Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ NHỒI MÁU CƠ TIM 1. Định nghĩa về nhồi máu cơ tim cấp Nhồi máu có tim (NMCT) là một hoại tử do thiếu máu cục bộ kéo dài của một vùng cơ tim với diện tích >2 cm2 của tâm thất, gây nên do tắc động mạch vành. Theo Froment, NMCT là biểu hiện kiểu hoại tử của bệnh động mạch vành.
Đa số trường hợp mạch vành bị tắc nghẽn do huyết khối hình thành và phát triển trên mảng xơ vữa có sẵn [13]. Vào khoảng cuối tháng 8/2018 định nghĩa toàn cầu thứ tư của NMCT được kết hợp ấn hành bởi Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC), Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (ACC), Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Liên đoàn Tim mạch Thế giới (WHF) cung cấp các cập nhật cho định nghĩa 2012 trước đây, nhấn mạnh việc cập nhật thuật ngữ “tổn thương cơ tim”. Tất cả những bệnh nhân có tăng troponin máu khi có tổn thương cơ tim, nhưng chỉ những bệnh nhân có cả tổn thương cơ tim và bằng chứng lâm sàng của thiếu máu cơ tim mới được gọi là NMCT [60]. Phân bố tưới máu của động mạch vành Các động mạch vành chính chủ yếu nằm trên bề mặt của cơ tim còn các động mạch nhỏ hơn mới thực sự đi vào các khối cơ để cung cấp máu cho cơ tim.
Hầu như toàn bộ cơ tim được cung cấp máu bởi hệ thống mạch vành. Chỉ có lớp nội mạc nông dày khoảng 0,1 mm là có khả năng lấy chất dinh dưỡng trực tiếp từ máu trong buồng thất. Tuy nhiên tỉ lệ này là quá nhỏ so với toàn bộ nhu cầu của cơ tim [11]. Động mạch vành trái Tách từ cung động mạch chủ, ngay phía trên van động mạch chủ, chui ra mặt trước tim qua khe giữa thân động mạch phổi và tiểu nhĩ trái rồi chia làm 2 nhánh chính: + Nhánh liên thất trước: đi trong rãnh gian thất trước tới đỉnh tim vòng ra phía sau để nối với động mạch vành phải.
Nuôi mặt trước tim và vách liên thất. Khi tắc gây NMCT vùng trước-mỏm. 4 + Nhánh động mạch mũ: vòng ra trái trong rãnh vành đi xuống mặt hoành và nối hoặc không nối với động mạch vành phải. Nuôi thành bên thất trái, đôi khi ưu thế nuôi cả thành dưới và sau, 10% cho nhánh dưới nuôi nút nhĩ thất.
Khi tắc liên quan đến nhồi máu vùng dưới-bên [14]. Động mạch vành phải Tách từ cung động mạch chủ ngay phía trên van động mạch chủ, chui ra mặt trước tim qua khe giữa thân động mạch phổi và tiểu nhĩ phải rồi vòng sang phải đi trong rãnh vành xuống mặt hoành của tim vào rãnh gian thất sau và tận cùng ở đỉnh tim. Trên đường đi động mạch cho các nhánh nuôi tim, trong đó có nhánh lớn nhất là nhánh gian thất sau. Động mạch vành phải nuôi nhĩ phải và thất phải (mặt sau), 90% cho nhánh nuôi nút nhĩ thất.
Khi tắc liên quan đến nhồi máu vùng dưới [14]. Dịch tễ nhồi máu cơ tim 1. Trên thế giới NMCT cấp đã là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ và các nước châu Âu. Ước tính ở Mỹ có khoảng 1 triệu bệnh nhân nhập viện mỗi năm vì NMCT cấp và khoảng 200.000 bệnh nhân tử vong hàng năm vì NMCT cấp.
Sự ra đời của đơn vị cấp cứu mạch vành (CCU) đầu những năm 60, tiếp đến là các thuốc tiêu huyết khối những năm 80 và hiện nay là can thiệp động mạch vành cấp cứu và những tiến bộ về các thuốc phối hợp đã làm cho tỉ lệ tử vong do NMCT cấp trên thế giới hiện nay giảm xuống chỉ còn khoảng <7% so với trước đây là >30% [21]. Ở Việt Nam Tỉ lệ NMCT nhập viện trong nước ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam, tỉ lệ bệnh nhân vào Viện Tim mạch vì NMCT cấp năm 2003 là 4,2%, đến năm 2007 đã tăng lên 9,1% [3] Tại bệnh viện Bạch Mai, bệnh NMCT tăng theo năm rõ rệt, từ 1984-1989, mỗi năm có 30 bệnh nhân, từ 1989-1993 có 91 bệnh nhân. 5 Theo thống kê của Sở Y Tế thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ riêng năm 2000 đã có 3222 bệnh nhân bị NMCT và đã tử vong 122 trường hợp.
Trong 6 tháng đầu năm 2001, đã có 1725 bệnh nhân bị NMCT [5]. Cơ chế bệnh sinh của nhồi máu cơ tim cấp Xơ vữa động mạch vành thấy trong 90% trường hợp NMCT. Tuy nhiên cơ chế gây tắc mạch có khác nhau. Có thể mảng xơ vữa tiến triển dần gây hẹp lòng mạch và cuối cùng là tắc hẳn.
Bệnh cảnh là cơn đau thắt ngực không ổn định với tần suất, cường độ và thời gian tăng dần, ngưỡng gây đau giảm dần, cuối cùng là NMCT. Trong đa số các trường hợp này, hệ tuần hoàn bàng hệ đã phát triển ít nhiều nên diện nhồi máu thường được giới hạn. Trong các trường hợp khác, mảng xơ vữa bị bong ra do màng bao mảng xơ vữa không ổn định. Huyết khối sẽ được thành lập nhanh chóng và gây tắc cấp động mạch vành.
Lâm sàng là đau thắt ngực không ổn định mới xuất hiện và tăng dần cường độ, tiến triển nhanh đến NMCT trong bệnh cảnh của hội chứng vành cấp. NMCT cũng có thể xảy ra do thành lập huyết khối cấp trên nền mảng xơ vữa dễ bong rách ngay cả khi mảng xơ vữa chưa gây hẹp lòng động mạch vành trên phim chụp động mạch vành được tiến hành ngay trước đó. Một số nhỏ NMCT xảy ra do co thắt động mạch vành, có thể chưa có tổn thương hẹp trên phim chụp chọn lọc nhưng vi thể đã có rối loạn chức năng nội mạc do xơ vữa động mạch vành giai đoạn sớm, chưa thể phát hiện qua hình ảnh chụp mạch. Các yếu tố thuận lợi cho tình trạng ngưng tập tiểu cầu hay co thắt động mạch vành: thuốc lá, stress tâm lý, buổi sáng khi thức dậy, trời lạnh.
Các nguyên nhân khác: giang mai, tắc mạch vành do cục máu từ xa, tai biến của phẫu thuật tại van, bệnh Buerger…[13]. Sinh lý bệnh nhồi máu cơ tim 1. Hoạt hóa thần kinh hormone sau tổn thương cơ tim NMCT cấp làm tổn thương cơ tim, dẫn đến giảm cung lượng tim. Hậu quả là 3 hệ thống bù trừ sẽ được kích hoạt: kích hoạt hệ giao cảm, kích hoạt hệ Renin Angiotensin và kích thích hệ Arginine Vasopressin.
Sự hoạt hóa 3 hệ thống này sẽ làm co mạch, tăng giữ nước và muối trong cơ thể, do đó tăng tiền tải và hậu tải. Hậu quả là giảm chức năng cơ tim và tăng sung huyết mạch máu. Tái cấu trúc thất trái sau nhồi máu cơ tim Tổn thương cơ tim sẽ làm giảm tống máu tâm thu. Hậu quả là tăng hoạt hóa thần kinh hormone và tăng lượng máu thất trái cuối tâm trương (do đó tăng áp lực thất trái cuối tâm trương).
Các yếu tố này sẽ làm gia tăng sức căng thành tim cuối tâm thu. Sự gia tăng sức căng thành tim cuối tâm thu sẽ dẫn đến hai hậu quả: - Vùng nhồi máu sẽ bị giãn ra và dần dần mỏng hơn. Nguy cơ là bị túi phình, vỡ tim và suy tim. - Vùng không nhồi máu, bị kích hoạt bởi sức căng thành tim gia tăng sẽ phì đại.
Phì đại sợi cơ tim sẽ làm giảm bớt sức căng thành. Hiện tượng tái cấu trúc thất trái như trên sẽ cải thiện chức năng tim trong giai đoạn đầu. Nhưng thể tích của thất trái sẽ gia tăng (buồng tim lớn hơn). Về lâu dài buồng thất giãn ngày càng nhiều hơn, dẫn đến suy tim.3 Các biến cố dẫn đến tử vong tim mạch Các yếu tố chính như rối loạn lipid máu, bệnh tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ) hoặc sự đề kháng insulin sẽ dẫn đến xơ vữa động mạch và dày thất trái.
Theo Dzau và Braunwald từ đây sẽ có một chuỗi biến cố dẫn đến bệnh tim mạch và tử vong: bệnh động mạch vành, thiếu máu cơ tim, huyết khối trong động mạch vành và NMCT. NMCT sẽ dẫn đến 3 hậu quả: loạn nhịp tim (có thể gây đột tử), tổn thương cơ tim (mất khả năng co bóp) và sự hoạt hóa thần kinh hormone. Hai hậu quả sau sẽ dẫn đến sự tái cấu trúc thất trái, do đó buồng thất bị giãn, ngày càng nhiều và cuối cùng là suy tim và tử vong. Chiến lược điều trị hiện nay là tìm cách ngăn chặn hay phá vỡ chuỗi biến cố trên bằng cách tìm hiểu rõ hơn cơ chế, tìm các phương tiện nội ngoại khoa có hiệu quả [22].
Biểu hiện lâm sàng của nhồi máu cơ tim Bệnh khởi đầu có thể vào ban ngày hay ban đêm tuy nhiên tần suất thường cao vào buổi sáng sớm. Đau là biểu hiện thường gặp nhất. Cảm giác đau sâu trong cơ thể, có thể là cảm giác đau nặng nhất mà người bệnh chưa bao giờ cảm thấy. Bệnh nhân có thể mô tả có cảm giác đè nặng, bóp nghẹt hay xiết chặt ở lồng ngực.
Vị trí đau thường ở giữa lồng ngực có thể kèm hoặc chỉ đau ở thượng vị. Đau có thể lan 7 tới cánh tay, ít hơn tới bụng, lưng, hàm dưới và cổ. Không bao giờ đau lan dưới rốn. Cảm giác khó chịu không bị tác động bởi việc cử động các cơ vùng khó chịu và khi hít sâu cũng không gây khó chịu hơn.
Có thể nói cảm giác khó chịu này không mang tính chất vị trí. Các triệu chứng kèm theo: cảm giác yếu, vã mồ hôi, buồn nôn, ói mửa, chóng mặt và lo lắng. Khoảng 15-20% trường hợp NMCT không có cơn đau. Tần suất cao ở bệnh nhân ĐTĐ, phụ nữ hay người già.
Biểu hiện đầu tiên có thể chỉ là khó thở nhẹ hay nặng (đôi khi dẫn đến phù phổi cấp). Ngoài đau, có thể có biểu hiện đầu tiên khác như: mất tri giác, lẫn lộn, loạn nhịp, thuyên tắc ngoại vi hoặc đột ngột tụt huyết áp [22]. Khám thực thể trong NMCT cấp nói chung ít có giá trị để chẩn đoán xác định nhưng cực kì quan trọng để giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, giúp phát hiện các biến chứng, tiên lượng bệnh cũng như là cơ sở để theo dõi bệnh nhân. Những triệu chứng hay gặp là: nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ, tiếng ngựa phi, huyết áp có thể tăng hoặc tụt, xuất hiện tiếng thổi mới ở tim, các rối loạn nhịp, ran ẩm ở phổi, các dấu hiệu suy tim, phù phổi cấp, có thể nghe thấy tiếng cọ màng tim sau vài ngày (hội chứng Dressler) [21].
Có khi NMCT biểu hiện dưới các dạng khác, chỉ chẩn đoán được khi làm điện tâm đồ hoặc xét nghiệm men tim.