ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn tâm thần (RLTT) là một trong những nguyên nhân bệnh tật quan trọng. Theo một phân tích tổng hợp từ 174 nghiên cứu tiến hành trên 63 quốc gia từ 1980 đến 2013, 29,2% đối tượng nghiên cứu thừa nhận có vấn đề sức khoẻ tâm thần tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ, 17,6% có RLTT trong năm vừa qua. Thường gặp nhất là rối loạn lo âu (RLLA) với 6,1 – 7,9% [92]. Sadock và cộng sự cho rằng trầm cảm chủ yếu cũng là một RLTT khá phổ biến, với tỷ lệ bệnh trong suốt cuộc đời là 15% [86].
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho rằng các sang chấn tâm lý là yếu tố khởi phát hay thúc đẩy trầm cảm và lo âu [2]. Ghi nhận 20 – 25% bệnh nhân trầm cảm có yếu tố thúc đẩy là sang chấn tâm lý [100]. Ở nước ta, điều tra 10 RLTT thường gặp tại 8 vùng sinh thái khác nhau trên toàn quốc (2001 – 2003) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 14,9% dân số, trong đó trầm cảm 2,8%, RLLA 2,6%. Tỷ lệ này khác nhau theo từng vùng miền, từng ngành nghề cũng như nguy cơ tiếp xúc các sang chấn tâm lý [80].
Nhân viên y tế (NVYT) có điều kiện lao động rất đặc thù làm ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần và thể chất của các NVYT. Đặc biệt, điều dưỡng (ĐD) chiếm số lượng lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong thành công của hệ thống chăm sóc sức khỏe, thường xuyên đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, với phản ứng tiêu cực của bệnh nhân và thân nhân… [41] So với những ngành nghề khác, nguy cơ mắc RLTT ở NVYT cao gấp 1,5 lần và ở ĐD cao hơn nữa [101]. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress ở ĐD cao [33, 84, 96], điều đó làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các bệnh lý tim mạch ở các đối tượng này [29, 30, 36, 46]. Tại Việt Nam, do tình trạng quá tải ở hầu hết các bệnh viện (BV) trên toàn quốc, sức ép công việc quá lớn khiến tỷ lệ ĐD bị stress rất cao.
Các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ stress ở ĐD là 18,1 – 40,5% [3-5, 11, 13, 14, 16]. Stress, trầm cảm, lo âu ở ĐD còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như sai lầm trong chăm sóc bệnh nhân, giao tiếp không tốt với bệnh nhân và thân nhân cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân và cuộc sống gia đình của ĐD. Trong khi đó, báo cáo của ngành y tế tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) ghi nhận, số trường hợp điều trị nội trú ngày càng gia tăng.704 trường hợp, đến năm 2012 có 1.425 trường hợp. Sự gia tăng này làm cho NVYT, đặc biệt ĐD ở TP.HCM trở thành đối tượng nguy cơ của stress, trầm cảm, RLLA.
Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đã công bố hoặc khảo sát độc lập (không cùng lúc) 3 RLTT trên hoặc khảo sát ngoài TP. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng” ở TP.HCM nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu ở ĐD TP. Chúng tôi mong muốn các kết quả nghiên cứu sẽ làm tiền đề cho các nghiên cứu liên quan đến phòng chống stress, trầm cảm, lo âu và bảo vệ sức khoẻ cho ĐD TP.HCM sau này, đối tượng quan trọng có nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ người bệnh. -3- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát tình trạng stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng các khoa nội tại 2 bệnh viện ở TP.
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Xác định tỷ lệ và mức độ stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng các khoa nội. Khảo sát mối liên quan của stress, trầm cảm, lo âu với các yếu tố dân số học (giới, tuổi), xã hội học (nơi cư trú, tình trạng gia đình, kinh tế gia đình, trình độ học vấn), đặc tính công việc (bệnh viện, khoa phòng công tác , thời gian lao động, lương bổng, chức vụ, khối lượng công việc, môi trường làm việc) , mối quan hệ trong công việc (với lãnh đạo, đồng nghiệp, bệnh nhân và thân nhân). Định nghĩa Thuật ngữ stress bắt nguồn từ chữ Latin “stringi” nghĩa là bị kéo căng ra, được sử dụng đầu tiên trong vật lý để chỉ sức nén một vật liệu phải chịu đựng.
Sau đó, thuật ngữ này sử dụng trong sinh lý học và đời sống. Đến 1956, bác sĩ Hans Selye đưa ra định nghĩa stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ sự thay đổi nào. Những phản ứng này về sau đổi là “triệu chứng thích ứng chung” hay “triệu chứng stress sinh học”. Bên cạnh đó, stress còn mang ý nghĩa sang chấn tâm lý.
Đó là tất cả những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần, gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng… Các rối loạn liên quan đến stress rất đa dạng và thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trong những năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội. Các rối loạn liên quan đến stress bao gồm phản ứng cấp với stress, rối loạn stress sau sang chấn và rối loạn thích ứng. Bởi vì phản ứng cấp với stress và rối loạn stress sau sang chấn thường liên quan đến một sang chấn rất mạnh như chiến tranh, thiên tai, cháy nhà, bị hành hung cưỡng hiếp hay tra tấn, tiêu tan sự nghiệp… [15] Vì thế, dạng rối loạn liên quan đến stress đề cập trong luận văn chúng tôi là rối loạn thích ứng. Rối loạn thích ứng là sự xuất hiện các rối loạn rõ rệt về cảm xúc hoặc hành vi sau một hay nhiều sang chấn tâm lý.
Phản ứng này được xem như là sự đau khổ vượt quá mức so với tính chất sang chấn, ảnh hưởng rõ rệt trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc học tập của người bệnh [15]. Khi yếu tố sang chấn chấm dứt, rối loạn thích ứng sẽ thoái lui. Nếu yếu tố sang chấn còn tồn tại thì sẽ hình thành một mức thích nghi mới. Dịch tễ học Rối loạn thích ứng là RLTT thường gặp nhưng không có tỷ lệ mắc bệnh chính xác [21].
Tỷ lệ rối loạn thích ứng thay đổi tuỳ thuộc cộng đồng nghiên cứu và phương pháp đánh giá. Strain JJ và cộng sự nghiên cứu trên 1.039 đối tượng từ các cơ sở CLP (Consultation Liason Psychiatry) ở Mỹ, Canada, Úc ghi nhận tỷ lệ rối loạn thích ứng là 12% [95]. Trong khi đó tỷ lệ ghi nhận ở 11 quốc gia châu Âu là 10,6%. Ở Việt Nam, dữ liệu về rối loạn thích ứng còn ít.
Theo ghi nhận của BV Tâm thần TP.HCM, số bệnh nhân đến khám về các rối loạn liên quan đến stress càng tăng cao.180 bệnh nhân, tăng 19,4%.911 bệnh nhân, tăng 24,8% so với năm 2010. Tác nhân Sang chấn tâm lý là những tình huống gây ra sự mất thăng bằng ảnh hưởng cơ thể và tâm lý cho con người. Trong môi trường tự nhiên bao gồm các hoàn cảnh như quá nóng, quá lạnh. Trong tâm lý cá nhân, các tình huống như xâm phạm quyền lợi, địa vị, xung đột với người yêu, mất mát, chia ly, mâu thuẫn vợ chồng, … thường gây bệnh nhiều nhất.
Trong tâm lý xã hội như bùng nổ dân số, xung đột (thế hệ, văn hoá, tôn giáo, sắc tộc), tệ nạn xã hội, di cư, chiến tranh, … Nền văn minh công nghiệp như nhịp sống và lao động khẩn trương, nguồn thông tin dồn dập, quá tải, cạnh tranh ác liệt, kỹ thuật luôn đổi mới và đô thị hoá vô tổ chức cũng là các tình huống gây stress đối với các cá thể phải đối mặt với hoàn cảnh đó. Nhân tố tố bẩm hoặc tính dễ bị tổn thương đóng vai trò lớn trong rối loạn này nhưng yếu tố sang chấn vẫn là quyết định. Nhiều nghiên cứu ghi nhận các cá thể sau dễ mắc rối loạn thích ứng: - Tuổi trẻ do thiếu kinh nghiệm thích nghi với các sang chấn. - Thu nhập thấp.
- Thời thơ ấu hay bị đánh đập hay bị bố mẹ kiểm soát quá mức. - Tiếp xúc cùng lúc nhiều sang chấn khác nhau. - Lạm dụng hoá chất. -6- Trong khi đó, các đối tượng có trình độ học vấn cao hay kết hôn dường như ít mắc rối loạn thích ứng hơn [72].
Tác động Rối loạn thích ứng thường hồi phục sau vài tháng [18], hiếm khi kéo dài. Một nghiên cứu ở trẻ em Mỹ có rối loạn thích ứng, thời gian mắc bệnh trung bình 7 tháng và 97% hồi phục [64]. Tình trạng bệnh nhẹ hơn, khả năng mất sức lao động ít hơn, cũng như thời gian nhập viện ngắn hơn, khả năng hồi phục quay lại làm việc cao hơn khi so sánh với các dạng rối loạn khác [68]. Gần 70% bệnh nhân có rối loạn thích ứng kèm theo một RLTT khác như rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể… [43] Suy nghĩ và hành vi tự tử gia tăng ở các đối tượng có rối loạn thích ứng.
Nghiên cứu của Gradus và cộng sự ghi nhận tỷ lệ tự tử ở các đối tượng rối loạn thích ứng cao gấp 12 lần so với người không mắc bệnh [51]. Tuy nhiên khuynh hướng tự tử lại thấp hơn các dạng RLTT khác [31]. So với các dạng RLTT khác, rối loạn thích ứng có tỷ lệ bệnh nhân có hội chứng tự làm tổn thương mình cao hơn [98]. Cũng tương tự, nguy cơ nghiện các chất tăng lên ở các đối tượng có rối loạn thích ứng.
Một nghiên cứu ghi nhận 59% bệnh nhân xuất viện với chẩn đoán nghiện các chất có rối loạn thích ứng kèm theo [53]. Chẩn đoán Rối loạn thích ứng được chẩn đoán xác định bởi sự hiện diện các triệu chứng cảm xúc và hành vi xảy ra kể từ khi có yếu tố sang chấn trong vòng 3 tháng theo DSM IV hay trong vòng 1 tháng theo ICD 10 nhưng không kéo dài quá 6 tháng sau khi sang chấn chấm dứt. Các thang đo tầm soát được sử dụng hiện nay là: PSS (Perceived Stress Scale), SRRS (Social Readjustment) thường gọi là Homes and Rahe Stress Scale, GHQ (General Health Questionaire). Định nghĩa Trầm cảm là một rối loạn khí sắc kéo dài ảnh hưởng đến khả năng của con người trong công việc, học tập và duy trì các mối quan hệ cá nhân hằng ngày.
Các nét đặc trưng để chẩn đoán bao gồm giảm khí sắc, mất quan tâm hứng thú; thường có triệu chứng kết hợp như rối loạn giấc ngủ, cảm giác tội lỗi, mệt mỏi, giảm ham muốn tình dục, chậm chạp trong hoạt động và ngôn ngủ, ăn không ngon, khó tập trung chú ý [20, 105].