mở đầu của nó nằm ngay sau môn vị với nhiều lớp cơ vòng đóng mở theo phản xạ có hay không có thức ăn ở dạ dày. Phần trên hay khúc I tá tràng có độ dài khoảng 5 cm, hơi chếch lên trên ra sau và sang phải, ngang mức đốt sống thắt lưng I. 2/3 đầu di động cùng môn vị và phình to thành bóng tá tràng hay còn gọi là “Hành tá tràng”. Dạ dày và tá tràng đều nằm ở vùng thượng vị, do đặc điểm giải phẫu này nên khi dạ dày - tá tràng bị loét thì có triệu chứng lâm sàng chính là đau vùng thượng vị.
Hệ thống tuần hoàn mao mạch của tá tràng dày đặc và nằm rất nông, ngay dưới lớp tế bào biểu mô, do đó khi viêm loét tá tràng dễ có biến chứng chảy máu. TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information. 4 Hệ thống thần kinh ở tá tràng cũng rất dày đặc và tập trung.
Đó là các phân nhánh của dây thần kinh X, chúng được tập trung phân bố dọc theo bờ cong nhỏ rồi xuống tá tràng. Hệ thần kinh này rất quan trọng vì nó chỉ huy và điều khiển hoạt động như cảm giác, co bóp vận động và bài tiết của dạ dày. Hệ thần kinh này bị rối loạn sẽ dẫn tới tình trạng bệnh lý như cường thần kinh thực vật làm tăng bài tiết HCl - yếu tố chính gây viêm loét dạ dày - tá tràng [18], [19], [20], [21], [22]. Cấu trúc mô học và tế bào học tá tràng Đặc điểm mô học của tá tràng là lớp dưới niêm mạc có khá nhiều những sợi cơ.
Biểu mô niêm mạc tá tràng có đặc điểm là biểu mô trụ trơn, trong đó có 3 loại tế bào, bao gồm: Các tế bào hấp thu Các tế bào hấp thu chiếm tỷ lệ nhiều nhất. Mặt ngọn của tế bào này có rất nhiều vi nhung mao dài, song song với nhau và rất gần nhau, dưới kính hiển vi điện tử thấy mật độ của chúng là dày đặc. Tế bào hình dài Các tế bào hình dài nằm xen giữa các tế bào hấp thu, chiếm tỷ lệ ít hơn. Trên mặt tế bào này chỉ có một số vi nhung mao ngắn, thưa thớt, nhưng phần cực trên của chúng phình ra chứa các giọt chất nhày, phần lớn các hạt nhày là thuần nhất trong đó thành phần chính là bicarbonat.
Tế bào nội tiết Tế bào nội tiết chiếm một tỷ lệ rất thấp, cực ngọn hẹp, trên mặt tự do của chúng rất ít vi nhung mao. Đặc điểm nổi bật của loại tế bào này là các hạt chế tiết thuần nhất, sẫm màu, có hình dáng và kích thước đa dạng, to nhỏ khác nhau. Như vậy ở tá tràng không có hiện diện của tế bào chế tiết acid mà chỉ có các tế bào bài tiết chất nhày, bicarbonat là những yếu tố bảo vệ chống loét. TRIAL MODE − a valid license will remove this message.
See the keywords property of this PDF for more information. 5 Tuy nhiên, tại đây chịu ảnh hưởng của acid clohydric từ dịch vị đổ xuống, ảnh hưởng của dịch mật, dịch tuỵ trong đó có acid mật và muối mật; các tế bào nội tiết của tá tràng cũng bài tiết ra entero-gastrin, chất này vào máu quay lại dạ dày kích thích các tế bào thành sản xuất ra HCl [18], [23], [24], [25], [26]. Từ những đặc điểm nêu trên, cho thấy bệnh loét tá tràng phụ thuộc rất nhiều vào độ pH của dịch vị ở dạ dày đổ xuống tá tràng. Đặc điểm về giải phẫu, sinh lý, cấu trúc mô học và tế bào học của dạ dày Đặc điểm về giải phẫu Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa nằm giữa thực quản và tá tràng, nó nằm trong khoang dưới hoành trái, trên mạc treo đại tràng ngang.
+ Cấu tạo và hình thể bên trong dạ dày Thành dạ dày được chia thành 4 lớp: Lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc, lớp niêm mạc [18], [19], [21], [22]. Cấu tạo mô học và tế bào học của niêm mạc dạ dày Dịch vị được các tuyến của dạ dày tiết ra phủ mặt trong dạ dày là lớp chất nhày dày tới 1mm, dưới đó là lớp niêm mạc cũng dày 1mm, với lớp tế bào biểu mô lợp. Dưới biểu mô là các tế bào tiết của dạ dày. Các tế bào tiết có thể tập hợp để tạo ra cấu trúc tuyến (như ở thân vị) cũng có thể nằm rải rác, dày đặc hoặc thưa thớt (như ở hang vị và thân vị) [23], [24], [25].
Tuyến ở thân vị: Mỗi ống tuyến của thân vị có các loại tế bào chủ yếu sau: - Tế bào nhày (mucous cell) tiết chất nhày có tính kiềm. Có tác dụng bôi trơn, che phủ bảo vệ niêm mạc khỏi tác động của acid. - Tế bào thành hay tế bào viền, tế bào sinh acid (parietal cell) tiết ra HCl và yếu tố nội. Vai trò của acid là diệt khuẩn, hoạt hoá pepsinogen tạo pH tối ưu (1,8 - 3,5) cho pepsin hoạt động.
TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information. 6 - Tế bào chính (chief cell) tiết pepsinogen - tiền thân của pepsin có tác dụng tiêu hoá protein. Do vậy tế bào này có tên là “tế bào tiêu”.
- Tế bào gốc (stem cell) có khả năng phân bào mạnh, biệt hoá tạo thành các loại tế bào tuyến. - Tế bào ECL (Entero Chromaffin Like) tiết histamin. Histamin có tác dụng kích thích tế bào thành tiết ra acid và làm co cơ trơn dạ dày. - Tế bào D (delta cell), có vai trò là kìm hãm tiết acid khi nồng độ acid trong dạ dày đủ hay quá cao.
Tuyến ở hang vị Niêm mạc vùng hang vị có diện tích hẹp hơn thân vị, nhưng về vi thể có nếp gấp nhỏ hơn và sâu hơn so với ở thân vị làm tăng diện tích bề mặt lên hàng chục lần. - Tế bào nhày (mucous cell): Phủ bề mặt niêm mạc và tiết ra chất nhày cũng như ở vùng thân vị (ngoại tiết). Các tế bào khác vùi dưới niêm mạc hoặc chỉ tiếp xúc tối thiểu với khoang dạ dày, gồm có: - Tế bào G (G cell) tiết gastrin vào máu. Tác dụng của gastrin là kích thích tế bào thành tiết ra acid.
- Tế bào D (delta cell): Như nêu ở trên là tế bào kìm hãm tiết acid khi nồng độ acid trong dạ dày đủ hay quá cao. -Tế bào ruột bắt màu Ec: là té bào bài tiết serotonin. - Tế bào A: là tế bào bài tiết glucagon. Sinh lý dạ dày: Dạ dày gồm có 3 chức năng sinh lý như sau: Chức năng vận động, chức năng tiêu hóa và chức năng bài tiết.
Trung bình một ngày dạ dày bài tiết: 1-1,5 lít dịch vị, enzym (pepsinogen và pepsin), glycoprotein, yếu tố nội và acid. Sự bài tiết dịch vị cũng chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố: Tác động của thần kinh phế vị và yếu tố thể dịch. TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.
7 Sự bài tiết dịch vị qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn vỏ não: Vai trò thần kinh thể dịch. - Giai đoạn dạ dày: Dạ dày bị kích thích bởi thức ăn, bởi sự căng vùng thân và hang vị. Hoặc dạ dày bị ức chế, H+ kìm hãm sự giải phóng gastrin. - Giai đoạn ruột: Giãn tá tràng sẽ gây tăng bài tiết [1], [23], [25].
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh loét dạ dày, hành tá tràng Loét dạ dày, hành tá tràng là một bệnh khá phổ biến có ở mọi nước trên thế giới. Bệnh có đặc điểm mạn tính hay tái phát. Loét dạ dày, hành tá tràng được định nghĩa là “thương tổn của lớp niêm mạc, xuyên qua lớp cơ niêm xuống đến lớp cơ” [2], [27]. Nhiều giả thuyết về nguyên nhân, bệnh sinh của bệnh loét dạ dày, hành tá tràng đã được đề cập đến, như: Thuyết về rối loạn thần kinh thực vật của G.
Berrgaman (1913); thuyết vỏ não nội tạng của K. Kursin (1952); thuyết "stress" của H. Các quan sát từ thực nghiệm, lâm sàng và điều trị, không thể phủ nhận ý kiến này. Từ đó cho tới những năm 1980, thuyết này đã chi phối các phương pháp điều trị nội khoa [4].
Trong các thập kỷ của thế kỷ XX người ta đề cập nhiều đến vai trò của yếu tố thần kinh và yếu tố thể dịch. Đến năm 1983 các nhà khoa học đã phát hiện trong dạ dày, tá tràng có loại trực khuẩn hình cong tên là Helicobacter pylori và đã chứng minh nó là một trong những nguyên nhân chính gây loét dạ dày, hành tá tràng. Các thuyết này đều đưa ra để giải thích cơ chế hình thành ổ loét, nhưng không có một cơ chế duy nhất cho bệnh loét. Quan điểm hiện nay cho rằng có thể xem bệnh dạ dày, hành tá tràng có nhiều cơ chế và nhiều nguyên nhân gây ra cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm.
TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information. 8 - Vai trò của acid clohydric (HCl) - pepsin: Đối với tiêu hóa thì acid clohydric rất cần thiết cho tiêu hóa nhưng cũng là tác nhân gây bệnh loét dạ dày tá tràng. Pepsin có chức năng tiêu protein thức ăn, nhưng nó cũng có mặt trái là ăn mòn lớp màng nhày phủ trên bề mặt niêm mạc.
Cơ sở của việc tạo ra ổ loét ở niêm mạc dạ dày, hành tá tràng là quá trình phá huỷ mô do dịch dạ dày có độ acid cao và hoạt tính phân giải protein khi dinh dưỡng tại chỗ bị rối loạn, chính vì vậy trong một thời gian dài nhiều tác giả cho rằng “Không có acid thì không loét”. Tuy nhiên, không phải cứ tăng tiết HCl là có loét, bởi vì có khoảng 1/3 bệnh nhân bị loét dạ dày, hành tá tràng, nhưng không thấy tăng HCl [1], [2], [22], [23], [24]. - Vai trò của Helicobacter pylori Năm 1983 Marshall và Warren mới nuôi cấy thành công và chứng minh vai trò gây bệnh của vi khuẩn sống trong niêm mạc dạ dày được gọi là Helicobacter pylori. Helicobacter pylori (HP) là trực khuẩn hình cong có kích thước từ 0,4 x 3 micron, có từ 4-6 roi mảnh ở 1 đầu.
Nhờ có cấu trúc xoắn và các roi này, Helicobacter pylori có khả năng di chuyển luồn sâu xuống dưới lớp nhầy của bề mặt niêm mạc dạ dày. Helicobacter pylori tiết ra các enzym: Catalase, oxydase, urease, phosphatase - kiềm, glutamin transferase, lipase, protease…Trong các enzym nói trên đáng chú ý nhất là urease. Trong dạ dày, Helicobacter pylori sản sinh trong môi trường acid một lượng urease rất lớn, chỉ có Helicobacter pylori sống được trong môi trường acid mạnh của dạ dày (pH = 1-2).