Tổng quan luận án

Suy tim là một hội chứng bệnh lý lâm sàng phức tạp, có tỷ lệ tử vong cao và là gánh nặng y tế trên toàn cầu với hơn 26 triệu người mắc. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong các phác đồ điều trị nội khoa, tiên lượng của bệnh nhân suy tim vẫn ở mức xấu khi các triệu chứng cơ năng xuất hiện rõ rệt trên lâm sàng; các nghiên cứu cộng đồng ghi nhận khoảng 30% đến 40% bệnh nhân tử vong trong vòng 1 năm đầu sau chẩn đoán và 60% đến 70% tử vong trong vòng 5 năm. Quá trình sinh bệnh học của suy tim liên quan chặt chẽ đến các cơ chế thần kinh - thể dịch, sự quá tải thể tích, quá tải áp lực và quá trình tái cấu trúc cơ tim. Quá trình tái cấu trúc không chỉ làm biến đổi cấu trúc, hình dạng, thể tích các buồng tim mà còn kích hoạt tình trạng viêm, hoại tử, chết tế bào theo chương trình và xơ hóa mô kẽ cơ tim.

Trong thực hành lâm sàng, việc đánh giá chẩn đoán và tiên lượng suy tim dựa vào sự kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và các dấu ấn sinh học. Bên cạnh các chỉ điểm sinh học đã được sử dụng thường quy như peptide lợi niệu (BNP, NT-proBNP) hay Troponin (hs-TnT, hs-TnI), Galectin-3 nổi lên như một dấu ấn sinh học phản ánh trực tiếp quá trình viêm, tăng sinh nguyên bào sợi và xơ hóa cơ tim. Năm 2017, Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) đã đưa xét nghiệm nồng độ Galectin-3 vào hướng dẫn nhằm mục đích tiên lượng và phân tầng nguy cơ trong suy tim cấp (nhóm IIb, mức chứng cứ A) và suy tim mạn (nhóm IIb, mức chứng cứ B). Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh theo phân nhóm phân suất tống máu, mối tương quan với các chỉ số tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim và giá trị tiên lượng biến cố tim mạch ngắn hạn trong thời gian nằm viện vẫn còn hạn chế. Do đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Bùi Thị Thanh Hiền giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim.
  2. Mục tiêu chuyên biệt 1: Đánh giá sự biến đổi nồng độ của Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim và giá trị nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở các phân nhóm suy tim.
  3. Mục tiêu chuyên biệt 2: Khảo sát mối tương quan giữa nồng độ Galectin-3 huyết thanh với các thông số liên quan tái cấu trúc cơ tim trên siêu âm tim và xét nghiệm BNP huyết thanh ở bệnh nhân suy tim.
  4. Mục tiêu chuyên biệt 3: Khảo sát giá trị của nồng độ Galectin-3 huyết thanh trong tiên lượng các biến cố tim mạch như suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong do mọi nguyên nhân trong thời gian nằm viện ở bệnh nhân suy tim.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án thuộc chuyên ngành Nội khoa (mã số: 9720107), được thực hiện tại Bệnh viện Trưng Vương và Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế (công bố năm 2022). Đối tượng nghiên cứu bao gồm nhóm bệnh nhân được chẩn đoán suy tim và nhóm đối chứng không suy tim, được thu thập dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng (Galectin-3 tại thời điểm nhập viện và trước khi xuất viện, BNP, công thức máu, chức năng thận eGFR) và siêu âm tim Doppler. Phạm vi theo dõi các biến cố tim mạch được xác định trong toàn bộ thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống cơ sở dữ liệu y văn trong nước và quốc tế liên quan đến cơ chế bệnh sinh của suy tim, các công cụ chẩn đoán hình ảnh, hệ thống các chất chỉ điểm sinh học tim mạch và vai trò sinh học của Galectin-3.

Hệ thống các chất chỉ điểm sinh học trong suy tim được luận án tổng thuật bao gồm:

  • Nhóm peptide lợi niệu: Peptide lợi niệu tâm nhĩ (ANP), peptide lợi niệu type B (BNP) và tiền chất N-terminal proBNP (NT-proBNP). Các phân tử này được phóng thích chủ yếu do sự căng giãn thành cơ tim khi tăng áp lực và thể tích trong buồng thất.
  • Troponin tim (cTnI, cTnT, hs-TnT): Chỉ điểm tổn thương tế bào cơ tim do thiếu máu cục bộ, stress oxy hóa hoặc hoại tử tế bào. Dữ liệu từ nghiên cứu Val-HeFT của Latini và cộng sự cho thấy hs-TnT tăng ở 92% bệnh nhân suy tim và là yếu tố dự báo tỷ lệ tử vong.
  • Các chỉ điểm mới khác: Mid-regional pro-adrenomedullin (MR-proADM) phản ánh đáp ứng quá tải áp lực thất trái; Copeptin (phân đoạn C-terminal của pro-AVP) có giá trị tiên lượng tử vong mạnh theo nghiên cứu BACH; Chromogranin A phản ánh hoạt hóa thần kinh giao cảm; ST2 hòa tan (sST2) - thụ thể mồi ức chế con đường bảo vệ tim IL-33/ST2L, được chứng minh qua nghiên cứu Penn Heart Failure Study (PHFS) của Ky và cộng sự cũng như nghiên cứu của Shah và cộng sự.

Về tình hình nghiên cứu Galectin-3 trên thế giới, tác giả điểm lại nhiều công trình quy mô lớn:

  • Dự đoán nguy cơ suy tim mới mắc: Được ghi nhận qua các đoàn hệ dân số lớn như thử nghiệm Framingham, FINRISK và PREVEND.
  • Tiên lượng nguy cơ ngắn hạn và dài hạn: Nghiên cứu PRIDE của Van Kimmenade và cộng sự ghi nhận Galectin-3 tăng ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện dự đoán độc lập tử vong 60 ngày (OR = 10,3; p < 0,01); phân tích 4 năm của Shah và cộng sự (2010) khẳng định nồng độ Galectin-3 lúc nhập viện dự đoán độc lập tử vong 4 năm (p < 0,001). Thử nghiệm COACH của de Boer (2010) trên đoàn hệ suy tim chỉ ra Galectin-3 tăng gấp đôi liên quan đến tử vong do mọi nguyên nhân và tái nhập viện với HR = 1,97 (95% CI: 1,62 - 2,42), đặc biệt giá trị tiên lượng mạnh hơn ở nhóm suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) so với nhóm suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF) (p < 0,001).
  • Các nghiên cứu theo dõi khác: Nghiên cứu DEAL-HF của Lok và cộng sự (dự báo tử vong 6,5 năm), nghiên cứu CARE-HF của Lopez-Andres và cộng sự (tiên lượng 18 tháng), nghiên cứu của Ueland và cộng sự (tử vong 2,9 năm), nghiên cứu của Tang và cộng sự (2011) theo dõi 5 năm ghi nhận HR = 1,86 (95% CI: 1,36 - 2,54; p < 0,001), nghiên cứu TRIUMPH (496 bệnh nhân suy tim cấp, nồng độ trung bình 24 ng/mL), nghiên cứu PROVE-IT TIMI 22 của Grandin và cộng sự (sau nhồi máu cơ tim 7 ngày), nghiên cứu của Mueller và cộng sự (251 bệnh nhân), nghiên cứu GALA (115 bệnh nhân).

Tại Việt Nam, luận án trích dẫn các nghiên cứu tiền đề:

  • Nguyễn Thúy Nga, Đỗ Doãn Lợi, Phạm Thiện Ngọc: Khảo sát 80 bệnh nhân suy tim và 50 người bình thường; xác định điểm cắt chẩn đoán 19,1 ng/mL (độ nhạy 85%, độ đặc hiệu 94%); nồng độ trung bình ở nhóm suy tim là 35,01 ± 20,61 ng/mL so với người bình thường là 15,01 ± 2,85 ng/mL; nồng độ tăng theo NYHA (NYHA II: 21,08 ± 4,57 ng/mL, NYHA III: 35,86 ± 10,50 ng/mL, NYHA IV: 70,06 ± 20,23 ng/mL) và tương quan thuận với NT-proBNP (r = 0,6; p < 0,001).
  • Đặng Quang Toàn, Tạ Thị Thanh Hương: Khảo sát 113 bệnh nhân suy tim cấp và 52 người chứng, ghi nhận Galectin-3 nhóm bệnh (40,2 ± 2,1 ng/mL) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (17,6 ± 4,3 ng/mL; p < 0,001).
  • Lại Trung Tín, Đoàn Thị Tuyết Ngân, Nguyễn Trung Kiên: Khảo sát 122 bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm, ghi nhận Galectin-3 trung bình là 54,02 ± 23,88 ng/mL, tăng dần theo nhóm tuổi và mức độ suy tim NYHA II, III, IV lần lượt là 36,41 ± 21,52 ng/mL, 63,04 ± 20,79 ng/mL và 105,38 ± 13,52 ng/mL.

Vị trí của luận án: Kế thừa các bằng chứng sinh học và lâm sàng trên, luận án tập trung khảo sát đồng thời nồng độ Galectin-3 tại hai thời điểm (nhập viện và trước xuất viện), phân tích chi tiết sự khác biệt giữa ba nhóm phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF theo khuyến cáo của ESC), xác lập mối liên hệ giữa Galectin-3 với các thông số cấu trúc/chức năng thất trái trên siêu âm tim và định lượng khả năng tiên lượng các biến cố tim mạch nội viện cấp tính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh học phân tử của Galectin-3

Galectin-3 (còn gọi là kháng nguyên Mac-2, protein gắn IgE, L-29, CBP30) là một protein gắn kết carbohydrate thuộc họ lectin động vật, có trọng lượng phân tử từ 29 đến 35 kDa, được mã hóa bởi gen LGALS3 định vị trên nhiễm sắc thể 14q21-22. Galectin-3 là đại diện duy nhất thuộc nhóm lectin có cấu trúc dạng lai (chimera), bao gồm:

  • Đầu C (carbohydrate recognition domain - CRD) hình cầu chứa khoảng 130 acid amin, có các vị trí liên kết với β-galactose (mặt S chuẩn liên kết lactose, mặt F liên kết modified citrus pectin - MCP và galactomannan - GM).
  • Đầu N mở rộng chứa 110 đến 130 acid amin giàu proline, glycine, tyrosine và glutamine, giữ vai trò thiết yếu cho các hoạt tính sinh học hoàn chỉnh và khả năng oligome hóa.

Về cơ chế phân tử trong tái cấu trúc và xơ hóa cơ tim:

  • Khi có các kích thích cơ học (quá tải áp lực, thể tích, căng giãn tế bào) hoặc kích thích sinh học (stress oxy hóa, cytokin viêm, angiotensin II, aldosterone), Galectin-3 được tiết vào khoang ngoại bào bởi các đại thực bào hoạt hóa.
  • Galectin-3 liên kết với thụ thể bề mặt và tương tác với các proteoglycan xuyên màng (như syndecan), kích hoạt các nguyên bào sợi nghỉ ngơi biệt hóa thành nguyên bào sợi cơ (myofibroblasts).
  • Quá trình này làm tăng biểu hiện của alpha-smooth muscle actin (α-SMA - chỉ điểm xơ hóa nội bào) và chuỗi collagen α-1 type 1 (COL1A1 - chỉ điểm xơ hóa ngoại bào).
  • Galectin-3 điều hòa quá trình thoái biến chất nền ngoại bào (ECM) thông qua hệ thống men metalloproteinase mô (MMPs) và chất ức chế mô của metalloproteinase (TIMPs): ức chế MMP14 thông qua con đường phosphatase and tensin homolog (PTEN), và điều hòa tăng MMP9 thông qua protein tyrosine kinase 2 (PTK2), thúc đẩy tích tụ collagen type I, hình thành xơ hóa mô kẽ cơ tim không hồi phục.
  • Ngoài ra, Galectin-3 còn tham gia điều hòa chết tế bào theo chương trình (thông qua tương đồng với Bcl-2, điều hòa caspase-3 và cytochrome C), kết dính và di trú tế bào (laminin, fibronectin, hoạt hóa tín hiệu ERK1/2), tăng sinh mạch (qua VE-cadherin, IL-8, protein kinase C) và phản ứng viêm Th1/Th2.
                  +-------------------------------------------+
                  |  Kích thích: Quá tải áp lực / Thể tích,   |
                  |  Stress oxy hóa, Cytokin viêm, Hormon     |
                  +-------------------------------------------+
                                        |
                                        v
                  +-------------------------------------------+
                  | Đại thực bào hoạt hóa / Tế bào cơ tim:    |
                  |     Tăng tổng hợp và tiết Galectin-3      |
                  +-------------------------------------------+
                                        |
                                        v
                  +-------------------------------------------+
                  | Tương tác thụ thể / Kích hoạt tín hiệu:   |
                  | - Biệt hóa nguyên bào sợi -> myofibroblast|
                  | - Tăng biểu hiện alpha-SMA & COL1A1       |
                  | - Điều hòa MMPs / TIMPs qua PTEN & PTK2   |
                  +-------------------------------------------+
                                        |
                                        v
                  +-------------------------------------------+
                  | Lắng đọng Collagen Type I & Tái cấu trúc: |
                  | - Xơ hóa mô kẽ, dày cơ tim, giãn buồng tim|
                  | - Rối loạn chức năng tâm thu / tâm trương |
                  | - Biến cố suy tim nặng, rối loạn nhịp,    |
                  |   hội chứng vành cấp và tử vong           |
                  +-------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát lâm sàng, tiến cứu, phân tích có so sánh đối chứng.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim: Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC 2016) kết hợp phân loại giai đoạn theo ACC/AHA và phân độ chức năng theo Hội Tim mạch New York (NYHA I - IV).
  • Phân nhóm đối tượng nghiên cứu:
    • Nhóm bệnh nhân suy tim: Được phân nhóm theo phân suất tống máu thất trái (LVEF):
      1. Suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF): LVEF < 40%.
      2. Suy tim phân suất tống máu khoảng giữa / giảm nhẹ (HFmrEF): LVEF 40 - 49%.
      3. Suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF): LVEF ≥ 50%.
    • Nhóm đối chứng: Các đối tượng không có triệu chứng và tiền sử suy tim, chức năng thất trái bình thường.
  • Kỹ thuật xét nghiệm và thu thập dữ liệu:
    • Định lượng nồng độ Galectin-3 huyết thanh tại 2 thời điểm: lúc nhập viện và trước khi xuất viện.
    • Định lượng nồng độ peptide lợi niệu BNP huyết thanh.
    • Các xét nghiệm sinh hóa - huyết học: Số lượng bạch cầu, nồng độ creatinine huyết thanh, độ lọc cầu thận ước tính (eGFR).
  • Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (Siêu âm tim):
    • Thực hiện siêu âm tim M-mode, 2D (phương pháp Simpson sửa đổi và phương pháp Teichholz), Doppler xung và Doppler mô.
    • Thu thập các thông số cấu trúc và chức năng: Đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd), đường kính thất trái cuối tâm thu (LVDs), thể tích thất trái cuối tâm trương (LVEDV), thể tích thất trái cuối tâm thu (LVESV), bề dày vách liên thất tâm trương/tâm thu (IVSd/IVSs), bề dày thành sau thất trái tâm trương/tâm thu (LVPWTd/LVPWTs hay PWTd/PWTs), phân suất tống máu thất trái (LVEF), phân suất co cơ (FS).
    • Đánh giá tái cấu trúc cơ tim: Tính toán khối lượng cơ thất trái (LVM), chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) và độ dày thành tương đối (RWT = 2 × PWTd / LVDd).
    • Phân loại 4 kiểu hình tái cấu trúc thất trái dựa trên kết hợp giữa LVMI và RWT (bình thường, tái cấu trúc đồng tâm, phì đại đồng tâm, phì đại lệch tâm).
  • Theo dõi biến cố tim mạch nội viện: Ghi nhận các biến cố xảy ra trong thời gian nằm viện gồm suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp tim (đặc biệt rối loạn nhịp thất), và tử vong do mọi nguyên nhân.

Kỹ thuật xử lý số liệu thống kê y học

  • Dữ liệu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học chuyên dụng.
  • Thống kê mô tả: Biến định lượng trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (Mean ± SD) hoặc trung vị; biến định tính trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm (%).
  • Thống kê so sánh: Kiểm định Student's t-test hoặc Mann-Whitney U cho so sánh 2 nhóm; ANOVA hoặc Kruskal-Wallis cho so sánh nhiều nhóm; kiểm định Chi bình phương ($X^2$) hoặc Fisher's exact test cho biến định tính.
  • Phân tích mối tương quan: Sử dụng hệ số tương quan tuyến tính Pearson hoặc Spearman để đánh giá liên hệ giữa Galectin-3 với tuổi, eGFR, BNP, LVEF, RWT, PWTd, PWTs, LVMI.
  • Phân tích đa biến: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan độc lập đến nồng độ Galectin-3.
  • Đánh giá giá trị chẩn đoán và tiên lượng: Phân tích đường cong đặc trưng hoạt động của bộ thu (ROC), xác định diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt tối ưu (cut-off), độ nhạy, độ đặc hiệu, tỷ số chênh (OR), tỷ số nguy cơ (HR) với khoảng tin cậy 95% (95% CI).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các kiến thức nền tảng về suy tim và dấu ấn sinh học Galectin-3:

  • Định nghĩa suy tim theo khuyến cáo ESC 2016 và cập nhật ESC 2021; phân loại suy tim cấp (suy tim mất bù cấp, suy tim cấp mới) và suy tim mạn; phân loại theo phân suất tống máu thất trái (HFrEF, HFmrEF, HFpEF); phân giai đoạn theo ACC/AHA (giai đoạn A, B, C, D) và phân độ chức năng theo NYHA (độ I đến IV).
  • Dịch tễ học suy tim thế giới và khu vực: Tỷ lệ lưu hành, gánh nặng nhập viện, các yếu tố nguy cơ và bệnh đồng mắc thường gặp (tăng huyết áp, đái tháo đường typ 2, bệnh động mạch vành, suy thận mạn, COPD).
  • Cơ chế bệnh sinh của tái cấu trúc thất trái: Tác động của quá tải áp lực, quá tải thể tích, sức căng thành tim cuối tâm trương, đáp ứng phì đại tế bào cơ tim, biến đổi ma trận ngoại bào và cơ chế vòng xoắn bệnh lý dẫn đến suy giảm chức năng tim.
  • Vai trò của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm tim (M-mode, 2D Simpson, 3D, siêu âm Doppler đánh giá chức năng tâm trương qua dòng van 2 lá E/A, Doppler mô vòng van), chụp cắt lớp vi tính tim, chụp phóng xạ hạt nhân (ERNA), và cộng hưởng từ tim (CMR - tiêu chuẩn vàng đánh giá xơ hóa qua ngấm thuốc tương phản từ muộn LGE).
  • Tổng quan hệ thống các chỉ điểm sinh học tim mạch: Peptide lợi niệu (BNP, NT-proBNP), Troponin tim (TnI, TnT, hs-TnT), MR-proADM, Copeptin, Chromogranin A, sST2.
  • Cơ sở cấu trúc, chuyển hóa và chức năng của Galectin-3: Phân tử chimera, miền nhận diện carbohydrate CRD, gen LGALS3, con đường truyền tín hiệu IPKB, điều hòa α-SMA, COL1A1, TIMPs, MMPs, PTEN, PTK2; các chức năng tế bào (chết theo chương trình, kết dính, di trú, tăng sinh mạch, viêm, xơ hóa).
  • Tổng quan các hướng dẫn lâm sàng (khuyến cáo ACC/AHA 2017) và lược sử các công trình nghiên cứu về Galectin-3 trong nước (Nguyễn Thúy Nga, Đặng Quang Toàn, Lại Trung Tín) và quốc tế (PRIDE, COACH, DEAL-HF, CARE-HF, TRIUMPH, GALA, Framingham, PREVEND...).

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu khoa học:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho nhóm bệnh nhân suy tim và nhóm chứng không suy tim tại Bệnh viện Trưng Vương.
  • Quy trình lấy mẫu máu xét nghiệm định lượng Galectin-3 huyết thanh (tại thời điểm nhập viện và trước khi xuất viện) và xét nghiệm BNP huyết thanh.
  • Quy trình kỹ thuật thực hiện siêu âm tim Doppler: Cách thức đo đạc các thông số hình thái (LVDd, LVDs, IVSd, IVSs, LVPWTd, LVPWTs), tính toán thể tích (LVEDV, LVESV), phân suất tống máu (LVEF theo Teichholz và Simpson), khối lượng cơ thất trái (LVM), chỉ số khối cơ (LVMI), độ dày thành tương đối (RWT) và phân định 4 kiểu hình tái cấu trúc thất trái.
  • Định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận các biến cố tim mạch nội viện: Suy tim tiến triển nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất, và biến cố tử vong do mọi nguyên nhân trong đợt điều trị nội trú.
  • Phương pháp xử lý số liệu thống kê y học (kiểm định giả thuyết, tương quan, hồi quy tuyến tính đa biến, xây dựng đường cong ROC, xác định AUC, độ nhạy, độ đặc hiệu, OR, HR, 95% CI, p-value).
  • Quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học: Đảm bảo tính tự nguyện, bảo mật thông tin và được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức y sinh học.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập và kết quả phân tích thống kê:

Nhóm chỉ số / Thông số nghiên cứu Nội dung và số liệu trích xuất từ luận án
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chung So sánh đặc điểm tuổi, giới tính, tiền sử bệnh lý (tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường), triệu chứng nhập viện, phân độ chức năng NYHA (I, II, III, IV), số lượng bạch cầu và mức lọc cầu thận eGFR giữa hai nhóm suy tim và không suy tim.
Nồng độ BNP huyết thanh Nồng độ BNP tăng cao ở nhóm suy tim và có sự gia tăng tuần tự theo các mức độ nặng của phân độ suy tim theo NYHA.
Nồng độ Galectin-3 huyết thanh và chẩn đoán suy tim Nồng độ Galectin-3 ở nhóm suy tim cao hơn rõ rệt so với nhóm không suy tim. Đường cong ROC xác lập chẩn đoán suy tim đạt diện tích dưới đường cong AUC = 0,756 (p < 0,001).
Động học Galectin-3 theo thời điểm điều trị So sánh nồng độ Galectin-3 huyết thanh tại 2 thời điểm: lúc nhập viện và trước khi xuất viện ở nhóm bệnh nhân suy tim.
Galectin-3 theo các phân nhóm phân suất tống máu Khảo sát sự khác biệt nồng độ Galectin-3 giữa 3 phân nhóm: HFrEF (EF < 40%), HFmrEF (EF 40 - 49%) và HFpEF (EF ≥ 50%) ở cả hai thời điểm nhập viện và trước xuất viện.
Yếu tố liên quan đến Galectin-3 (Hồi quy đa biến) Phân tích tương quan đơn biến và mô hình tuyến tính đa biến ghi nhận mối liên quan giữa Galectin-3 với tuổi, mức lọc cầu thận (eGFR) và một số yếu tố bệnh lý nền.
Tương quan với tái cấu trúc thất trái và BNP Ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa Galectin-3 với độ dày thành sau thất trái tâm trương (PWTd), tâm thu (PWTs), phân suất tống máu (LVEF), độ dày thành tương đối (RWT), chỉ số LVMI, các kiểu hình tái cấu trúc tim trên siêu âm và nồng độ BNP huyết thanh lúc nhập viện.
Galectin-3 theo mức độ nặng NYHA Nồng độ Galectin-3 huyết thanh tăng tỷ lệ thuận theo các mức độ suy tim theo phân độ NYHA.
Tiên lượng biến cố tim mạch trong thời gian nằm viện Galectin-3 liên quan có ý nghĩa và có giá trị dự báo thông qua đường cong ROC đối với các biến cố nội viện: suy tim nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp tim (nhịp thất), biến cố tử vong chung và biến cố tim mạch chung; so sánh đường cong ROC giữa Galectin-3 và BNP trong tiên đoán tử vong và biến cố tim mạch chung.

Chương 4. Bàn luận

Chương 4 biện luận và đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân tích đặc trưng về tuổi, phân bố giới tính, cơ cấu bệnh nền và các thông số cận lâm sàng ở quần thể nghiên cứu tại Việt Nam so với các thử nghiệm quốc tế.
  • 4.2. Sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim: Biện luận về sự gia tăng có ý nghĩa của Galectin-3 ở nhóm suy tim so với nhóm chứng; giải thích cơ chế phóng thích Galectin-3 từ đại thực bào và tế bào cơ tim khi có stress huyết động; so sánh giá trị AUC (0,756), độ nhạy, độ đặc hiệu với các nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga, Đặng Quang Toàn, Lại Trung Tín và nghiên cứu PRIDE.
  • 4.3. So sánh giá trị Galectin-3 huyết thanh ở các phân nhóm suy tim: Biện luận về nồng độ Galectin-3 giữa HFrEF, HFmrEF và HFpEF; giải thích vai trò của quá trình xơ hóa cơ tim ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) phù hợp với phát hiện trong thử nghiệm COACH của de Boer.
  • 4.4. Khảo sát mối tương quan giữa Galectin-3 với các thông số tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim và xét nghiệm BNP: Phân tích mối liên hệ sinh lý bệnh giữa nồng độ Galectin-3 với các chỉ số PWTd, PWTs, RWT, LVMI, LVEF và các kiểu hình phì đại thất trái; đối chiếu sự kết hợp giữa Galectin-3 (phản ánh xơ hóa/tái cấu trúc) và BNP (phản ánh căng giãn thể tích/áp lực buồng tim).
  • 4.5. Khảo sát giá trị nồng độ Galectin-3 trong tiên lượng biến cố tim mạch nội viện: Biện luận khả năng dự báo của Galectin-3 đối với các biến cố cấp tính (suy tim nặng hơn, hội chứng mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất, tử vong mọi nguyên nhân); đối chiếu giá trị đơn độc và giá trị phối hợp của Galectin-3 và BNP trong phân tầng nguy cơ ngắn hạn cho bệnh nhân suy tim trong thời gian nằm viện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án cung cấp các bằng chứng khoa học thực nghiệm và lâm sàng về nồng độ Galectin-3 huyết thanh trên quần thể bệnh nhân suy tim tại Việt Nam, khẳng định vai trò của Galectin-3 như một chất chỉ điểm sinh học phản ánh quá trình xơ hóa cơ tim và tái cấu trúc thất trái.
  • Xác lập diện tích dưới đường cong ROC của Galectin-3 trong chẩn đoán suy tim đạt AUC = 0,756 (p < 0,001), làm rõ mối liên quan giữa nồng độ Galectin-3 với phân loại suy tim theo phân suất tống máu (HFrEF, HFmrEF, HFpEF) và sự biến thiên nồng độ tại hai thời điểm nhập viện và trước xuất viện.
  • Chứng minh mối tương quan có ý nghĩa giữa nồng độ Galectin-3 huyết thanh với các chỉ số siêu âm tim đánh giá tái cấu trúc thất trái (PWTd, PWTs, RWT, LVMI, LVEF), các kiểu hình biến đổi hình thái thất trái và xét nghiệm peptide lợi niệu BNP.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Đề xuất ứng dụng định lượng nồng độ Galectin-3 huyết thanh như một công cụ cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán suy tim bên cạnh các xét nghiệm peptide lợi niệu truyền thống.
  • Cung cấp cơ sở cho việc sử dụng nồng độ Galectin-3 huyết thanh lúc nhập viện để phân tầng nguy cơ và tiên lượng sớm các biến cố tim mạch bất lợi trong thời gian điều trị nội trú, bao gồm: biến cố suy tim tiến triển nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp thất và tử vong do mọi nguyên nhân.
  • Khẳng định giá trị gia tăng của việc phối hợp đồng thời Galectin-3 và BNP trong việc nâng cao độ chính xác tiên đoán tử vong và các biến cố tim mạch chung trong thời gian nằm viện ở bệnh nhân suy tim.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Kiến nghị triển khai xét nghiệm định lượng Galectin-3 huyết thanh trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở chuyên khoa tim mạch để hỗ trợ đánh giá xơ hóa, tái cấu trúc cơ tim và phân tầng nguy cơ bệnh nhân suy tim.
  • Đề xuất kết hợp đánh giá Galectin-3 cùng với nồng độ BNP và các thông số siêu âm tim (LVMI, RWT, LVEF) ngay khi bệnh nhân nhập viện nhằm tối ưu hóa chiến lược theo dõi và cá thể hóa phác đồ điều trị nội trú.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi theo dõi các biến cố tim mạch trong khoảng thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện; chưa tiến hành theo dõi dọc dài hạn sau xuất viện (6 tháng, 1 năm hoặc nhiều năm) đối với tỷ lệ tái nhập viện và tử vong ngoại viện của bệnh nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn, kéo dài thời gian theo dõi sau khi xuất viện để đánh giá toàn diện giá trị tiên lượng trung hạn và dài hạn của Galectin-3, cũng như theo dõi động học của nồng độ Galectin-3 dưới tác động của các nhóm thuốc điều trị suy tim theo khuyến cáo mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Nội khoa: Cung cấp dữ liệu thực chứng về chỉ điểm sinh học xơ hóa Galectin-3, hỗ trợ việc đánh giá mức độ tái cấu trúc cơ tim, phân nhóm suy tim theo phân suất tống máu và tiên lượng nguy cơ biến cố tim mạch nội viện.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học ngành Y học: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp xét nghiệm hóa sinh miễn dịch và siêu âm tim Doppler, kỹ thuật phân tích thống kê y học (đường cong ROC, hồi quy tuyến tính đa biến, phân tích tương quan).
  • Chuyên gia Hóa sinh lâm sàng và Thăm dò chức năng: Tham khảo về quy trình định lượng Galectin-3, động học biến thiên sinh học qua các thời điểm điều trị và sự tương quan giữa dấu ấn phân tử với các chỉ số huyết động và siêu âm tim.

Câu hỏi thường gặp

1. Galectin-3 có cấu trúc sinh học như thế nào và tham gia vào cơ chế xơ hóa cơ tim ra sao?
Galectin-3 là một protein gắn β-galactose thuộc họ lectin, cấu trúc dạng chimera có trọng lượng phân tử 29 - 35 kDa, mã hóa bởi gen LGALS3 trên nhiễm sắc thể 14q21-22. Galectin-3 gồm đầu C chứa miền nhận diện carbohydrate (CRD) và đầu N mở rộng. Khi cơ tim bị tổn thương hoặc quá tải áp lực, Galectin-3 được tiết ra từ đại thực bào hoạt hóa, kích thích các nguyên bào sợi biệt hóa thành nguyên bào sợi cơ, tăng biểu hiện α-SMA (nội bào) và collagen α-1 type 1 (COL1A1 - ngoại bào), đồng thời điều hòa men MMPs và TIMPs thông qua PTEN và PTK2, dẫn đến tích tụ collagen type I và xơ hóa cơ tim.

2. Hướng dẫn của ACC/AHA năm 2017 khuyến cáo vai trò của Galectin-3 trong suy tim ở mức độ nào?
Trong hướng dẫn điều trị suy tim năm 2017 của Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ / Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA), định lượng Galectin-3 được khuyến cáo nhằm mục đích tiên lượng và phân tầng nguy cơ trong suy tim cấp (nhóm IIb, mức chứng cứ A) và suy tim mạn giai đoạn C, D (nhóm IIb, mức chứng cứ B).

3. Diện tích dưới đường cong (AUC) của Galectin-3 trong chẩn đoán suy tim ở nghiên cứu này đạt giá trị bao nhiêu?
Trong nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Thanh Hiền, đường cong ROC của Galectin-3 huyết thanh trong chẩn đoán suy tim xác lập diện tích dưới đường cong đạt AUC = 0,756 (p < 0,001).

4. Nồng độ Galectin-3 huyết thanh có mối tương quan với những thông số siêu âm tim và cận lâm sàng nào?
Nồng độ Galectin-3 huyết thanh tương quan có ý nghĩa thống kê với nồng độ BNP huyết thanh lúc nhập viện, tuổi, mức lọc cầu thận eGFR, và các thông số siêu âm tim phản ánh tái cấu trúc thất trái bao gồm: độ dày thành sau thất trái tâm trương (PWTd), độ dày thành sau thất trái tâm thu (PWTs), độ dày thành tương đối (RWT), chỉ số khối cơ thất trái (LVMI) và phân suất tống máu thất trái (LVEF).

5. Luận án khảo sát vai trò của Galectin-3 trong tiên lượng những biến cố tim mạch nội viện nào?
Luận án khảo sát giá trị tiên lượng của nồng độ Galectin-3 huyết thanh lúc nhập viện đối với các biến cố tim mạch xảy ra trong thời gian nằm viện, bao gồm: suy tim tiến triển nặng hơn, hội chứng động mạch vành cấp, rối loạn nhịp tim (rối loạn nhịp thất), biến cố tử vong do mọi nguyên nhân và biến cố tim mạch chung.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Bùi Thị Thanh Hiền đã khảo sát sự biến đổi nồng độ Galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim tại Bệnh viện Trưng Vương. Kết quả nghiên cứu xác định nồng độ Galectin-3 huyết thanh tăng cao ở nhóm suy tim với giá trị chẩn đoán AUC = 0,756 (p < 0,001) và biến đổi khác biệt giữa các phân nhóm phân suất tống máu cũng như theo mức độ nặng NYHA. Nghiên cứu chứng minh mối tương quan có ý nghĩa giữa Galectin-3 với nồng độ BNP và các thông số tái cấu trúc thất trái trên siêu âm tim (PWTd, PWTs, RWT, LVMI, LVEF). Đồng thời, nồng độ Galectin-3 lúc nhập viện có giá trị tiên lượng các biến cố tim mạch cấp tính và tử vong trong thời gian nằm viện, hỗ trợ phân tầng nguy cơ bệnh nhân suy tim trong thực hành lâm sàng.