Nghiên Cứu Stress, Trầm Cảm và Lo Âu Ở Điều Dưỡng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Chuyên khảo phân tích Stress trầm cảm lo âu ở điều dưỡng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2016

98
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

2.2. MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT

3. ĐỊNH NGHĨA THUẬT NGỮ

3.1. Định nghĩa stress

3.2. Dịch tễ học stress

3.3. Tác nhân stress

3.4. Tác động stress

3.5. Chẩn đoán stress

3.6. Định nghĩa trầm cảm

3.7. Dịch tễ học trầm cảm

3.8. Tác nhân trầm cảm

3.9. Tác động trầm cảm

3.10. Chẩn đoán trầm cảm

3.11. Định nghĩa lo âu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Mẫu Thu Thập Số Liệu

Phụ lục 2. Thang đánh giá Stress - Trầm cảm – Lo âu (DASS 21)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Stress Trầm Cảm Lo Âu Ở Điều Dưỡng

Rối loạn tâm thần (RLTT) là một vấn đề sức khỏe quan trọng. Một phân tích tổng hợp cho thấy gần 30% dân số thừa nhận có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Thường gặp nhất là rối loạn lo âu (RLLA) và trầm cảm. Các sang chấn tâm lý có thể là yếu tố thúc đẩy trầm cảmlo âu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc RLTT là 14.9%, trong đó trầm cảm và RLLA chiếm tỷ lệ đáng kể. Nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, đối mặt với nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. So với các ngành nghề khác, nguy cơ mắc RLTT ở NVYT cao hơn. Tình trạng quá tải công việc tại các bệnh viện ở TP.HCM khiến điều dưỡng trở thành đối tượng nguy cơ cao của stress, trầm cảm, và RLLA. Nghiên cứu về "Stress, trầm cảm, lo âuđiều dưỡng" tại TP.HCM nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và các yếu tố liên quan, từ đó đưa ra các giải pháp phòng chống và bảo vệ sức khỏe cho điều dưỡng.

1.1. Dịch Tễ Học Stress Trầm Cảm Lo Âu Toàn Cầu

Rối loạn thích ứng là một RLTT thường gặp, nhưng tỷ lệ mắc bệnh chính xác không được xác định rõ ràng. Tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào cộng đồng nghiên cứu và phương pháp đánh giá. Nghiên cứu ở Mỹ, Canada, Úc ghi nhận tỷ lệ rối loạn thích ứng là 12%. Trong khi đó, tỷ lệ ghi nhận ở 11 quốc gia châu Âu là 10.6%. Dữ liệu về rối loạn thích ứng ở Việt Nam còn hạn chế. Tuy nhiên, số bệnh nhân đến khám về các rối loạn liên quan đến stress tại BV Tâm thần TP.HCM ngày càng tăng.

1.2. Mối Liên Quan Giữa Stress Trầm Cảm Và Lo Âu

Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stressđiều dưỡng cao, làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các bệnh lý tim mạch. Stress, trầm cảm, lo âuđiều dưỡng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng như sai lầm trong chăm sóc bệnh nhân, giao tiếp không tốt và ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân. Các rối loạn liên quan đến stress rất đa dạng và thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trong những năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội.

II. Thách Thức Tỷ Lệ Stress Trầm Cảm Lo Âu Ở Điều Dưỡng

Tình trạng stress, trầm cảm, và lo âuđiều dưỡng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Sai lầm trong chăm sóc bệnh nhân, giao tiếp không hiệu quả với bệnh nhân và thân nhân, ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân và cuộc sống gia đình là những hệ lụy đáng lo ngại. Các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ stressđiều dưỡng là 18,1 – 40,5%. Điều này cho thấy áp lực công việc quá lớn và môi trường làm việc căng thẳng đang ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của điều dưỡng tại Việt Nam. Cần có những giải pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu tình trạng này.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Stress Của Điều Dưỡng

Sang chấn tâm lý là những tình huống gây ra sự mất thăng bằng ảnh hưởng cơ thể và tâm lý cho con người. Trong môi trường tự nhiên bao gồm các hoàn cảnh như quá nóng, quá lạnh. Trong tâm lý cá nhân, các tình huống như xâm phạm quyền lợi, địa vị, xung đột với người yêu, mất mát, chia ly, mâu thuẫn vợ chồng, … thường gây bệnh nhiều nhất. Trong tâm lý xã hội như bùng nổ dân số, xung đột (thế hệ, văn hoá, tôn giáo, sắc tộc), tệ nạn xã hội, di cư, chiến tranh, …

2.2. Tác Động Của Trầm Cảm Đến Chất Lượng Cuộc Sống Điều Dưỡng

Trầm cảm là rối loạn mạn tính, khó điều trị hiệu quả và chi phí điều trị cao hơn một số bệnh mãn tính khác như đái tháo đường hay bệnh lý tim mạch. Nửa số bệnh nhân sau khi điều trị bị tái phát. Điều này ảnh hưởng đến việc làm, cản trở quan hệ cá nhân, lạm dụng thuốc và tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Hơn nữa trầm cảm được xem là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tự sát (15 – 20%). Vì vậy theo WHO, trầm cảm vẫn là nguyên nhân thường gặp, chỉ đứng sau các bệnh tim mạch về gánh nặng bệnh tật ở cả hai giới trong vòng 20 năm tới.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Stress Trầm Cảm Lo Âu Ở TPHCM

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tình trạng stress, trầm cảm, lo âuđiều dưỡng tại các khoa nội của hai bệnh viện ở TP.HCM. Mục tiêu là xác định tỷ lệ và mức độ của các vấn đề này, đồng thời khảo sát mối liên quan với các yếu tố dân số học, xã hội học, đặc tính công việc và mối quan hệ trong công việc. Các thang đo như DASS 21 (Thang đánh giá Stress - Trầm cảmLo âu) được sử dụng để đánh giá mức độ stress, trầm cảm, lo âu của điều dưỡng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chương trình can thiệp và hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho điều dưỡng.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Và Đối Tượng Tham Gia Khảo Sát

Rối loạn thích ứng được chẩn đoán xác định bởi sự hiện diện các triệu chứng cảm xúc và hành vi xảy ra kể từ khi có yếu tố sang chấn trong vòng 3 tháng theo DSM IV hay trong vòng 1 tháng theo ICD 10 nhưng không kéo dài quá 6 tháng sau khi sang chấn chấm dứt. Các thang đo tầm soát được sử dụng hiện nay là: PSS (Perceived Stress Scale), SRRS (Social Readjustment) thường gọi là Homes and Rahe Stress Scale, GHQ (General Health Questionaire).

3.2. Các Thang Đo Đánh Giá Stress Trầm Cảm Lo Âu

Trầm cảm được chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ dựa vào sự hiện diện các triệu chứng trầm cảm qua buổi phỏng vấn trực tiếp, thực hiện bởi chuyên gia tâm thần. Tiêu chuẩn chẩn đoán cho trầm cảm chủ yếu được sử dụng hiện nay DSM IV hay ICD 10. Tuy nhiên, trầm cảm mức độ nhẹ thường đến các đơn vị chăm sóc sức khoẻ ban đầu và được tiếp cận bởi các bác sĩ tổng quát. Mặt khác phỏng vấn trực tiếp tốn nhiều thời gian và làm bệnh nhân khó bày tỏ triệu chứng nên dễ bỏ sót chẩn đoán.

IV. Kết Quả Tỷ Lệ Và Mức Độ Stress Trầm Cảm Lo Âu

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress, trầm cảm, và lo âuđiều dưỡng tại TP.HCM là đáng báo động. Mức độ stress, trầm cảm, và lo âu cũng được xác định, cho thấy nhiều điều dưỡng đang phải đối mặt với những vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng. Các yếu tố như áp lực công việc, thời gian làm việc kéo dài, môi trường làm việc căng thẳng và mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp và lãnh đạo có liên quan đến tình trạng stress, trầm cảm, và lo âu của điều dưỡng. Cần có những biện pháp can thiệp để giảm thiểu những yếu tố này và cải thiện sức khỏe tâm thần cho điều dưỡng.

4.1. Phân Tích Các Yếu Tố Liên Quan Đến Stress Ở Điều Dưỡng

Khi yếu tố sang chấn chấm dứt, rối loạn thích ứng sẽ thoái lui. Nếu yếu tố sang chấn còn tồn tại thì sẽ hình thành một mức thích nghi mới. Dịch tễ học Rối loạn thích ứng là RLTT thường gặp nhưng không có tỷ lệ mắc bệnh chính xác [21]. Tỷ lệ rối loạn thích ứng thay đổi tuỳ thuộc cộng đồng nghiên cứu và phương pháp đánh giá. Strain JJ và cộng sự nghiên cứu trên 1.039 đối tượng từ các cơ sở CLP (Consultation Liason Psychiatry) ở Mỹ, Canada, Úc ghi nhận tỷ lệ rối loạn thích ứng là 12% [95].

4.2. Ảnh Hưởng Của Môi Trường Làm Việc Đến Trầm Cảm Lo Âu

Nền văn minh công nghiệp như nhịp sống và lao động khẩn trương, nguồn thông tin dồn dập, quá tải, cạnh tranh ác liệt, kỹ thuật luôn đổi mới và đô thị hoá vô tổ chức cũng là các tình huống gây stress đối với các cá thể phải đối mặt với hoàn cảnh đó. Nhân tố tố bẩm hoặc tính dễ bị tổn thương đóng vai trò lớn trong rối loạn này nhưng yếu tố sang chấn vẫn là quyết định. Nhiều nghiên cứu ghi nhận các cá thể sau dễ mắc rối loạn thích ứng: - Tuổi trẻ do thiếu kinh nghiệm thích nghi với các sang chấn.

V. Giải Pháp Giảm Stress Trầm Cảm Lo Âu Cho Điều Dưỡng

Để giảm thiểu tình trạng stress, trầm cảm, và lo âuđiều dưỡng, cần có những giải pháp toàn diện. Cải thiện môi trường làm việc, giảm áp lực công việc, tăng cường hỗ trợ tâm lý, nâng cao kỹ năng quản lý stress và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp và lãnh đạo là những biện pháp quan trọng. Các chính sách hỗ trợ từ bệnh viện và ngành y tế cũng đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe tâm thần cho điều dưỡng. Việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực và hỗ trợ sẽ giúp điều dưỡng cảm thấy được quan tâm và giảm bớt gánh nặng tâm lý.

5.1. Hỗ Trợ Tâm Lý Và Tư Vấn Cho Điều Dưỡng

Trên thế giới, trong cả lĩnh vực nghiên cứu và thực hành lâm sàng, người ta thường sử dụng bộ câu hỏi tự điền để lượng giá các triệu chứng trầm cảm. Phương pháp này đơn giản, tốn ít thời gian và thu thập được các thông tin liên quan đến các triệu chứng từ góc độ nhìn nhận của bản thân đối tượng [49, 77]. 2009, Cơ quan đặc nhiệm phòng bệnh Hoa Kỳ (US Preventative Task Force) chấp thuận dùng các thang đo tầm soát trầm cảm ở đơn vị chăm sóc sức khoẻ ban đầu.

5.2. Đào Tạo Kỹ Năng Quản Lý Stress Cho Điều Dưỡng

Lo âu là cảm xúc tiêu cực xảy ra khi đáp ứng với những đe dọa cảm nhận từ bên ngoài hay bên trong cơ thể, có thể cảm nhận rất thật và hình dung được. Lo âu được đặc trưng bởi việc không thể nhận biết để tiên đoán, kiểm soát hay giúp con người đương đầu...'

VI. Tương Lai Nghiên Cứu Về Sức Khỏe Tâm Thần Điều Dưỡng TPHCM

Nghiên cứu về stress, trầm cảm, và lo âuđiều dưỡng tại TP.HCM là một bước quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần của điều dưỡng. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp và xây dựng các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm thần bền vững cho điều dưỡng. Sự hợp tác giữa các bệnh viện, ngành y tế và các tổ chức xã hội là cần thiết để tạo ra một hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện cho điều dưỡng.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Mới Về Burnout Ở Điều Dưỡng

Các thang đo được sử dụng hiện nay: HDRS (Hamilton Rating Scale for Depression) hay còn gọi là HAM - D, PHQ (Patient Health Questionnaire), MDI (Major Depression Inventory), CES-D (Centre for Epidemiological Studies Depression Scale), BDI (Beck Depression Inventory), ZDS (Zung self rating Depression Scale), GDS (Geriatric Depression Scale), CSDD (Cornell Scale for Depression in Dementia)…

6.2. Chính Sách Hỗ Trợ Sức Khỏe Tâm Thần Cho Điều Dưỡng

Ở Việt Nam, Nguyễn Đăng Dung cho biết tỷ lệ trầm cảm trong dân số chung khoảng 2 – 5% [9]. Từ năm 2001 – 2003 , điều tra RLTT ở 8 vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam cho thấy trầm cảm chiếm 2,8% dân số [80]. Trong khi đó, các nghiên cứu ở TP.HCM ghi nhận trầm cảm chiếm 6,5 – 8,3% dân số. Điều này cho thấy ở nước ta trầm cảm chiếm tỷ lệ khá cao và xu hướng gia tăng với nhịp sống hiện đại.

07/06/2025
Stress trầm cảm lo âu ở điều dưỡng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn tâm thần (RLTT) là một trong những nguyên nhân bệnh tật quan trọng. Theo một phân tích tổng hợp từ 174 nghiên cứu tiến hành trên 63 quốc gia từ 1980 đến 2013, 29,2% đối tượng nghiên cứu thừa nhận có vấn đề sức khoẻ tâm thần tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ, 17,6% có RLTT trong năm vừa qua. Thường gặp nhất là rối loạn lo âu (RLLA) với 6,1 – 7,9% [92]. Sadock và cộng sự cho rằng trầm cảm chủ yếu cũng là một RLTT khá phổ biến, với tỷ lệ bệnh trong suốt cuộc đời là 15% [86].

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho rằng các sang chấn tâm lý là yếu tố khởi phát hay thúc đẩy trầm cảm và lo âu [2]. Ghi nhận 20 – 25% bệnh nhân trầm cảm có yếu tố thúc đẩy là sang chấn tâm lý [100]. Ở nước ta, điều tra 10 RLTT thường gặp tại 8 vùng sinh thái khác nhau trên toàn quốc (2001 – 2003) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 14,9% dân số, trong đó trầm cảm 2,8%, RLLA 2,6%. Tỷ lệ này khác nhau theo từng vùng miền, từng ngành nghề cũng như nguy cơ tiếp xúc các sang chấn tâm lý [80].

Nhân viên y tế (NVYT) có điều kiện lao động rất đặc thù làm ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần và thể chất của các NVYT. Đặc biệt, điều dưỡng (ĐD) chiếm số lượng lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong thành công của hệ thống chăm sóc sức khỏe, thường xuyên đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, với phản ứng tiêu cực của bệnh nhân và thân nhân… [41] So với những ngành nghề khác, nguy cơ mắc RLTT ở NVYT cao gấp 1,5 lần và ở ĐD cao hơn nữa [101]. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress ở ĐD cao [33, 84, 96], điều đó làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các bệnh lý tim mạch ở các đối tượng này [29, 30, 36, 46]. Tại Việt Nam, do tình trạng quá tải ở hầu hết các bệnh viện (BV) trên toàn quốc, sức ép công việc quá lớn khiến tỷ lệ ĐD bị stress rất cao.

Các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ stress ở ĐD là 18,1 – 40,5% [3-5, 11, 13, 14, 16]. Stress, trầm cảm, lo âu ở ĐD còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như sai lầm trong chăm sóc bệnh nhân, giao tiếp không tốt với bệnh nhân và thân nhân cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân và cuộc sống gia đình của ĐD. Trong khi đó, báo cáo của ngành y tế tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) ghi nhận, số trường hợp điều trị nội trú ngày càng gia tăng.704 trường hợp, đến năm 2012 có 1.425 trường hợp. Sự gia tăng này làm cho NVYT, đặc biệt ĐD ở TP.HCM trở thành đối tượng nguy cơ của stress, trầm cảm, RLLA.

Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đã công bố hoặc khảo sát độc lập (không cùng lúc) 3 RLTT trên hoặc khảo sát ngoài TP. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng” ở TP.HCM nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu ở ĐD TP. Chúng tôi mong muốn các kết quả nghiên cứu sẽ làm tiền đề cho các nghiên cứu liên quan đến phòng chống stress, trầm cảm, lo âu và bảo vệ sức khoẻ cho ĐD TP.HCM sau này, đối tượng quan trọng có nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ người bệnh. -3- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát tình trạng stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng các khoa nội tại 2 bệnh viện ở TP.

MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Xác định tỷ lệ và mức độ stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng các khoa nội. Khảo sát mối liên quan của stress, trầm cảm, lo âu với các yếu tố dân số học (giới, tuổi), xã hội học (nơi cư trú, tình trạng gia đình, kinh tế gia đình, trình độ học vấn), đặc tính công việc (bệnh viện, khoa phòng công tác , thời gian lao động, lương bổng, chức vụ, khối lượng công việc, môi trường làm việc) , mối quan hệ trong công việc (với lãnh đạo, đồng nghiệp, bệnh nhân và thân nhân). Định nghĩa Thuật ngữ stress bắt nguồn từ chữ Latin “stringi” nghĩa là bị kéo căng ra, được sử dụng đầu tiên trong vật lý để chỉ sức nén một vật liệu phải chịu đựng.

Sau đó, thuật ngữ này sử dụng trong sinh lý học và đời sống. Đến 1956, bác sĩ Hans Selye đưa ra định nghĩa stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ sự thay đổi nào. Những phản ứng này về sau đổi là “triệu chứng thích ứng chung” hay “triệu chứng stress sinh học”. Bên cạnh đó, stress còn mang ý nghĩa sang chấn tâm lý.

Đó là tất cả những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần, gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng… Các rối loạn liên quan đến stress rất đa dạng và thường gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trong những năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội. Các rối loạn liên quan đến stress bao gồm phản ứng cấp với stress, rối loạn stress sau sang chấn và rối loạn thích ứng. Bởi vì phản ứng cấp với stress và rối loạn stress sau sang chấn thường liên quan đến một sang chấn rất mạnh như chiến tranh, thiên tai, cháy nhà, bị hành hung cưỡng hiếp hay tra tấn, tiêu tan sự nghiệp… [15] Vì thế, dạng rối loạn liên quan đến stress đề cập trong luận văn chúng tôi là rối loạn thích ứng. Rối loạn thích ứng là sự xuất hiện các rối loạn rõ rệt về cảm xúc hoặc hành vi sau một hay nhiều sang chấn tâm lý.

Phản ứng này được xem như là sự đau khổ vượt quá mức so với tính chất sang chấn, ảnh hưởng rõ rệt trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc học tập của người bệnh [15]. Khi yếu tố sang chấn chấm dứt, rối loạn thích ứng sẽ thoái lui. Nếu yếu tố sang chấn còn tồn tại thì sẽ hình thành một mức thích nghi mới. Dịch tễ học Rối loạn thích ứng là RLTT thường gặp nhưng không có tỷ lệ mắc bệnh chính xác [21].

Tỷ lệ rối loạn thích ứng thay đổi tuỳ thuộc cộng đồng nghiên cứu và phương pháp đánh giá. Strain JJ và cộng sự nghiên cứu trên 1.039 đối tượng từ các cơ sở CLP (Consultation Liason Psychiatry) ở Mỹ, Canada, Úc ghi nhận tỷ lệ rối loạn thích ứng là 12% [95]. Trong khi đó tỷ lệ ghi nhận ở 11 quốc gia châu Âu là 10,6%. Ở Việt Nam, dữ liệu về rối loạn thích ứng còn ít.

Theo ghi nhận của BV Tâm thần TP.HCM, số bệnh nhân đến khám về các rối loạn liên quan đến stress càng tăng cao.180 bệnh nhân, tăng 19,4%.911 bệnh nhân, tăng 24,8% so với năm 2010. Tác nhân Sang chấn tâm lý là những tình huống gây ra sự mất thăng bằng ảnh hưởng cơ thể và tâm lý cho con người. Trong môi trường tự nhiên bao gồm các hoàn cảnh như quá nóng, quá lạnh. Trong tâm lý cá nhân, các tình huống như xâm phạm quyền lợi, địa vị, xung đột với người yêu, mất mát, chia ly, mâu thuẫn vợ chồng, … thường gây bệnh nhiều nhất.

Trong tâm lý xã hội như bùng nổ dân số, xung đột (thế hệ, văn hoá, tôn giáo, sắc tộc), tệ nạn xã hội, di cư, chiến tranh, … Nền văn minh công nghiệp như nhịp sống và lao động khẩn trương, nguồn thông tin dồn dập, quá tải, cạnh tranh ác liệt, kỹ thuật luôn đổi mới và đô thị hoá vô tổ chức cũng là các tình huống gây stress đối với các cá thể phải đối mặt với hoàn cảnh đó. Nhân tố tố bẩm hoặc tính dễ bị tổn thương đóng vai trò lớn trong rối loạn này nhưng yếu tố sang chấn vẫn là quyết định. Nhiều nghiên cứu ghi nhận các cá thể sau dễ mắc rối loạn thích ứng: - Tuổi trẻ do thiếu kinh nghiệm thích nghi với các sang chấn. - Thu nhập thấp.

- Thời thơ ấu hay bị đánh đập hay bị bố mẹ kiểm soát quá mức. - Tiếp xúc cùng lúc nhiều sang chấn khác nhau. - Lạm dụng hoá chất. -6- Trong khi đó, các đối tượng có trình độ học vấn cao hay kết hôn dường như ít mắc rối loạn thích ứng hơn [72].

Tác động Rối loạn thích ứng thường hồi phục sau vài tháng [18], hiếm khi kéo dài. Một nghiên cứu ở trẻ em Mỹ có rối loạn thích ứng, thời gian mắc bệnh trung bình 7 tháng và 97% hồi phục [64]. Tình trạng bệnh nhẹ hơn, khả năng mất sức lao động ít hơn, cũng như thời gian nhập viện ngắn hơn, khả năng hồi phục quay lại làm việc cao hơn khi so sánh với các dạng rối loạn khác [68]. Gần 70% bệnh nhân có rối loạn thích ứng kèm theo một RLTT khác như rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể… [43] Suy nghĩ và hành vi tự tử gia tăng ở các đối tượng có rối loạn thích ứng.

Nghiên cứu của Gradus và cộng sự ghi nhận tỷ lệ tự tử ở các đối tượng rối loạn thích ứng cao gấp 12 lần so với người không mắc bệnh [51]. Tuy nhiên khuynh hướng tự tử lại thấp hơn các dạng RLTT khác [31]. So với các dạng RLTT khác, rối loạn thích ứng có tỷ lệ bệnh nhân có hội chứng tự làm tổn thương mình cao hơn [98]. Cũng tương tự, nguy cơ nghiện các chất tăng lên ở các đối tượng có rối loạn thích ứng.

Một nghiên cứu ghi nhận 59% bệnh nhân xuất viện với chẩn đoán nghiện các chất có rối loạn thích ứng kèm theo [53]. Chẩn đoán Rối loạn thích ứng được chẩn đoán xác định bởi sự hiện diện các triệu chứng cảm xúc và hành vi xảy ra kể từ khi có yếu tố sang chấn trong vòng 3 tháng theo DSM IV hay trong vòng 1 tháng theo ICD 10 nhưng không kéo dài quá 6 tháng sau khi sang chấn chấm dứt. Các thang đo tầm soát được sử dụng hiện nay là: PSS (Perceived Stress Scale), SRRS (Social Readjustment) thường gọi là Homes and Rahe Stress Scale, GHQ (General Health Questionaire). Định nghĩa Trầm cảm là một rối loạn khí sắc kéo dài ảnh hưởng đến khả năng của con người trong công việc, học tập và duy trì các mối quan hệ cá nhân hằng ngày.

Các nét đặc trưng để chẩn đoán bao gồm giảm khí sắc, mất quan tâm hứng thú; thường có triệu chứng kết hợp như rối loạn giấc ngủ, cảm giác tội lỗi, mệt mỏi, giảm ham muốn tình dục, chậm chạp trong hoạt động và ngôn ngủ, ăn không ngon, khó tập trung chú ý [20, 105].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Stress, Trầm Cảm và Lo Âu Ở Điều Dưỡng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe tâm thần của các điều dưỡng viên tại thành phố lớn này. Nghiên cứu chỉ ra rằng stress, trầm cảm và lo âu là những vấn đề phổ biến, ảnh hưởng không chỉ đến chất lượng cuộc sống của các điều dưỡng mà còn đến hiệu suất làm việc và sự chăm sóc bệnh nhân. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và can thiệp kịp thời để cải thiện sức khỏe tâm thần cho đội ngũ y tế, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về tác động của stress trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu tăng glucose máu do stress trong tiên lượng nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường, nơi phân tích mối liên hệ giữa stress và các vấn đề sức khỏe tim mạch. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá việc sử dụng nhóm thuốc ức chế bơm proton trong dự phòng loét tiêu hóa do stress tại một bệnh viện tuyến trung ương sẽ cung cấp thông tin về cách thức điều trị các vấn đề tiêu hóa liên quan đến stress. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm qua tài liệu Luận văn stress nghề nghiệp của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố hà nội, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về stress trong môi trường làm việc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của stress và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người.