MỞ ĐẦU Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Có tới 3/4 diện tích của cả nước là rừng núi trùng điệp, địa hình chia cắt nên điều kiện khí hậu cũng rất đa dạng, có nhiều tiểu vùng khí hậu khá đặc trưng. Đất đai của cả nước đều thể hiện tính chất nhiệt đới ẩm điển hình, rất phức tạp, rất đa dạng về loại hình, về phân bố và về chất lượng. Những yếu tố đó tạo nên những điều kiện sinh thái, những thảm thực vật nhiệt đới rậm, ẩm, thường xanh, hoặc thưa, nửa rụng lá và cả các thảm thực vật mang tính cận nhiệt đới ở các khu vực núi cao.
Theo ước tính, Việt Nam có khoảng gần 13000 loài thực vật bậc cao có mạch trong đó có khoảng hơn 4000 loài được sử dụng làm thuốc. Đa số các loài thực vật đó đều sống hoang dại. Một số cây thuốc quý được nhập trồng phổ biến ở nhiều địa phương như bạc hà, bạch chỉ, bạch truật, đương quy, huyền sâm, ngưu tất, vân mộc hương, xuyên khung. cũng trở nên quen thuộc.
Ngoài sự phong phú về thành phần chủng loại, nguồn dược liệu Việt Nam còn có giá trị to lớn ở chỗ chúng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng để chữa nhiều chứng bệnh khác nhau. Các cây thuốc được sử dụng dưới hình thức độc vị hay phối hợp với nhau tạo nên các bài thuốc cổ phương, còn tồn tại và thịnh hành đến ngày nay. Ngoài ra, hàng trăm cây thuốc đã được khoa học y - dược hiện đại chứng minh về giá trị chữa bệnh của chúng. Nhiều loại thuốc được chiết xuất từ dược liệu Việt Nam như rutin, D-strophantin, berberin, palmatin, L- tetrahydropalmatin, artermisinin, các sản phẩm từ tinh dầu đã được sử dụng rộng rãi trong nước và xuất khẩu.
Xu hướng đi sâu nghiên cứu xác minh Y học cổ truyền và tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc từ dược liệu ngày càng được thế giới quan tâm. Việc sử dụng các hợp chất thiên nhiên và các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên làm dược phẩm chữa bệnh đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như cộng đồng bởi ưu điểm của chúng là độc tính thấp, dễ hấp thu và chuyển hóa trong cơ thể hơn so với các dược phẩm tổng hợp. -2- Mặc dù Ficus là một chi lớn, được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu và thể hiện nhiều hoạt tính sinh học quý báu, nhưng ở nước ta, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu mang tính hệ thống để tạo ra cơ sở khoa học phục vụ lâu dài. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu hoạt tính sinh học và thành phần hóa học một số loài thuộc chi Ficus ở Việt Nam", với mục tiêu và nội dung nghiên cứu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Nghiên cứu được thành phần các hợp chất trao đổi thứ cấp theo định hướng hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Sung (Ficus L. Đánh giá được hoạt tính sinh học (secondary bioassay) của các hợp chất đã phân lập được nhằm tìm kiếm các dược chất có triển vọng. Nội dung nghiên cứu: 1. Thu thập mẫu lượng lớn 04 loài Ficus là: F.
microcarpa để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo. Nghiên cứu phân lập các hợp chất trao đổi thứ cấp theo định hướng hoạt tính sinh học của các loài F. microcarpa sử dụng các phương pháp sắc ký. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ 4.
Đánh giá hoạt tính chống ôxi hóa (phương pháp ORAC) và hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase của các hợp chất. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. SƠ LƯỢC VỀ CHI SUNG (FICUS L.) Chi Sung (Ficus L.) là một chi lớn trong họ Dâu tằm (Moraceae), gồm các cây gỗ lớn, gỗ nhỏ, bụi và cả dây leo, phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới Nam và Bắc bán cầu. Người ta ước tính có khoảng 1000 loài thuộc chi này phân bố ở các nơi trên thế giới.
Các nước vùng Đông Nam và Nam châu á là nơi tập trung nhiều loài nhất. ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu đầy đủ về chi Sung (Ficus L. Phạm Hoàng Hộ đã nghiên cứu và mô tả 75 loài, 2 phân loài và 46 thứ. Theo những nghiên cứu gần đây của Nguyễn Tiến Bân thì chi này có thể có từ 100 đến 200 loài ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích et al., 2004; Nguyễn Tiến Bân et al.
Theo Lã Đình Mỡi, các loài thuộc chi Sung (Ficus L.) đều có mủ, đây là nguồn nguyên liệu làm thuốc có giá trị. Nhựa của của nhiều loài Ficus đã được dân địa phương ở nhiều nơi sử dụng để điều trị vết thương, chỗ bầm giập, mụn nhọt cho kết quả tốt. Ngoài ra, chúng còn được sử dụng để chữa viêm thấp khớp, chữa ho và tiêu chảy. Vỏ của các loài cây này thường được dùng trong y học cổ truyền để điều trị bệnh tiểu đường (Lã Đình Mỡi et al., 2005), rối loạn tiêu hóa và kháng viêm cũng như chữa lỵ.
Dưới đây là mô tả sơ lược một số loài Ficus phổ biến ở Việt Nam: - Cây sung Ficus racemosa Cây thân gỗ cao tới 25-30 m, đường kính thân cây tới 60-90 cm; hoa đơn tính cùng gốc. Vỏ thân cây màu nâu ánh xám, nhẵn. Các cành nhỏ, phiến lá non và chùm quả với các sợi lông cong xuống hay được che phủ rậm rạp bằng lông tơ mềm màu trắng. Các cành nhỏ màu nâu.
Các lá kèm hình trứng-mũi mác, dài 1,5-2 cm, có màng và lông tơ. Các lá sớm rụng, mọc so le; cuống lá dài 2-3 cm; phiến lá hình elip-trứng ngược, elip hay elip hẹp. Quả mọc thành chùm trên các cành nhỏ ngắn trên thân cây già, -4- đôi khi ở nách lá trên các cành non hay trên các cành nhỏ không lá đã già, mọc thành cặp, màu cam ánh đỏ khi chín, hình quả lê, đường kính 2-2,5 cm, phần gốc quả thu nhỏ thành cuống, lỗ chân lông trên đỉnh hình rốn, phẳng; cuống dài khoảng 1 cm; các lá bắc tổng bao hình tam giác-trứng. Các hoa đực và cái cũng như vú lá mọc ra trên cùng một cây.
Hoa đực: các lỗ chân lông cận đỉnh, không cuống; thùy của đài hoa 3 hay 4; nhị 2. Ra hoa trong khoảng tháng 5 tới tháng 7. - Cây Gừa Ficus microcarpa Cây gỗ nhỏ hoặc trung bình, thường xanh, cao 15-20(25) m, có hệ rễ khí sinh phát triển mạnh; vỏ ngoài màu xám. Lá mọc cách, phiến lá hình bầu dục - trứng hoặc gần hình trứng - bầu dục, kích thước 3-12 ´ 1,5-9 cm; gốc lá hình nêm, chóp lá tù hoặc hơi nhọn, mép lá nguyên, 5-9 đôi gân bên, thường nhẵn.
Sung mọc ở nách lá, thường từng đôi một, không cuống, gần hình cầu, đường kính chừng 8-12 mm, nhẵn, khi chín có màu tím hoặc thẫm. Cả hoa đực và hoa cái đều không cuống, bao hoa 3(4) mảnh, hoa đực chỉ có 1 nhị. - Cây Đa Ficus bengalensis Cây gỗ to, cao 10-30 m, có nhiều rễ phụ khí sinh; cành non có lông ngắn, dày. Lá có phiến xoan, dài 10-22 cm, gốc tròn hay hình tim, gân phụ 5-7 cặp, cuống dài 1-7 cm.
Quả sung từng cặp ở nách những lá đã rụng, tròn hay xoan, to 1,5 cm, không lông, màu đỏ đậm; lá bắc 3, có lông dày, hoa có bao mẫu 3-4, nhị 1. Cây trồng từ hạt nhanh chóng phát triển các rễ khí từ các cành cây và các rễ khí này sẽ phát triển thành thân cây thực thụ khi chúng chạm tới mặt đất. -5- - Cây ngái Ficus hispida Cây nhỡ, cao 5-7 m. Cành non có nhiều lông, nháp, màu nâu xám, cành già nhẵn.
Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc trái xoan, dài 11-20 cm, rộng 5-12 cm, gốc tròn, đầu tù có mũi nhọn ngắn, mép khía răng, có lông nháp ở cả hai mặt; lá kèm hình tam giác, có lông ngắn. Cụm hoa ở gốc thân và cành già gồm hoa đực và hoa cái; hoa đực rất nhiều ở đỉnh của cụm hoa, có 3 lá đài lõm, nhị 1; hoa cái có đài bao bọc lấy bầu, vòi có lông mềm. Quả phức, mềm, hình cầu, thót lại ở gốc, đầu bẹt vỏ có lông nháp. Mùa hoa quả tháng 5-10.
- Cây vú bò Ficus hirta Cây nhỡ, cao 1-2 m. Ngọn non có lông. Thân ít phân cành, có lông dày. Lá mọc so le, thường tập trung ở ngọn thân, hình bầu dục, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu thuôn nhọn, có 3-5 thùy (thường là 3), mặt trên nháp, mặt dưới có lông nhỏ, mép khía răng, gân gốc 3; cuống lá có lông dày, cứng; lá kèm hình ngọn giáo.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm hoa đực và hoa cái; hoa đực không cuống, lá đài 4, hình giải, dính nhau ở gốc, nhị 2, hoa cái có cuống, lá đài 4, thuôn tù, bầu hình trái xoan. Quả phức hình cầu, khi chín màu vàng. Mùa hoa quả: tháng 9-12. CÁC NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC CHI SUNG (FICUS L.
Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về hóa học và mối liên hệ với hoạt động sinh-dược học của các loài thuộc chi Sung (Ficus L.) cũng đã được thực hiện trong khoảng 50 năm gần -6- đây. Nhìn chung, các loài thuộc chi Sung (Ficus L.) thường có các nhóm hợp chất steroid, flavonoid, các triterpene, saponin, megastigman, các hợp chất phenol và một số hợp chất dễ bay hơi. Các nghiên cứu theo hướng kháng tế bào ung thư Năm 2001, các nhà khoa học Israel nghiên cứu thành phần hóa học từ mẫu nhựa loài F. carica và phân lập được hỗn hợp của các hợp chất 6-O-acyl-b-D- glucopyranosyl-b-sitosterol, với nhánh acyl chủ yếu là palmitoyl và linoleyl với lượng nhỏ là stearyl và oleyl.
Thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào cho thấy, các hợp chất này có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau như: MCF-7 (ung thư vú), Jurkat và HD-MAR (ung thư máu), DU-145 (ung thư tuyến tiền liệt). (Rubnov et al. Cũng trong năm 2001, một hợp chất norisoprenoid mới, ficustriol và một alkaloid dạng throindolizidine đã biết là O- methyltylophorinidine được phân lập từ cành và lá loài F. hispida mọc ở Thái Lan.
Hợp chất O-methyltylophorinidine thể hiện hoạt tính gây độc tế bào cao đối với các dòng tế bào ung thư được thử nghiệm là Col2 (ung thư ruột kết, ED50 = 0,02 mg/ml), Lu1 (ung thư phổi, ED50 = 0,018 mg/ml), KB (ung thư biểu mô, ED50 = 0,02 mg/ml) và LNCap (ung thư tuyến tiền liệt, ED50 = 0,03 mg/ml) (Peraza-Sasnchez et al. Vào năm 2005, ba hợp chất chromen, sáu hợp chất flavonoid, một hợp chất benzopyran và một hợp chất isocoumarin tiếp tục được các nhà khoa học Đài Loan phân lập từ mẫu thân cây F.