MỞ ĐẦU Việt Nam với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú với hơn 13.000 loài, trong đó có hơn một phần ba số loài có thể dùng làm thuốc. Nền Y học cổ truyền ở Việt Nam được phát triển từ rất lâu đời, việc sử dụng cây thuốc chủ yếu do kinh nghiệm dân gian truyền miệng hoặc được ghi chép lại. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học hiện đại, việc nghiên cứu phân lập, xác định cấu trúc hoạt chất tinh khiết và chứng minh tác dụng dược lý là rất cần thiết để cung cấp các bằng chứng khoa học về tác dụng trị liệu của cây thuốc cũng như tạo tiền đề cho việc phát triển các chế phẩm hiện đại phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh của người dân. Chi Rubus là một chi lớn trong họ Hoa hồng.
Ở Việt Nam, đa số các loài trong chi này mọc hoang, nhiều loài có quả ăn được và vài loài có tác dụng làm thuốc như Mâm xôi, Ngấy hương, Ngấy tía…Trong đó, cây Ngấy hương (Rubus cochinchinensis Tratt.) là một loài mọc hoang khá nhiều ở khu vực miền Trung và miền Bắc nước ta. Cành lá Ngấy hương đã được sử dụng trong dân gian như một vị thuốc hỗ trợ điều trị viêm gan, vàng da, ăn uống tiêu hóa kém. Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có một nghiên cứu thành phần hóa học của cây Ngấy hương (Trịnh Phương Liên và cộng sự, 1999) cho thấy trong cây chứa các hợp chất triterpen và chưa có một nghiên cứu nào đánh giá tác dụng sinh học của cây thuốc này. Do đó, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa của cây Ngấy hƣơng Rubus cochinchinensis Tratt., Rosaceae” với mục đích cung cấp thêm thông tin về thành phần hóa học và tác dụng dược lý cây thuốc, từ đó chứng minh các công dụng dân gian tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển cây thuốc trong tương lai.
Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng kháng viêm và chống oxy hóa của cây Ngấy hương. Mục tiêu cụ thể. - Khảo sát đặc điểm thực vật và vi học. - Chiết xuất, phân tách phân đoạn, phân lập các hợp chất, xác định cấu trúc các hợp chất được phân lập.
- Khảo sát tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa, các cao chiết và các hợp chất được phân lập. Triển vọng của đề tài luận văn Bổ sung thêm thông tin về thành phần hóa học của cây Ngấy hương và các tác dụng sinh học tiềm năng của cây, tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển cây thuốc trong tương lai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm thực vật: 1.1 Vị trí phân loại và phân bố Theo Phạm Hoàng Hộ [6] và hệ thống phân loại thực vật có hoa của Armen Takhtajan (2009) [60], vị trí phân loại của chi Rubus (Mâm xôi) như sau: Giới Thực vật Plantae Ngành Ngọc lan Magnoliophyta Lớp Ngọc lan Magnoliopsida Phân lớp Hoa hồng Rosidae Bộ Hoa hồng Rosales Họ Hoa hồng Rosaceae Phân họ Hoa hồng Rosoidae Chi Rubus Chi Rubus có khoảng 700 loài trên toàn thế giới, phân bố nhiều ở vùng ôn đới phía bắc bán cầu, vài loài hiện diện đến phía nam bán cầu. Ở Trung Quốc có khoảng 208 loài trong đó có 139 loài đặc hữu [46].
Ở Việt Nam có khoảng 55 loài [6]. Đa số cây mọc hoang và một số loài được trồng làm cây ăn quả. Trái được ăn sống hoặc làm mứt, thạch, kẹo, nước giải khát, rượu vang và giấm [46].2 Đặc điểm thực vật Thân: bụi hoặc bụi nhỏ, lá rụng hàng năm, hiếm khi xanh quanh năm hoặc rụng một nửa, đôi khi là dạng thân leo thấp, sống lâu năm. Thân gỗ, cứng, mọc leo, uốn cong hoặc mọc bò trên mặt đất, thân nhẵn hoặc có lông, thường có gai hoặc lông cứng, đôi khi có lông tiết.
Lá: mọc cách, có cuống, lá đơn, kép chân vịt hoặc kép lông chim, chẻ hoặc không chẻ thùy, có răng cưa, nhẵn hoặc có lông, đôi khi có lông tiết, lông cứng. hoặc tuyến tiết; lá kèm tồn tại có thể cùng tăng trưởng với cuống lá, không chia thùy hoặc đôi khi chia thùy, tồn tại hoặc rụng sớm, mọc ở gần gốc của cuống hoặc điểm nối của thân và cuống, rời, thường chẻ một phần, đôi khi chẻ hoàn toàn. Hoa: lưỡng tính, hiếm khi hoa đơn tính hoặc cây đơn tính, hoa tự kiểu chùm xim, chùm hoặc ngù, hoặc một cụm vài hoa hoặc hoa đơn độc. Cánh hoa rộng, đôi khi ngắn, ống rộng, lá đài tồn tại, thẳng đứng hoặc lật ngược ra sau, 4 hoặc 5 cho đến 8 lá đài.
Số lượng cánh hoa thường 5, hiếm khi nhiều hơn, đôi khi không cánh, cánh màu trắng, hồng hay đỏ, nhẵn hay có lông, bìa phiến nguyên, hiếm khi đầu lõm. Bộ nhị: nhiều nhị, đôi khi có vài nhị, được đính ở miệng của đế hoa lõm hình chén; chỉ nhị dạng sợi, bao phấn 2 ô. Bộ nhụy: nhiều lá noãn, hiếm khi ít, được đính trên một đế hoa lồi, mỗi lá noãn trở thành một quả hạch con hoặc quả bế; bầu 1 ô, 2 noãn, chỉ 1 noãn phát triển, đính sát bên, treo lỏng lẻo, vòi nhụy dạng chỉ, gần đỉnh, nhẵn hay có lông, 1 đầu nhụy, hình khối cầu có nhiều lông. Quả: nhiều quả thịt hay quả bế tập hợp trên đế hoa hình bán cầu, hình nón hoặc hình trụ tạo thành quả tụ, tách rời từ đế hoa và tụ họp lõm xuống, hoặc đồng tăng trưởng với đế hoa và tách ra đính kèm kế hoa khi quả lớn và quả tụ cứng.
Hạt: treo, vỏ hạt cứng, lá mầm lồi [6], [46].1: Danh sách các loài Rubus ở Việt Nam [6] STT Tên Việt Nam Tên latin Phân bố 1 Mâm xôi R. Bắc Kạn đến Đà Lạt, mọi độ cao 2 Dum núi cao R. Fangsipan 3 Dum Trung bộ R. Lâm Đồng 4 Dum Assam R.
Lào Cai, Lai Châu, Vĩnh Phúc, Bình Định 5 Dum gân râu R. Lâm Đồng, núi Chứa chan 6 - R.caudatisepalus Hiệp & Yak Lào Cai, Bắc Kạn, Thái Nguyên 7 Dum mang tơ R. Lào Cai, Hà Tây, Hòa Bình 8 Dum Chevalier R. KonTum, Lâm Đồng 9 Dum đài cứng R.
Lào Cai 10 Ngấy hương R. Cao Bằng, Lạng Sơn đến Bảo Lộc 11 Ngấy trắng R. glabrescens Huế, Đà Nẵng Card. STT Tên Việt Nam Tên latin Phân bố 14 Dum không đổi R.
Sapa 15 Dum Fedde R. Bắc Kạn 16 Dum dừ R. Lào Cai, Langbian 17 - R. Lào Cai 19 Dum R.
Lào Cai 20 Dum trần R. Lào Cai, Sapa 21 Dum cách R. Sapa 22 Dum tổng bao R.f Núi cao 900 – 1200 m 24 Dum thưa R. Lào Cai 25 Dum hoa trắng R.
Cao Bằng, Lạng Sơn, Huế - Sài Gòn 26 Dum mép R.ligulatifolius Hiệp & Yak. Sapa 27 Dum sọc R. Lào Cai 28 Dum bụp R.malvaceus Focke Huế 29 Dum đảo Moluc R. moluccanus Phú Quốc 30 Dum góc tà R.
obtusangulus Lào Cai Miq. Phú Quốc 32 Dum biến màu R. Lào Cai, Huế, Quảng Nam, núi Bạch Mã 33 Ngấy nhiều lá bắc R. Lào Cai đến Langbian 34 Dum tuyết R.
Lào Cai đến Kon Tum, Langbian 35 Dum tim R. Lào Cai, Lai Châu, Langbian 36 Dum trứng R. Lào Cai 37 Dây lô R. Vùng núi cao 1300 – 1600 m, Nha Trang 38 Ngấy lá nhỏ R.
Cao Bằng, Lạng Sơn đến Thanh Hóa 39 Dum ngũ giác R. Sapa 40 Dum sáng R. Núi cao, sông Đahoai 41 Dum bầu dục R. Cao Bằng, Lạng Sơn, Sapa 42 Dum lá xẻ R.
Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Gia Lai, Kon Tum 43 Dum nhiều tuyến R. Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai 44 Dum lá lê R. Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình 45 Dum lận ngược R. Lạng Sơn 46 Dum lá hường R.
Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn 47 Dum đỏ R. Sapa 48 Dum nhám R. Bắc Kạn, Kon Tum vào trong nam 49 - R.sapaensis Hiệp & Yak. Rừng chồi, độ cao 500 trở lên 51 Dum Tam đảo R.tamdaoensis Hiệp & Yakolef.
Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Ba Vì 52 Dum Bắc bộ R. Sapa, vùng núi độ cao 1800 – 2000 m. STT Tên Việt Nam Tên latin Phân bố 53 Dum ba hoa R. Kontum, Lâm Đồng 54 - R.truncatifolius Hiệp & Yak.
Cao Bằng, Sapa 55 Dum lạ R. Lào Cai, Bắc Kạn Rubus alceaefolius Poiret. Mâm xôi, Đùm đũm [4] Dum lá bố [4] Rubus niveus Thunb. Rubus obcordatus (Franch.
Dum tuyết, Ngấy tuyết [4] Dum tim, Ngấy lá tim [4] Rubus rosaefolius J. Rubus sorbifolius Maxim. Rubus coreanus Miq. Mâm xôi đỏ châu Âu, phúc bồn tử [9] Mâm xôi Triều Tiên [9] Rubus chingii Hu.
Mâm xôi Trung Quốc [58] Ngấy lá nhỏ [27] Hình 1.1: Một số loài thuộc chi Rubus 1.2 Thành phần hóa học Từ năm 1970 đến nay, có hơn 340 hợp chất đã được phân lập từ chi Rubus, bao gồm terpenoid, flavonoid, phenylpropanoid, phenol và các hợp chất khác, trong đó flavonoid và terpenoid chiếm ưu thế [42].1 Tritrpenoid Khung Oleanan: là thành phần hiện diện khá nhiều trong chi Rubus. Các nhóm thế khác nhau ở C-2, C-3, C-19, C-23, C-24 và C-28, trong đó có thể gặp các nhóm COOGlc, COOH và OH. Ngoài ra, nhóm OH có thể cũng được tìm thấy tại C-1, C- 7, C-16, C-22 hoặc C-29. Năm 2016, Zhang Xu và cộng sự phân lập được 2 tritrpen khung oleanan mới từ rễ cây R.
parvifolius là parvifolacton A (2α,3α-dihydroxyolean-11,13(18)-dien- 19β,28-olid) và rubusid P (acid 2α,3α,19α-trihydroxy-23-oxo-olean-12-en-28-oic glucosid) [68]. Parvifolacton A Rubusid P Khung Ursan: cũng hiện diện rất nhiều trong chi Rubus. Trong nhóm này, hầu như tất cả các hợp chất đều có nhóm carboxyl ở vị trí 28, một số hợp chất được ester hóa với glucose hoặc các dẫn xuất của glucose. Các nhóm thế tại C-2, C-3, C- 19, C-23 và C-24 tương tự như các tritrpenoid khung oleanan [42].
Nhóm thế AcO có thể thấy ở C-2 như niga-ichigosid F3 trong R.: niga-ichigosid F3 Ngoài các nhóm thế trên, arabinopyranosyl, coumaroyl hoặc feruloyl có thể được tìm thấy tại C-3: .2: Một số hợp chất khung ursan trong chi Rubus Tên hợp chất R1 R2 R3 Nguồn gốc Acid 3-O-β-D- H Ara-O H R. arabinopyranosylpomolic Acid 3-O-p-coumaroylpomolic H p-Cou-O H R. Acid 3β-O-(trans-ferulyl)- OH trans-p-Fer- H R. 2α,19α-dihydroxyurs-12-en- O 28-oic Ziyu-glycosid H Ara-O Glc R.
Vài hợp chất cấu trúc đặc trưng có nhóm oxo ở C-2 (acid 2-oxopomolic) hoặc C- 3 (acid fupenzic): acid 2-oxopomolic acid fupenizic Một số hợp chất có 2 liên kết π trong khung ursan ở các vị trí: ∆12-13, ∆13-18, ∆18-19, ∆19-20, hay ∆20-29 , thêm vòng vào khung hoặc cắt C-18, C-19. acid 2,3-O-isopropylidenyl-2α,3α- acid 2,3-O-isopropylidenyl-2α,3α- dihydroxyurs-12,18-dien-28-oic dihydroxyurs-12,19-dien-28-oic. acid swinhoeic Dạng dimer: Bảng 1.3: Một số hợp chất khung ursan dạng dimer trong chi Rubus Tên hợp chất R1 R2 Nguồn Coreanosid F1 Glc COOH R. Rubupundenosid A 6’-MeO-Glc HO-CH2 R.
oldhamii Rubupundenosid B 6’-MeO-Glc HO-CH2 R. oldhamii Khung Lupan: Nhóm này tương đối hiếm, cho đến nay có 5 hợp chất được phân lập từ các loài R.