Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số kích thước thể tích bán cầu đại não và não thất bằng cộng hưởng từ ở người việt trưởng thành bình thường

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kích thước thể tích bán cầu đại não và não thất ở người Việt trưởng thành bằng phương pháp cộng hưởng từ.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Khoa học Y sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số đặc điểm giải phẫu và sự biến đổi của sọ, não người

1.1.1. Đặc điểm giải phẫu sọ và não người

1.1.1.1. Đặc điểm giải phẫu sọ người

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Lựa chọn đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm, thời gian và số lượng mẫu nghiên cứu

2.4. Thiết bị nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Phương pháp phân tích hình ảnh cộng hưởng từ

2.7. Các thông số nghiên cứu hình thái não

2.8. Xử lý số liệu

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

3.2. Thể tích nội sọ và thể tích não chung

3.3. Đặc điểm thể tích nội sọ và não chung theo tuổi ở hai giới

3.4. Phương trình hồi quy thể tích não chung

3.5. Chất trắng bán cầu đại não

3.6. Thể tích chất trắng bán cầu đại não theo tuổi ở hai giới

3.7. Diện tích chất trắng bán cầu đại não

3.8. Chất xám vỏ bán cầu đại não

3.9. Thể tích chất xám vỏ bán cầu đại não

3.10. Diện tích chất xám vỏ bán cầu đại não

3.11. Thể tích não thất theo tuổi, giới và phương trình hồi quy

3.12. Thay đổi thể tích não thất theo tuổi ở hai giới

3.13. Phương trình hồi quy thể tích não thất

3.14. Thể tích thể chai

3.15. Thay đổi thể tích thể chai theo tuổi ở hai giới

3.16. Phương trình hồi quy thể tích thể chai

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm hình thái bán cầu đại não, não thất

4.3. Về thể tích nội sọ và thể tích não chung theo tuổi và giới

4.4. Về chất trắng, chất xám bán cầu đại não và các não thất theo tuổi và giới

4.5. Đặc điểm hình thái thể chai theo tuổi và giới

4.6. Phương trình hồi quy thể tích não chung

4.7. Phương trình hồi quy chất trắng, chất xám bán cầu đại não và các não thất theo tuổi ở hai giới

4.8. Phương trình hồi quy thể tích thể chai

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu kích thước thể tích bán cầu đại não và não thất

Nghiên cứu kích thước thể tích bán cầu đại nãonão thất ở người Việt trưởng thành là một lĩnh vực quan trọng trong y học và sinh lý học. Việc xác định các kích thước này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc não mà còn có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển và biến đổi của não theo tuổi tác. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng kích thước và thể tích của não có thể thay đổi theo giới tính và độ tuổi, điều này có thể ảnh hưởng đến các chức năng thần kinh và tâm lý của con người. Sử dụng công nghệ hình ảnh như cộng hưởng từ (MRI) đã mở ra cơ hội để nghiên cứu sâu hơn về các cấu trúc não mà không cần xâm lấn. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu chính xác về kích thước nãothể tích não thất ở người trưởng thành bình thường.

1.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý của não

Não người được chia thành nhiều phần, trong đó bán cầu đại não là phần lớn nhất, chịu trách nhiệm cho nhiều chức năng cao cấp như tư duy, cảm xúc và hành vi. Não thất là hệ thống các khoang chứa dịch não tủy, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và duy trì môi trường cho não. Nghiên cứu về kích thước nãothể tích não thất giúp xác định các chỉ số bình thường và bất thường, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý thần kinh. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự thay đổi về kích thước não có thể liên quan đến các bệnh lý như Alzheimer hay tâm thần phân liệt, do đó việc hiểu rõ về hệ thần kinh là rất cần thiết.

1.2. Phương pháp nghiên cứu hình ảnh não

Phương pháp cộng hưởng từ (MRI) đã trở thành công cụ chính trong việc nghiên cứu hình thái não. Kỹ thuật này cho phép quan sát các cấu trúc não một cách chi tiết mà không cần xâm lấn. Các thông số như thể tích nội sọ, thể tích não chung, và các chỉ số khác được xác định thông qua phân tích hình ảnh. Việc sử dụng MRI không chỉ giúp xác định kích thước mà còn cho phép theo dõi sự thay đổi theo thời gian, từ đó cung cấp thông tin quý giá về sự phát triển và lão hóa của não. Nghiên cứu này không chỉ có giá trị trong lĩnh vực y học mà còn có thể ứng dụng trong tâm lý học và các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe tâm thần.

II. Kết quả nghiên cứu kích thước và thể tích não

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về kích thước thể tích não giữa các nhóm tuổi và giới tính. Cụ thể, thể tích bán cầu đại nãonão thất có xu hướng giảm theo tuổi tác, điều này phản ánh sự lão hóa tự nhiên của não. Các số liệu thu thập từ MRI cho thấy rằng thể tích chất trắngchất xám cũng có sự thay đổi đáng kể, với chất xám thường giảm nhiều hơn so với chất trắng. Điều này có thể liên quan đến sự suy giảm chức năng nhận thức ở người cao tuổi. Các phương trình hồi quy được xây dựng trong nghiên cứu này giúp dự đoán kích thước và thể tích não dựa trên tuổi tác và giới tính, từ đó cung cấp công cụ hữu ích cho các bác sĩ trong việc đánh giá tình trạng sức khỏe não bộ.

2.1. Thể tích não theo tuổi và giới

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thể tích não thất ở nam giới thường lớn hơn so với nữ giới ở cùng độ tuổi. Sự khác biệt này có thể liên quan đến sự phát triển và cấu trúc sinh lý của não giữa hai giới. Thể tích bán cầu đại não cũng cho thấy sự khác biệt rõ rệt, với nam giới có thể tích lớn hơn. Tuy nhiên, sự thay đổi theo tuổi tác là một yếu tố quan trọng cần được xem xét, vì thể tích não có xu hướng giảm dần khi tuổi tác tăng lên. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sự phát triển và lão hóa của não trong các nghiên cứu y học và tâm lý học.

2.2. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị trong việc hiểu biết về hệ thần kinh mà còn có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc xác định các kích thước và thể tích não có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán sớm các bệnh lý như Alzheimer hay các rối loạn tâm thần khác. Ngoài ra, các phương trình hồi quy được xây dựng có thể được sử dụng để phát triển các công cụ đánh giá sức khỏe não bộ, từ đó giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về sự phát triển và biến đổi của não ở người Việt Nam.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số kích thước thể tích bán cầu đại não và não thất bằng cộng hưởng từ ở người việt trưởng thành bình thường

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm giải phẫu và sự biến đổi của sọ, não người 1. Đặc điểm giải phẫu sọ và não người 1. Đặc điểm giải phẫu sọ người Sọ được kiến tạo với hệ thống xương vùng đầu mặt gồm 22 xương: 1 xương trán, 1 xương sàng, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 2 xương thái dương, 2 xương xoăn mũi dưới, 2 xương lệ, 2 xương mũi, 1 xương lá mía, 2 xương hàm trên, 2 xương gò má, 2 xương khẩu cái, 1 xương hàm dưới (Hình 1.

A B 1: Xương trán 5: Xương gò má 9: Xương chẩm 2: Xương đỉnh 6: Xương mũi 10: Xương lệ 3: Xương thái dương 7: Xương hàm trên 11: Xương sàng 4: Xương bướm 8: Xương hàm dưới 12: Xương xoăn mũi dưới 13: Xương lá mía Hình 1. Hệ thống xương vùng đầu mặt nhìn thẳng (A) và nhìn nghiêng (B) *Nguồn: theo Netter F. Khối xương sọ não được tạo nên từ 8 xương và chứa não bộ [19], [20], [21]. Sọ người là một cấu trúc phức tạp chứa não bộ với các xương được tạo thành bởi cốt hóa màng và cốt hóa sụn [19], [20].

Các xương vòm sọ, gồm luan an 4 các xương mặt, phần bên và phần sọ chứa não là các xương sát da gồm các xương trán và đỉnh được tạo bởi quá trình cốt hóa màng. Các xương thái dương và các xương phần trong sọ (xương chẩm, xương bướm và xương sàng) phần lớn tạo bởi cốt hóa sụn [19], [22], [23]. Phát triển bào thai: Trong quá trình phát triển bào thai, hộp sọ được phát triển với các sợi liên kết các xương [19], [20], [22]. Một năm sau khi sinh các sợi này tiêu biến và các xương sọ gắn sát lại với nhau.

Tính mềm của các xương sọ trong giai đoạn bào thai cho phép nó uốn khuôn an toàn đi qua “đường hầm” khi sinh. Thường có các khe giữa các xương sọ phát triển trong các giai đoạn đầu đời. Các khe này được phủ bởi các màng tổ chức bảo vệ. Phát triển giai đoạn sơ sinh: Đầu mềm cho phép đứa trẻ an toàn đi qua đường hầm sinh nở và cho phép sự phát triển bình thường của hệ thống xương sọ trong suốt 18 tháng đầu đời.

Trong suốt quá trình này bộ não phát triển nhanh và sọ cũng đủ linh hoạt để thích ứng với sự phát triển của não. Sự phát triển tự nhiên của các xương sọ và xương mặt liên quan tới những thay đổi hình thái của sọ khi hộp sọ chưa gắn kết vĩnh viễn. Hộp sọ vĩnh viễn kết dính giữa độ 20 tháng tuổi tới hai năm [20], [22], [23]. Các thành phần của sọ não phát sinh khác biệt so với các xương khác, chúng phát sinh đặc biệt từ trong màng phủ của não thai nhi [19], [20], [22], [23].

Các xương trán, đỉnh và chẩm giống như các thành tố xương bao phủ bộ não, chúng phát triển và gắn bó chặt chẽ với não và kích thước của não. Quá trình phát triển các xương trong giai đoạn đầu đời theo trục trước-sau và hướng trên-dưới được đề cập lần lượt tiếp sau. Xương trán: nằm ở phía trước và trên của sọ, là xương sọ đầu tiên bắt đầu cốt hóa. Quá trình bắt đầu phát triển từ hai trung tâm và thấy dưới kính hiển vi bởi nhuộm alizarin ở khoảng tuần 6-7 thai kỳ và thấy trên hình ảnh X quang ở tuần 13 [15], [23], [24].

Khi sự phát triển bắt đầu, xương trán cốt hóa theo dạng nan hoa từ mỗi trung tâm như các thành tố xương sọ khác, nhưng luan an 5 sự cốt hóa tiếp tục theo dạng kéo dài thành một hình trứng với trục dọc theo chiều trước sau [15], [23], [24]. Khi sinh, các xương trán đối xứng và tách bởi thóp lớn nhất, thóp trước và khớp trán. Cả thóp và khớp trán đóng lại hoàn toàn ở cuối năm thứ hai, khép dính hai nửa trái-phải thành một thể. Ở trẻ sơ sinh thấy rõ các thóp khi so sánh với xương sọ người lớn [15], [24].

Xương đỉnh: hai xương đỉnh nằm ở mỗi bên não bộ, nằm sau xương trán. Các xương đỉnh thai nhi tạo từ hai trung tâm tạo xương có thể thấy dưới kính hiển vi bằng nhuộm alizarin ở tuần 7-8 thai kỳ [15], [23], [24]. Sự cốt hóa của hai trung tâm kết dính nhanh, tạo thành dạng eo đồng hồ cát ở các giai đoạn sớm và phát triển nhanh chóng thành hình dạng elip, thấy được khi chụp X quang ở khoảng tuần 20 thai kỳ. Mặc dù sự cốt hóa và phát triển bắt đầu ở một giai đoạn sớm, các xương đỉnh không phân định được nhờ các góc và riềm bờ tới tận khoảng tuần 24 [15], [23], [24].

Các xương đỉnh ở thai nhi và trẻ em có đặc điểm có các ụ nhô khá lớn nằm ở trung tâm ở mỗi bên xương và tạo nên các vòm cong rõ dọc theo khớp dọc giữa. Vòm cong này bắt đầu có hình dáng góc cạnh và phẳng dần khi đạt tới độ cong tối đa ở tháng thứ 9 sau sinh. Ở giai đoạn này sự tăng trưởng chậm lại và vòm sọ nhẹ nhàng phẳng dần thành hình dáng như khi trưởng thành. Xương chẩm: xương chẩm nằm ở phía sau và nền của sọ, là thành phần cuối của vòm sọ bắt đầu sự phát triển và cốt hóa.

Thành phần này cốt hóa từ bốn trung tâm, nhiều hơn bất kỳ thành phần nào khác của hộp sọ và là thành phần duy nhất tạo thành từ sụn chứ không phải trực tiếp từ màng che phủ não. Xương chẩm tạo thành hai nửa: phần trên hay phần liên đỉnh, với một trung tâm cốt hóa cho mỗi nửa trái và phải; và phần dưới hay chẩm dưới, cũng với một trung tâm cho mỗi phần trái và phải. Cả hai phần liên đỉnh và chẩm dưới hình thành độc lập, phần chẩm dưới bắt đầu phân định được trước ở khoảng tuần thứ 8 thai kỳ và phần liên đỉnh bắt đầu muộn hơn ở khoảng tuần 10 thai kỳ [15], [23], [24]. Các nửa trên và dưới phát triển độc lập.

Phần luan an 6 liên đỉnh phát triển nội sọ, là phần của xương chẩm phía trên đường gáy theo dạng hình quạt. Phần chẩm dưới bắt nguồn dưới đường gáy và tạo thành một hình dạng elip. Tới tận khi thai nhi ở khoảng tháng 3,5-5 thai kỳ, mỗi trung tâm cốt hóa vẫn đều độc lập với các trung tâm khác. Ở thời điểm này trong sự phát triển của các thành phần sọ thai nhi, bốn trung tâm bắt đầu nối tại đường giữa và kết dính với phía ngoài hướng về phía biên lề, dọc theo các khớp chẩm dưới ngoài (sutura mendosa).

Các trung tâm cốt hóa riêng rẽ này kết dính thành một thể xương chẩm [15], [16], [24]. Đặc điểm giải phẫu não người Đại não là phần lớn nhất của não người, hình trứng, đầu to ở sau, chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể ở người trung bình. Đại não gồm hai bán cầu đại não nối với nhau bởi các mép liên bán cầu và trùm kín gian não ở giữa [5], [21]. Trong quá trình phát triển, kích thước của não tăng lên rất nhanh, chất xám của vỏ đại não phát triển mạnh hơn nhiều so với chất trắng ở trong sâu nên vỏ não phải cuộn và gấp nếp rất nhiều, làm tăng diện tích lên nhiều lần, tạo nên các hồi và các thùy, bởi các rãnh, nông sâu khác nhau [5], [21].

Hai phần ba bề mặt vỏ não được dấu kín trong thành của các rãnh. Những phần vỏ não nằm cuộn ở giữa các rãnh nông được gọi là những hồi não. Những phần vỏ não lớn hơn được ngăn cách bởi rãnh sâu hơn và hằng định hơn được gọi là các thùy não. Các rãnh gian thùy được gọi tên theo vị trí và hình thể trên mỗi bán cầu như rãnh trung tâm, rãnh bên, rãnh đỉnh chẩm, rãnh đai, rãnh dưới đỉnh… Các rãnh gian hồi, được gọi tên theo vị trí tương đối và hình thể của mỗi thùy.

Các rãnh lớn chia mỗi bán cầu đại não thành sáu thùy, gồm bốn thùy hiển lộ là thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy thái dương và thêm hai thùy nằm sâu là thùy viền (tạo bởi các hồi đai, cận hải mãi và móc) và thùy đảo [5], [21], [25], [26], [27]. Trọng lượng não ở các cá thể khác nhau nhưng không phải là căn cứ trực tiếp để đánh giá về trí tuệ của người [5], [21]. Đại não được coi là trung tâm của trí tuệ, tư tưởng, ý thức, trí nhớ, tình cảm… luan an 7 * Các rãnh và mốc ở mặt ngoài bán cầu đại não Rãnh trung tâm (central sulcus) hay còn gọi là rãnh Rolando (Rolandic fissure): đi từ gần giữa bờ trên bán cầu, hơi lệch về phía sau, chạy chếch xuống dưới và ra trước, tận hết ở góc giữa rãnh bên và rãnh lên của nó. Rãnh trung tâm là mốc quan trọng phân chia thùy trán và thùy đỉnh và đặc biệt là tách vùng vỏ não vận động và vùng vỏ não cảm giác.

Các rãnh chia mặt ngoài thành thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương, thùy chẩm (Hình 1. Ngoài ra có thùy đảo nằm sâu ở trong đáy rãnh bên. Các rãnh và mốc ở mặt ngoài (A) và mặt trong (B) bán cầu đại não *Nguồn: theo Debowski M. và cs (2016) [25] Rãnh Sylvius (Sylvian sulcus) hay rãnh bên (lateral sulcus): bắt đầu từ mặt dưới bán cầu, vòng quanh bờ dưới ngoài (ở chỗ nối ¼ trước với ¾ sau) để chạy ra mặt ngoài, rồi đi chếch lên trên và ra sau, tới chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 sau của bán cầu.

Rãnh bên rất sâu, được tạo nên do sự phát triển phôi thai rất mạnh của phần trán và phần thái dương, ôm quanh và bọc kín thùy đảo. Rãnh bên phân tách thùy trán, thùy đỉnh và thùy thái dương. Rãnh đỉnh chẩm (parieto-occipital sulcus): phần ở mặt ngoài bán cầu hay rãnh thẳng góc ngoài, là đoạn đầu rất ngắn của rãnh, xuất hiện ở bờ trên bán cầu, trước cực chẩm bán cầu khoảng 5 cm, ngăn cách thùy đỉnh và chẩm. Khuyết trước chẩm (preoccipital incisure): là điểm lõm ở bờ dưới ngoài bán cầu, điểm giới hạn giữa thùy chẩm và thùy thái dương.

luan an 8 Đường thái dương đỉnh ngoài (lateral parieto-temporal line): là đường tưởng tượng, nằm dọc, phân chia thùy thái dương, thùy đỉnh và thùy chẩm, nối giữa rãnh đỉnh chẩm ngoài ở trên và khuyết trước chẩm ở dưới. Đường thái dương chẩm (temporo-occipital line): là đường tưởng tượng, nằm ngang, phân chia thùy đỉnh và thùy thái dương, nối từ vị trí cuối cùng của rãnh bên đến điểm giữa của đường thái dương đỉnh ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu kích thước thể tích bán cầu đại não và não thất bằng cộng hưởng từ ở người Việt trưởng thành" của tác giả Tống Quốc Đông, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Hải Anh tại Học viện Quân y, đã được thực hiện vào năm 2020 tại Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định kích thước thể tích của bán cầu đại não và não thất ở người Việt trưởng thành thông qua phương pháp cộng hưởng từ. Kết quả của nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quý giá về cấu trúc não bộ của người Việt mà còn có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến não.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến y học và sức khỏe, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, nơi nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc tim mạch và sức khỏe. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần. Cuối cùng, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính sẽ cung cấp thêm thông tin về các bệnh lý não bộ, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này.