ĐẶT VẤN ĐỀ Luận văn tốt nghiệp Trái dứa thường được sử dụng để ăn tươi. Khi có sản lượng đủ lớn, chúng được chế biến công nghiệp thành các mặt hàng: dứa khoanh, dứa miếng, mứt dứa… đóng hộp và chủ yếu dành cho xuất khẩu. Khi sản xuất những sản phẩm trên, luôn có sản phẩm đi kèm là nước dứa đóng hộp. Nước dứa nguyên liệu dùng đóng hộp được khai thác từ các phế liệu: các mảnh thịt dứa vụn, lõi (cùi) trái, lớp Hình 1.3: Phần khoanh dứa sử dụng sau khi vỏ trong khi gọt trái dứa… tức là các thứ liệu gọt vỏ và đột lõi thải ra khi xử lí, chế biến trái dứa.
Các sản phẩm dứa đóng hộp dành để xuất khẩu, người Việt Nam thích ăn dứa tươi hơn. Viên dứa sủi bọt được sản xuất từ nước dứa, qua cô đặc, sấy khô sẽ nhận được bột dứa và bổ sung NaHCO3 trước khi đóng viên. Sản phẩm dứa khoanh, dứa miếng đóng hộp, sử dụng phần thịt, tức là phần tốt nhất của trái dứa. Nước dứa được khai thác từ các phế liệu khi xử lý, chế biến trái dứa để nhận dứa khoanh, dứa miếng… Như vậy, có thể xem nước dứa đóng hộp, hoặc “VIÊN DỨA SỦI BỌT” là những “SẢN PHẨM TẬN DỤNG” khi chế biến trái dứa.
Nó có ý nghĩa lớn về kinh tế và kỹ thuật. Do thời gian có hạn và phương tiện, thiết bị thiếu thốn, nên kết quả nhận được từ các nghiên cứu, thử nghiệm của chúng tôi được trình bày trong bài luận văn này mới chỉ là những bước đầu, chưa hoàn chỉnh. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Nguồn gốc cây dứa (thơm, khóm) [15] Cây dứa thuộc họ Bromeliaceae (lớp Đơn tử diệp).
Các giống dứa hiện được trồng đa số thuộc loài Ananas Comosus có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Ở nước ta hiện chỉ có Ananas Comosa. Từ lâu người ta cho rằng cây dứa (thơm, khóm) có nguồn gốc ở Châu Mỹ nhiệt đới, tại đây cây dứa được dùng làm thực phẩm cho dân da đỏ. Năm 1493 Christophe Colombus đổ bộ lên hòn đảo Guadeloup, ông và các thủy thủ được coi là người cựu lục địa đầu tiên được ăn quả dứa.
Tới năm 1535 Gonzalo Fernandez xuất bản cuốn “Historia general y natural de las Indian” trong đó có nói về cây dứa với nhiều hình vẽ. Năm 1939 hai nhà thực vật K.C Collin đã khảo sát Nam Mỹ và đã kết luận quê hương của cây dứa là môt vùng tứ giác rộng lớn bao gồm chủ yếu miền Nam Brazin, miền Bắc Argentina và Paraguay. Theo chân các nhà buôn, các nhà hàng hải người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, cây dứa đã được đem đi trồng ở nhiều nơi. Tới thế kỉ XVII hầu hết các nước nhiệt đới đều có trồng dứa, cuối thế kỉ XIX với tiến bộ kỹ thuật đóng hộp và trữ lạnh, cây dứa ở một số nơi được xem là cây công nghiệp.
4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp 2. Phân loại dứa theo họ và chi [2,3,15] a. Họ dứa Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Liliopsida Bộ : Poales Họ : Bromeliaceace Phân họ Bromelioideae Pitcairnioideae Tillandsioideae Họ dứa có danh pháp khoa học là Bromeliaceae, là một họ lớn của thực vật có hoa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và các khu vực có khí hậu nóng của Tân Thế Giới. họ này bao gồm cả các loài thực vật biểu sinh, chẳng hạn loài rêu Tây Ban Nha (Tillandsia usneoides) cũng như các loài thực vật tự dưỡng sống trên đất như dứa (Ananas comosus).
Nhiều loại trong họ này có khả năng lưu trữ nước trong quả được tạo ra nhờ sự chồng lên nhau khá chặt của các gốc lá. Tuy nhiên, họ này đa dạng đủ để bao gồm cả các loại dứa có quả, các loài thực vật biểu sinh Tillandsia lá xám lấy nước từ các cấu trúc lá gọi là túm lông và thậm chí một lượng lớn các loài thực vật mọng nước cư trú trong các sa mạc. Loài dứa lớn nhất là Puya raimondii, cao tới 3 đến 4 m với hoa cao tới 9 đến 10m, và loài nhỏ nhất có lẽ là rêu Tây Ban Nha. Họ dứa gồm khoảng 50 chi và 1700 đến 2000 loài phân bổ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Danh sách các chi trong họ dứa Abromeitiella Mez Acanthostachys Klotzsch Aechmea Ruiz & Pav. Ananas Mill Andrea Mez Androlepis Brongn. ex Houllet Araeococcus Brongn Ayensua L.Rob Brocchinia Schult.Morren Catopsis Griseb. Deuterocohnia Mez Disteganthus lem.
Fascicularia Mez 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Fernseea Baker Fosterella L. Glomeropitcairnia Mez Greigia Regel Guzmania Ruiz & Pav. Hechtia Klotzsch Hohenbergia Schult. & Read Lindmania Mez Lymania Read Mezobromelia L.Sm Navia Schult.
Neoglaziovia Mez Neoregelia L. Orthophytum Beer Pitcairnia L'Her. & Read Pseudananas Hassl. ex Harms Puya Molina Quesnelia Gaudich.
7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Ronnbergia E.Morren & Andre Steyerbromelia L.Sm Streptocalyx Beer Tillandsia L. Chỉ có một loài dứa có giá trị quan trọng trong thương mại trong vai trò của một loại cây trồng thực phẩm có danh pháp khoa học là Ananas comosus thuộc chi Ananas. Nhiều loài dứa khác là các loại cây cảnh phổ biến. Chi dứa Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Liliopsida Bộ : Poales Họ : Bromeliaceace Chi : Ananas Chi dứa có danh pháp khoa học là Ananas thuộc học Dứa (Bromeliaceace).
Được biết đến nhiều nhất là loài Ananas comosus, là loại dứa cho quả ăn được. Chi này có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ và được đưa tới các đảo khu vực Caribe nhờ những người thổ dân Anh Điêng Carib. Năm 1493, Christopher Columbus lần đầu tiên đã nhìn thấy các loại cây của chi này tại Guadeloupe. Nó được đưa sang châu Âu và từ đây nó được người Anh và Tây Ban Nha phát tán tới các đảo trên Thái Bình Dương.
Các cánh đồng dứa thương phẩm được thành lập tại Hawaii, Philippines, Đông Nam Á, Florida và Cuba. Dứa đã trở thành một trong những loại cây ăn trái phổ biến nhất trên thế giới. Từ Ananas có nguồn gốc từ tiếng Cuarani để chỉ cây dứa. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Danh sách các loài thứ thuộc chi dứa Ananas ananassoides thứ typicus Ananas arvensis : (Brasil) Ananas bracteatus : (Brasil) o Ananas bracteatus thứ albus o Ananas bracteatus thứ hondurensis o Ananas bracteatus thứ paraguariensis o Ananas bracteatus thứ rudis o Ananas bracteatus thứ striatus (Nam Mỹ) o Ananas bracteatus thứ tricolor o Ananas bracteatus thứ typicus Ananas comosus - dứa (Brasil) Ananas erectifolius Ananas genesio-linesii (Brasil) Ananas guaraniticus (Argentina, Paraguay) Ananas macrodontes (Brasil) Ananas microcephalus (nhiệt đới châu Mỹ) o Ananas microcephalus thứ major (Nam Mỹ) o Ananas microcephalus thứ minor (Nam Mỹ) o Ananas microcephalus thứ missionensis (Argentina) o Ananas microcephalus thứ mondayanus (Nam Mỹ) o Ananas microstachys thứ typicus Ananas mordilona Ananas pancheanus (Colombia) 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Ananas parguazensis (Nam Mỹ) Ananas pyramidalis Ananas sativus (nhiệt đới châu Mỹ) o Ananas sativus thứ hispanorum o Ananas sativus thứ lucidus o Ananas sativus thứ muricatus o Ananas sativus thứ sagenarius o Ananas sativus f.
typicus o Ananas sativus thứ variegatus Ananas strictus (Paraguay) Ananas viridis 2. Bốn giống dứa hiện biết có trồng ở Việt Nam Dứa ta (Ananas comosus spanish hay Ananas comosus sousvar red spanish) là cây chịu bóng tốt, có thể trồng ở dưới tán cây khác. Quả to nhưng vị ít ngọt. Dứa mật (Ananas comosus sousvar Singapor spanish) có quả to, thơm, ngon, trồng nhiều ở Nghệ An.
Dứa tây hay dứa hoa (Ananas comosus queen) được nhập nội từ 1931, trồng nhiều ở các đồi vùng trung du. Quả bé nhưng thơm, ngọt. Dứa không gai (Ananas comosus cayenne) được trồng ở Nghệ An, Quảng Trị, Lạng Sơn. Cây không ưa bóng.
Quả to hơn các giống trên. Giới thiệu về một số giống dứa Dứa Queen: lá ngắn, hẹp cứng, dày, màu xanh ửng tím và gai nhiều ở mép, mặt trong của lá có đường viền trắng chạy song song theo chiều dài, hoa có màu xanh hồng, quả nhỏ hai đầu thuỗn, vỏ dày, nhiều mắt, mắt nhỏ và lồi, hố sâu, khi chín có 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp màu vàng tươi, ít nước, ruột vàng đẹp, thơm ngon. Nhóm dứa này có ưu điểm là không kén đất, hệ số phân giống tự nhiên cao (6-7 chồi/gốc), có thể chịu được bóng râm, thịt quả giòn, có màu sắc đẹp và vị thơm, thích hợp cho ăn tươi. Nhược điểm là quả bé, trọng lượng bình quân chỉ đạt 500-700g/quả, dạng quả hơi bầu dục, mắt tương đối sâu nên khó gọt vỏ sạch trong chế biến.
Dứa ở Việt Nam chủ yếu thuộc loài này. - Các giống chủ yếu của dứa Queen: Dứa hoa Phú Thọ: giống này còn được gọi là Queen cổ điển( Queen Classic), có những dặc tính điển hình nhất của nhóm Queen như quả nhỏ, mắt nhỏ lồi, gai ở rìa lá nhiều và cứng. Ưu điểm nổi bật là thịt vàng, giòn, vị rất thơm và hấp dẫn, thường dùng để ăn tươi hay pha trộn vào nước dứa ép cùng các giống dứa khác, trồng được trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo dinh dưỡng, khả năng trồng 2 đến 3 vụ là chắc chắn, dễ xử lý ra hoa trái vụ. Nhược điểm là quả nhỏ, năng suất không cao, khó chế biến đồ hộp và dễ gây ra hiện tượng caramel hóa (đường bị kết tinh và cháy) khi chế biến nước quả cô đặc.
Dứa hoa Na Hoa: lá ngắn và to hơn dứa hoa Phú Thọ, quả nặng trung bình từ 0,9 đến 1,2 kg/ quả, mắt nhỏ, lồi, khi chín cả vỏ và thịt quả đều có màu vàng, hàm lượng nước trong quả cao. Đây là giống dứa phổ biến ở các vùng trồng tập trung có ưu điểm là dễ canh tác, nếu áp dụng quy trình thâm canh hợp lý vẫn duy trì được năng suất ổn định cho đến vụ hai, vụ ba. Hệ số nhân giống tương đối cao. Nhược điểm là mắt sâu hình dạng quả hơi bầu dục nên nếu đem vào chế biến ở loại hình đồ hộp sẽ khó đạt được tỷ lệ cái cao.
Dứa Kiên Giang và dứa Bến Lức (nhân dân thường gọi là khóm): có hình thái tương tự với giống dứa Na Hoa. Trong điều kiện khí hậu miền Nam cây sinh trưởng mạnh, quả có kích thước lớn hơn so với trồng ở miền Bắc và một số đặc điểm thực vật cũng có khác đi chút ít. Đây là những giống trồng phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.