nguyên nhân do tăng huyết áp [3]. Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp c ng gia tăng nhanh ch ng. Kết quả điều tra thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam trên 5.454 người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc tăng huyết áp; tỷ lệ người Việt bị tăng huyết áp chiếm 47,3%.
Ước tính hiện nay nước ta đang c khoảng 6,85 triệu người THA và nếu không có biện pháp hữu hiệu thì đến năm 2025 s có khoảng 10 triệu người Việt Nam có THA [4]. Tăng huyết áp là căn bệnh diễn tiến âm thầm, t c dấu hiệu cảnh báo. Những dấu hiệu của tăng huyết áp thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy c gì khác biệt với người bình thường cho đến khi xảy ra tai biến. Tăng huyết áp nếu được phát hiện sớm thì việc kiểm soát s rất 2 có hiệu quả và hạn chế được các biến chứng nguy hiểm, giảm nguy cơ tử vong và giảm gánh nặng bệnh tật cho bản thân, gia đình và toàn xã hội.
Hiện nay các thuốc điều trị tăng huyết áp ngày càng đa dạng về dược chất lẫn dạng bào chế. Y học cổ truyền có một số bài thuốc có hiệu quả trong điều trị cao huyết áp với tính an toàn cao, ít gây biểu hiện: tụt huyết áp, ho, ảnh hưởng gan thận,. Đặc biệt những trường hợp huyết áp dao động, huyết áp kháng trị thì sự h trợ của các thuốc YHCT trong điều trị c nghĩa rất tốt. Tại khoa Y học Cổ truyền - Bệnh viện Bạch Mai đã ứng dụng bài thuốc "Thanh Can Thang" trên lâm sàng để điều trị chứng huyễn vựng thể Can dương thượng cang với các chứng trạng như đau đầu, mất ngủ, bốc hoả,.
bước đầu có hiệu quả cải thiện rõ ràng các triệu chứng trên lâm sàng. Hiện nay, cùng với sự phát triển của các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều cơ chế liên quan đến sinh bệnh l tăng huyết áp. Nhiều mô hình gây tăng huyết áp và các kỹ thuật đo huyết áp trên động vật thực nghiệm đã được nghiên cứu và công bố như tăng huyết áp liên quan đến thận và mạch máu, tăng huyết áp do chế độ ăn, tăng huyết áp do nội tiết, tăng huyết áp do thần kinh, tăng huyết áp do tâm l , tăng huyết áp do di truyền và các mô hình khác. Chính vì vậy, để c cơ sở khoa học nhằm ứng dụng rộng rãi bài thuốc "Thanh can thang" trong điều trị bệnh tăng huyết áp c ng như bào chế sản phẩm phục vụ rộng rãi cho cộng đồng, chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên chuột và tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp của bài thuốc "Thanh can thang" trên động vật thực nghiệm" với hai mục tiêu: 1.
Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của bài thuốc “Thanh Can Thang” trên mô hình gây tăng huyết áp ở chuột cống trắng. Đánh giá tác dụng lợi tiểu của bài thuốc “Thanh Can Thang” trên chuột cống trắng. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan điểm của y học hiện đại về tăng huyết áp 1.
Khái niệm về huyết áp, tăng huyết áp Huyết áp [5] [6] [7] Huyết áp (HA) là áp lực máu c trong động mạch, do tim co b p đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời c ng do ảnh hưởng của lực cản thành động mạch. Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể. HA mà người ta thường gọi là áp lực máu trong động mạch thường được đo ở động mạch cánh tay. Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là HA tâm thu (HATT).
Khi tim nghỉ, áp lực đ xuống đến mức thấp nhất gọi là HA tâm trương (HA TTr) Huyết áp hiệu số (HAHS) là hiệu số giữa HATT và HATTr. Đây là điều kiện cho máu tuần hoàn trong mạch, bình thường giá trị khoảng 40 mmHg. Khi hiệu số huyết áp giảm người ta gọi là kẹt huyết áp dẫn đến tuần hoàn máu bị ứ trệ. Huyết áp trung bình (HATB) là trị số áp suất trung bình được tạo ra trong suốt một chu kỳ hoạt động của tim.
HATB thể hiện hiệu lực hoạt động của tim, đây ch nh là lực đẩy dòng máu qua hệ thống tuần hoàn. Tăng huyết áp Cho đến nay, Tổ chức Y tế thế giới và Hội Tăng huyết áp quốc tế (World Health Organization – WHO và International Society of Hypertension – ISH) đã thống nhất gọi là THA khi HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg. 4 Con số này c được là do dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ học cho thấy có sự gia tăng đặc biệt nguy cơ tai biến mạch máu não (TBMMN) ở người lớn khi HA ≥ 140/90 mmHg. Tỷ lệ TBMMN ở người có chỉ số HA ≤ 140/90 mmHg giảm rõ rệt [8].
THA là khi trị số HA đo được ở trên mức bình thường. THA có thể là tăng cả tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng 1 trong 2 dạng đ [6]. Hiện Tổ chức Y tế thế giới đã c nhiều khuyến cáo và chỉ dẫn về việc phân loại, theo dõi và điều trị THA. Hội đồng chuyên viên của WHO năm 1978 chia THA thành các giai đoạn, căn cứ vào các mức độ tổn thương các cơ quan đ ch.
Năm 1993 WHO chia THA thành các mức độ nặng vừa và nhẹ. Tuy nhiên các khuyến cáo trên chưa thật hoàn chỉnh vì không đề cập. Phân loại tăng huyết áp C nhiều cách phân loại nhưng cho đến nay, cách phân loại của WHO/ISH (2003 được sử dụng rộng rãi do t nh thực tiễn và ứng dụng của n. Phân loại huyết áp theo WHO/ISH (2003) [9] [10] HATT HATTr Xếp loại (mmHg) (mmHg) HA Tối ưu < 120 Và < 80 HA ình thường < 130 Và < 85 HA ình thường cao 130 – 139 và/ hoặc 85 – 89 Tăng HA Độ 1 (nhẹ) 140 – 159 và/ hoặc 90 – 99 Tăng HA Độ 2 (trung bình) 160 – 179 và/ hoặc 100 – 109 Tăng HA Độ 3 (nặng) ≥ 180 và/ hoặc ≥ 110 Tăng HA tâm thu đơn độc ≤ 140 Và < 90 WHO (2003 hướng dẫn cụ thể hơn và đặc biệt quan tâm đến các nh m yếu tố nguy cơ, c tổn thương cơ quan đ ch hay chưa trước khi đưa ra phác đồ điều trị.
5 Trong cách phân loại mới này đã đề cập đến khái niệm tiền tăng huyết áp chứ không c HA bình thường cao, vì những nghiên cứu đã cho thấy trong một số trường hợp với những nguy cơ cao (v dụ như đái tháo đường thì cần c thái độ quyết liệt hơn trong điều trị [11]. Tại Việt Nam, theo Khuyến cáo của Hội Tim mạch học quốc gia năm 2008 và trong hướng dẫn quản l và điều trị tăng huyết áp của ộ Y tế năm 2010 đã đề nghị sử dụng phân độ HA theo WHO/ISH 2003 (bảng 1.1 cho những chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu liên quan đến THA [12] [13]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp 1. Nguyên nhân Tăng huyết áp là một hiện tượng đo được nhưng nguyên nhân không phải luôn luôn được tìm thấy và xác định rõ ràng.
Phần lớn tăng huyết áp ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (tăng huyết áp nguyên phát), chỉ có khoảng 5-10% các trường hợp là c nguyên nhân (tăng huyết áp thứ phát) [14] [15] [16]. THA thứ phát cần được chú ý tìm nguyên nhân cụ thể để có hướng điều trị hợp lý. Đại bộ phận khoảng 95% các bệnh nhân bị THA là không rõ nguyên nhân (c n gọi là THA nguyên phát. Tuy nhiên các nhà khoa học đã nhận thấy c một số yếu tố nguy cơ liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh THA.
Theo Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ [17] gồm các yếu tố nguy cơ sau: hóm yếu tố s n có là yếu tố hông thể thay đổi - Tuổi: Tuổi c mối liên quan chặt ch với tăng huyết áp. Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành động mạch bị lão h a và xơ vữa làm giảm t nh đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn c n gọi là THA tâm thu đơn thuần [18]. Mặc d HA tâm trương giảm nhẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65 - 70 nhưng HA tâm thu lại tiếp tục tăng so với tuổi đời [19]. C ng với đời sống kinh tế được cải thiện, trung bình 6 ngày một cao, tổng số người cao tuổi trên thế giới vào năm 2012 là 810 triệu cao tuổi chiếm 11,5% tổng dân số.
Dự báo con số này s đạt 1 tỷ người trong v ng chưa đến 10 năm tới và s tăng gấp đổi, đạt 2 tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% tổng dân số thế giới [20]. Theo Tổ chức y tế thế giới, ở lứa tuổi 35 cứ 20 người c 1 người tăng huyết áp, ở tuổi 45 cứ 7 người c một người tăng huyết áp và 1/3 số người ở độ tuổi 65 bị tăng huyết áp [21]. Nghiên cứu của tác giả Jo I ở Hàn quốc c ng đã chỉ ra rằng tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp c liên quan chặt ch với tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp c ng càng cao [22].