CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm giải phẫu và sự biến đổi của sọ, não người 1. Đặc điểm giải phẫu sọ và não người 1. Đặc điểm giải phẫu sọ người Sọ được kiến tạo với hệ thống xương vùng đầu mặt gồm 22 xương: 1 xương trán, 1 xương sàng, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 2 xương thái dương, 2 xương xoăn mũi dưới, 2 xương lệ, 2 xương mũi, 1 xương lá mía, 2 xương hàm trên, 2 xương gò má, 2 xương khẩu cái, 1 xương hàm dưới (Hình 1.
A B 1: Xương trán 5: Xương gò má 9: Xương chẩm 2: Xương đỉnh 6: Xương mũi 10: Xương lệ 3: Xương thái dương 7: Xương hàm trên 11: Xương sàng 4: Xương bướm 8: Xương hàm dưới 12: Xương xoăn mũi dưới 13: Xương lá mía Hình 1. Hệ thống xương vùng đầu mặt nhìn thẳng (A) và nhìn nghiêng (B) *Nguồn: theo Netter F. Khối xương sọ não được tạo nên từ 8 xương và chứa não bộ [19], [20], [21]. Sọ người là một cấu trúc phức tạp chứa não bộ với các xương được tạo thành bởi cốt hóa màng và cốt hóa sụn [19], [20].
Các xương vòm sọ, gồm luan an 4 các xương mặt, phần bên và phần sọ chứa não là các xương sát da gồm các xương trán và đỉnh được tạo bởi quá trình cốt hóa màng. Các xương thái dương và các xương phần trong sọ (xương chẩm, xương bướm và xương sàng) phần lớn tạo bởi cốt hóa sụn [19], [22], [23]. Phát triển bào thai: Trong quá trình phát triển bào thai, hộp sọ được phát triển với các sợi liên kết các xương [19], [20], [22]. Một năm sau khi sinh các sợi này tiêu biến và các xương sọ gắn sát lại với nhau.
Tính mềm của các xương sọ trong giai đoạn bào thai cho phép nó uốn khuôn an toàn đi qua “đường hầm” khi sinh. Thường có các khe giữa các xương sọ phát triển trong các giai đoạn đầu đời. Các khe này được phủ bởi các màng tổ chức bảo vệ. Phát triển giai đoạn sơ sinh: Đầu mềm cho phép đứa trẻ an toàn đi qua đường hầm sinh nở và cho phép sự phát triển bình thường của hệ thống xương sọ trong suốt 18 tháng đầu đời.
Trong suốt quá trình này bộ não phát triển nhanh và sọ cũng đủ linh hoạt để thích ứng với sự phát triển của não. Sự phát triển tự nhiên của các xương sọ và xương mặt liên quan tới những thay đổi hình thái của sọ khi hộp sọ chưa gắn kết vĩnh viễn. Hộp sọ vĩnh viễn kết dính giữa độ 20 tháng tuổi tới hai năm [20], [22], [23]. Các thành phần của sọ não phát sinh khác biệt so với các xương khác, chúng phát sinh đặc biệt từ trong màng phủ của não thai nhi [19], [20], [22], [23].
Các xương trán, đỉnh và chẩm giống như các thành tố xương bao phủ bộ não, chúng phát triển và gắn bó chặt chẽ với não và kích thước của não. Quá trình phát triển các xương trong giai đoạn đầu đời theo trục trước-sau và hướng trên-dưới được đề cập lần lượt tiếp sau. Xương trán: nằm ở phía trước và trên của sọ, là xương sọ đầu tiên bắt đầu cốt hóa. Quá trình bắt đầu phát triển từ hai trung tâm và thấy dưới kính hiển vi bởi nhuộm alizarin ở khoảng tuần 6-7 thai kỳ và thấy trên hình ảnh X quang ở tuần 13 [15], [23], [24].
Khi sự phát triển bắt đầu, xương trán cốt hóa theo dạng nan hoa từ mỗi trung tâm như các thành tố xương sọ khác, nhưng luan an 5 sự cốt hóa tiếp tục theo dạng kéo dài thành một hình trứng với trục dọc theo chiều trước sau [15], [23], [24]. Khi sinh, các xương trán đối xứng và tách bởi thóp lớn nhất, thóp trước và khớp trán. Cả thóp và khớp trán đóng lại hoàn toàn ở cuối năm thứ hai, khép dính hai nửa trái-phải thành một thể. Ở trẻ sơ sinh thấy rõ các thóp khi so sánh với xương sọ người lớn [15], [24].
Xương đỉnh: hai xương đỉnh nằm ở mỗi bên não bộ, nằm sau xương trán. Các xương đỉnh thai nhi tạo từ hai trung tâm tạo xương có thể thấy dưới kính hiển vi bằng nhuộm alizarin ở tuần 7-8 thai kỳ [15], [23], [24]. Sự cốt hóa của hai trung tâm kết dính nhanh, tạo thành dạng eo đồng hồ cát ở các giai đoạn sớm và phát triển nhanh chóng thành hình dạng elip, thấy được khi chụp X quang ở khoảng tuần 20 thai kỳ. Mặc dù sự cốt hóa và phát triển bắt đầu ở một giai đoạn sớm, các xương đỉnh không phân định được nhờ các góc và riềm bờ tới tận khoảng tuần 24 [15], [23], [24].
Các xương đỉnh ở thai nhi và trẻ em có đặc điểm có các ụ nhô khá lớn nằm ở trung tâm ở mỗi bên xương và tạo nên các vòm cong rõ dọc theo khớp dọc giữa. Vòm cong này bắt đầu có hình dáng góc cạnh và phẳng dần khi đạt tới độ cong tối đa ở tháng thứ 9 sau sinh. Ở giai đoạn này sự tăng trưởng chậm lại và vòm sọ nhẹ nhàng phẳng dần thành hình dáng như khi trưởng thành. Xương chẩm: xương chẩm nằm ở phía sau và nền của sọ, là thành phần cuối của vòm sọ bắt đầu sự phát triển và cốt hóa.
Thành phần này cốt hóa từ bốn trung tâm, nhiều hơn bất kỳ thành phần nào khác của hộp sọ và là thành phần duy nhất tạo thành từ sụn chứ không phải trực tiếp từ màng che phủ não. Xương chẩm tạo thành hai nửa: phần trên hay phần liên đỉnh, với một trung tâm cốt hóa cho mỗi nửa trái và phải; và phần dưới hay chẩm dưới, cũng với một trung tâm cho mỗi phần trái và phải. Cả hai phần liên đỉnh và chẩm dưới hình thành độc lập, phần chẩm dưới bắt đầu phân định được trước ở khoảng tuần thứ 8 thai kỳ và phần liên đỉnh bắt đầu muộn hơn ở khoảng tuần 10 thai kỳ [15], [23], [24]. Các nửa trên và dưới phát triển độc lập.
Phần luan an 6 liên đỉnh phát triển nội sọ, là phần của xương chẩm phía trên đường gáy theo dạng hình quạt. Phần chẩm dưới bắt nguồn dưới đường gáy và tạo thành một hình dạng elip. Tới tận khi thai nhi ở khoảng tháng 3,5-5 thai kỳ, mỗi trung tâm cốt hóa vẫn đều độc lập với các trung tâm khác. Ở thời điểm này trong sự phát triển của các thành phần sọ thai nhi, bốn trung tâm bắt đầu nối tại đường giữa và kết dính với phía ngoài hướng về phía biên lề, dọc theo các khớp chẩm dưới ngoài (sutura mendosa).
Các trung tâm cốt hóa riêng rẽ này kết dính thành một thể xương chẩm [15], [16], [24]. Đặc điểm giải phẫu não người Đại não là phần lớn nhất của não người, hình trứng, đầu to ở sau, chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể ở người trung bình. Đại não gồm hai bán cầu đại não nối với nhau bởi các mép liên bán cầu và trùm kín gian não ở giữa [5], [21]. Trong quá trình phát triển, kích thước của não tăng lên rất nhanh, chất xám của vỏ đại não phát triển mạnh hơn nhiều so với chất trắng ở trong sâu nên vỏ não phải cuộn và gấp nếp rất nhiều, làm tăng diện tích lên nhiều lần, tạo nên các hồi và các thùy, bởi các rãnh, nông sâu khác nhau [5], [21].
Hai phần ba bề mặt vỏ não được dấu kín trong thành của các rãnh. Những phần vỏ não nằm cuộn ở giữa các rãnh nông được gọi là những hồi não. Những phần vỏ não lớn hơn được ngăn cách bởi rãnh sâu hơn và hằng định hơn được gọi là các thùy não. Các rãnh gian thùy được gọi tên theo vị trí và hình thể trên mỗi bán cầu như rãnh trung tâm, rãnh bên, rãnh đỉnh chẩm, rãnh đai, rãnh dưới đỉnh… Các rãnh gian hồi, được gọi tên theo vị trí tương đối và hình thể của mỗi thùy.
Các rãnh lớn chia mỗi bán cầu đại não thành sáu thùy, gồm bốn thùy hiển lộ là thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy thái dương và thêm hai thùy nằm sâu là thùy viền (tạo bởi các hồi đai, cận hải mãi và móc) và thùy đảo [5], [21], [25], [26], [27]. Trọng lượng não ở các cá thể khác nhau nhưng không phải là căn cứ trực tiếp để đánh giá về trí tuệ của người [5], [21]. Đại não được coi là trung tâm của trí tuệ, tư tưởng, ý thức, trí nhớ, tình cảm… luan an 7 * Các rãnh và mốc ở mặt ngoài bán cầu đại não Rãnh trung tâm (central sulcus) hay còn gọi là rãnh Rolando (Rolandic fissure): đi từ gần giữa bờ trên bán cầu, hơi lệch về phía sau, chạy chếch xuống dưới và ra trước, tận hết ở góc giữa rãnh bên và rãnh lên của nó. Rãnh trung tâm là mốc quan trọng phân chia thùy trán và thùy đỉnh và đặc biệt là tách vùng vỏ não vận động và vùng vỏ não cảm giác.
Các rãnh chia mặt ngoài thành thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương, thùy chẩm (Hình 1. Ngoài ra có thùy đảo nằm sâu ở trong đáy rãnh bên. Các rãnh và mốc ở mặt ngoài (A) và mặt trong (B) bán cầu đại não *Nguồn: theo Debowski M. và cs (2016) [25] Rãnh Sylvius (Sylvian sulcus) hay rãnh bên (lateral sulcus): bắt đầu từ mặt dưới bán cầu, vòng quanh bờ dưới ngoài (ở chỗ nối ¼ trước với ¾ sau) để chạy ra mặt ngoài, rồi đi chếch lên trên và ra sau, tới chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 sau của bán cầu.
Rãnh bên rất sâu, được tạo nên do sự phát triển phôi thai rất mạnh của phần trán và phần thái dương, ôm quanh và bọc kín thùy đảo. Rãnh bên phân tách thùy trán, thùy đỉnh và thùy thái dương. Rãnh đỉnh chẩm (parieto-occipital sulcus): phần ở mặt ngoài bán cầu hay rãnh thẳng góc ngoài, là đoạn đầu rất ngắn của rãnh, xuất hiện ở bờ trên bán cầu, trước cực chẩm bán cầu khoảng 5 cm, ngăn cách thùy đỉnh và chẩm. Khuyết trước chẩm (preoccipital incisure): là điểm lõm ở bờ dưới ngoài bán cầu, điểm giới hạn giữa thùy chẩm và thùy thái dương.
luan an 8 Đường thái dương đỉnh ngoài (lateral parieto-temporal line): là đường tưởng tượng, nằm dọc, phân chia thùy thái dương, thùy đỉnh và thùy chẩm, nối giữa rãnh đỉnh chẩm ngoài ở trên và khuyết trước chẩm ở dưới. Đường thái dương chẩm (temporo-occipital line): là đường tưởng tượng, nằm ngang, phân chia thùy đỉnh và thùy thái dương, nối từ vị trí cuối cùng của rãnh bên đến điểm giữa của đường thái dương đỉnh ngoài.