ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu thống kê của GLOBOCAN 2022, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn cầu, chiếm 24,5% tổng số ca ung thư mới được chẩn đoán ở phụ nữ và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ với 685.000 ca tử vong trong năm 2020 [78]. Phương pháp điều trị ung thư chủ yếu hiện nay là phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp nội tiết [41]. Tuy nhiên, ngay cả khi bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn đầu được điều trị bằng các phương pháp điều trị nêu trên, 30 - 40% bệnh nhân vẫn bị tái phát và di căn [25] và thường dẫn đến các tác dụng không mong muốn [55]. Bên cạnh đó, chi phí trực tiếp điều trị ung thư vú tại Việt Nam năm 2019, tổng chi phí trực tiếp trung bình lên đến 135.
Trong đó các nhóm chi phí tiền túi hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn [1]. Nghiên cứu phân tích giữa mối tương quan giữa chi phí – hiệu quả cho thấy chi phí điều trị ung thư vú với các phương pháp trên khá cao, trở thành gánh nặng kinh tế với người bệnh và cả xã hội [17]. Việc nghiên cứu và sử dụng thảo dược và phát triển thành thuốc chống ung thư đang được một số quốc gia giàu tài nguyên thực vật đặc biệt chú trọng, trong đó có Việt Nam [52]. Với sự phổ biến, được trồng trên khắp cả nước, hoa Đu đủ đực từ lâu được sử dụng để điều trị ho, vàng da và hạ sốt [85].
Mặc dù, khả năng kháng ung thư của các hợp chất tách ra từ hoa Đu đủ đực chưa được nghiên cứu, nhưng một trong số những hợp chất này là quercetin đã được chứng minh là có tính chất chống oxy hóa, bảo vệ tế bào, kháng virus và kháng khuẩn. Chất này có nhiều tác dụng chống oxy hóa và tăng cường biệt hóa tế bào. Một số dẫn xuất của quercetin cũng có tác dụng gây độc cho tế bào ung thư vú [27], [30]. Để khảo sát tiềm năng chống ung thư của hoa Đu đủ đực làm cơ sở cho các nghiên cứu xa hơn, đề tài “Nghiên cứu chiết xuất và đánh giá tác dụng gây độc trên tế bào ung thư vú MCF-7 của hoa Đu đủ đực (Carica papaya L.)” được thực hiện với hai mục tiêu như sau: 1.
Xây dựng quy trình chiết xuất cao từ hoa Đu đủ đực. Đánh giá tác dụng gây độc trên tế bào ung thư vú MCF-7 của cao chiết toàn phần và các cao phân đoạn từ hoa Đu đủ đực. Tổng quan về hoa Đu đủ đực 1. Vị trí phân loại và đặc điểm thực vật của cây Đu đủ Vị trí phân loại: Cây Đu đủ có tên khoa học là Carica papaya (L.) [9], được phân loại thực vật học như sau [79]: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dilleniidae) Bộ Đu đủ (Caricales) Họ Đu đủ (Caricaceae) Chi Carica Loài Carica papaya L.
Đặc điểm thực vật: Cây Đu đủ cao từ 3 đến 7 m, thân thẳng, đôi khi có phân nhánh. Vỏ mang rất nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá to rộng chia làm 6-9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mép có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài 30-50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt, khác gốc.
Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy có cuống rất dài. Hoa cái có tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Quả thịt, hình trứng to, dài 20-30cm, đường kính 15- 20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục, sau ngả màu vàng cam.
Trong ruột quả có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu, xung quanh có lớp nhầy. Mùa hoa quả từ tháng 5 đến tháng 10 [9], [16]. Đặc điểm sinh thái: Đu đủ là loại cây trồng nhiệt đới, ưa khí hậu nóng và ẩm. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 21-33°C, lượng mưa hàng năm ˃ 1200 mm.
Cây sống được trên nhiều loại đất, song yêu cầu phải thoát nước nhanh. Đu đủ không chịu được ngập úng quá 20 giờ. Ở Việt Nam, cây không trồng được ở vùng núi cao lạnh (trên 1500m). Đu đủ là cây sinh trưởng nhanh.
Cây trồng từ hạt sau 4 - 5 tháng có thể ra hoa [16]. Một số hình ảnh về cây Đu đủ [6], [9] 1. Phân bố Đu đủ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ song nguồn gốc xuất hiện các giống trồng trọt vẫn chưa được rõ ràng. Đu đủ chủ yếu được trồng ở các nước vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Myanma, Malaysia, Indonesia (Châu Á); Uganda (châu Phi); Brasil, Equado, Hoa Kỳ (châu Mỹ); Úc, New Zealand (châu Đại Dương) [14].
Ở Việt Nam, Đu đủ là cây trồng khá lâu đời và chưa xác định được cụ thể thời gian cây được nhập vào. Đu đủ được trồng hầu hết ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam. Tuy nhiên chúng được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù sa [14]. Thành phần hóa học Hoa Đu đủ đực có chứa các thành phần có hoạt tính như alcaloid, flavonoid, saponin và tanin, phenolic, glycosid, triterpenoid, steroid [36], [75].
Theo Okoye và cộng sự (2017), nghiên cứu báo cáo rằng các thành phần alcaloid trong hoa Đu đủ đực có hàm lượng 0,53 ± 0,01% và các thành phần như flavonoid, saponin, tanin, terpenoid, steroid và glycosid [64]. Alcaloid Theo nghiên cứu của Mukhaimin và cộng sự (2019), chiết xuất hoa Đu đủ đực bằng phương pháp chiết xuất rắn-lỏng, chiết lỏng-lỏng và phương pháp chiết dưới sự hỗ trợ của vi sóng (MAE). Tổng hàm lượng alcaloid cao nhất là 0,02981 mg/g. Các alcaloid bao gồm carpain, pseudocarpain và dehydrocarpain, được tìm thấy trong cao chiết MeOH 80% từ hoa Đu đủ đực [60].
Một số alcaloid có hoạt tính sinh học trong hoa Đu đủ đực [60] 1. Flavonoid Theo Van và cộng sự (2020), các loại flavonoid có trong hoa Đu đủ đực là quercetin, quercitrin, quercetin 3-O-(6''-galloyl)-β-D-galactopyranosid, myricitrin, kaempferol, kaempferol 3-O-α-L-rhamnopyranosid, kaempferol 3-O-β-D- glucopyranosid và kaempferol 3-O-α-L-arabinopyranosid [84]. Kaempferol 3-O-α-L-arabinopyranosid Hình 1. Một số flavonoid có trong hoa Đu đủ đực [84] 1.
Saponin Định lượng hàm lượng saponin có trong hoa Đu đủ đực bằng phương pháp đo quang phổ cho thấy: hàm lượng saponin là 230 ± 20 mg trong 100 g hoa Đu đủ đực [42]. Tanin Định lượng hàm lượng tanin có trong hoa Đu đủ đực bằng phương pháp đo quang phổ cho thấy: hàm lượng tanin là 0,46 ± 0,36 mg trong 100 g hoa Đu đủ đực [42]. Phenolic Hoa Đu đủ đực chứa các hợp chất phenolic. Thông qua việc sử dụng dữ liệu phổ NMR, phân tích HR-ESI-MS và so sánh tài liệu đã xác định được một hợp chất phenolic mới gọi là caricapapayol có cấu trúc như hình dưới [45].
Glycosid Định tính cho thấy trong hoa Đu đủ đực có chứa glycosid tim [74]. Kết quả định lượng hàm lượng glycosid tim có trong hoa Đu đủ đực là 1,87 ± 0,02% [64]. Terpenoid Định tính cho thấy trong hoa Đu đủ đực có chứa terpenoid [74]. Kết quả định lượng hàm lượng terpenoid có trong hoa Đu đủ đực là 0,21 ± 0,01% [64].
Steroid Định tính cho thấy trong hoa Đu đủ đực có chứa steroid [74]. Kết quả định lượng hàm lượng steroid có trong hoa Đu đủ đực là 0,08 ± 0,01% [64]. Các chất khác Các vitamin như B1, B2, B3 và C được tìm thấy trong hoa Đu đủ đực. Các khoáng chất như Ca, Mg, Mn, Zn, Cu, Cd, Co, Pb, Fe, K, Na cũng có trong hoa Đu đủ đực [67].
Talukdar và cộng sự (2021) đã đánh giá hàm lượng protein trong cao chiết nước từ hoa Đu đủ đực bằng phương pháp Lowry cho thấy ở 660 nm, nồng độ protein là 300 μg/ml [80]. Công dụng trong dân gian Theo những cách sử dụng trong dân gian, hoa Đu đủ đực được sử dụng để điều trị ho, vàng da và hạ sốt [85]. Hoa Đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường phèn dùng chữa ho, viêm phổi, mất tiếng [16]. Tính vị quy kinh, công năng, chủ trị [7] Hoa Đu đủ đực có: + Tính bình, vị đắng.
+ Quy kinh phế, tỳ. + Công năng: Ích phế trừ đàm. + Chủ trị: Khái thấu. Tác dụng dược lý Hoa Đu đủ đực chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học có tác dụng dược lý, bao gồm khả năng chống oxy hóa, gây độc với tế bào ung thư, kháng khuẩn, hạ đường huyết, giảm đau, hạ lipid máu, diệt trừ sâu, ức chế tyrosinase và chống tia UV [67].
Tác dụng chống oxy hóa - Cao chiết methanol 99,8% (500 μg/ml) được đánh giá bằng phương pháp Ferric Thiocyanat (FTC) với IC₅₀ là 17,47 μg/ml [42]; - Cao chiết ethanol 99,8% phân đoạn n-hexan được đánh giá bằng phương pháp DPPH với IC₅₀ là 100,81 ± 1,180 μg / ml [75]; 6 - Các cao chiết methanol 99,8%, cloroform, n-hexan được đánh giá bằng phương pháp DPPH. Cao chiết có khả năng khử gốc tự do DPPH. cao nhất là cao chiết n-hexan với khả năng khử gốc tự do DPPH là 64,07% [36]; - Cao chiết EtOH 70% từ hoa Đu đủ đực (100 ppm): được đánh giá bằng khả năng trung hòa gốc tự do ABTS.+ với IC₅₀ là 4,8946 ppm thu được khi hoạt động chống oxy hóa được đánh giá phương pháp xác định khả năng trung hòa gốc tự do ABTS+ (acid 2,2 – azinobis – 3 ethyl benzothiazolin – 6 – sulfonic) [82]. Độc tính trên tế bào - Trên dòng tế bào ung thư biểu mô đại tràng ở người (WiDr Cell): + Cao chiết chiết EtOH 96% phân đoạn n-hexan được đánh giá tính ức chế tế bào theo phương pháp MTT, cho thấy cao chiết có độc tính với tế bào với IC50 = 64,105 µg/ml [75].
+ Cao chiết EtOH 96% phân đoạn hexan (8, 16, 24 và 32 μg/ml) được đánh giá bằng phương pháp dòng chảy tế bào cho thấy có tác dụng chặn chu kỳ tế bào trong các pha G0-G1, S và G2-M [90]. - Trên dòng tế bào ung thư vú MCF-7: Cao chiết EtOH 96% và các cao phân đoạn n-hexan, phân đoạn ethyl acetat, phân đoạn nước của hoa Đu đủ đực thu hái tại tỉnh Bắc Sumatra, Indonesia đã được đánh giá khả năng gây độc trên tế bào ung thư vú MCF-7 theo phương pháp MTT với IC₅₀ trong bảng dưới đây [62]. IC50 của cao chiết và các phân đoạn từ hoa Đu đủ đực trên dòng tế bào ung thư vú MCF-7 [62] Cao chiết EtOH 96% IC₅₀ = 55,875 μg/ml Phân đoạn n-hexan IC₅₀ = 101,282 μg/ml Phân đoạn etylacetat IC₅₀ = 148,692 μg/ml Phân đoạn nước IC₅₀ = 356,489 μg/ml - Trên dòng tế bào ung thư biểu mô gan Hep-G2: Cao chiết chiết xuất siêu âm có độc tính trên tế bào ung thư gan Hep-G2 với IC₅₀ là 56,63 ± 1,25 μg/ml [50] 1.