Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả sớm và trung hạn của phương pháp bít thông liên thất phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ hai đĩa đồng tâm

Luận án tiến sĩ phân tích kết quả sớm và trung hạn của phương pháp bít thông liên thất qua ống thông bằng dụng cụ hai đĩa đồng tâm.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2020

200
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về bệnh thông liên thất

1.2. Tỷ lệ bệnh

1.3. Bào thai học

1.4. Giải phẫu học

1.5. Sinh lý bệnh và đặc điểm lâm sàng

1.6. Diễn biến bệnh tự nhiên và tiên lượng

1.7. Điều trị nội khoa

1.8. Lựa chọn điều trị đóng lỗ TLT bằng PT hoặc can thiệp qua da

1.9. Thông liên thất lỗ lớn

1.10. Thông liên thất lỗ nhỏ

1.11. Thông liên thất dưới hai đại động mạch

1.12. Các tai biến của điều trị phẫu thuật

1.13. Kết quả phẫu thuật

1.14. Tổng quan về bít TLT phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ

1.15. Các nghiên cứu lâm sàng bít TLT phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ hai đĩa lệch tâm của AGA

1.16. Các nghiên cứu lâm sàng bít TLT phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ Nit-Occlud Lê VSD-Coils

1.17. Các nghiên cứu lâm sàng bít TLT phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ bít ống động mạch

1.18. Các nghiên cứu lâm sàng bít TLT phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ hai đĩa đồng tâm

1.19. Tổng quan về các nghiên cứu so sánh bít qua đường ống thông bằng dụng cụ và phẫu thuật tim hở ở BN TLT phần quanh màng

1.20. Các hướng dẫn, khuyến cáo điều trị TLT của các Hội Tim mạch về bệnh TBS ở trẻ em và người lớn

1.21. Hướng dẫn của Trường môn Tim mạch và Hội Tim mạch Mỹ về điều trị tim bẩm sinh năm 2018

1.22. Hướng dẫn của Hội Tim mạch Châu Âu về điều trị TBS năm 2010

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Địa điểm nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Loại hình nghiên cứu

2.8. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.9. Xử lý số liệu

2.10. Đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm bệnh sử, lâm sàng của bệnh nhân nhóm nghiên cứu

3.3. Đặc điểm của điện tim đồ, X quang tim phổi thẳng trước thủ thuật

3.4. Đặc điểm chung của siêu âm tim qua thành ngực trước thủ thuật

3.5. Đặc điểm lỗ thông liên thất trên siêu âm tim qua thành ngực

3.6. Những kết quả thủ thuật bít lỗ TLT của nghiên cứu

3.7. Kết quả về phương pháp giảm đau, đường vào mạch máu

3.8. Kết quả áp lực ĐMP và Qp/Qs trên thông tim

3.9. Kết quả đặc điểm lỗ TLT trên thông tim

3.10. Kết quả thủ thuật bít lỗ TLT

3.11. Các khó khăn, trở ngại trong quá trình thủ thuật

3.12. Các rối loạn nhịp tim gặp trong quá trình thủ thuật

3.13. Các tai biến của thủ thuật

3.14. Kết quả thành công, thất bại của thủ thuật

3.15. Những kết quả của thủ thuật sau 24 giờ

3.16. Những kết quả của thủ thuật sau 1 tháng

3.17. Những kết quả của thủ thuật sau 3 tháng

3.18. Những kết quả của thủ thuật sau 12 tháng

3.19. Những kết quả của thủ thuật sau 18 tháng

3.20. Tổng hợp, đánh giá kết quả của thủ thuật trong nghiên cứu

3.21. Các triệu chứng lâm sàng trước và sau thủ thuật

3.22. Điện tim đồ trước và sau thủ thuật

3.23. So sánh ĐK cuối tâm trương TTr trước và sau thủ thuật 24 giờ, 1 tháng

3.24. So sánh chức năng tâm thu thất trái (EF) trước và sau thủ thuật 24 giờ, 1 tháng

3.25. So sánh áp lực ĐMP trước và sau thủ thuật 24 giờ, 1 tháng

3.26. So sánh sự thay đổi của HoBL trên siêu âm trước và sau thủ thuật

3.27. So sánh kích thước lỗ thông đo trên siêu âm với thông tim

3.28. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ shunt tồn lưu ngay sau khi thả dụng cụ

3.29. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ shunt tồn lưu sau 24 giờ, 1, 3, 12 và 18 tháng

3.30. Tổng hợp thành công, thất bại, các khó khăn, tai biến của thủ thuật

3.31. Trình bày một bệnh nhân cụ thể được bít TLT phần quanh màng bằng dụng cụ hai đĩa đồng tâm dùng trong nghiên cứu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh thông liên thất

Bệnh thông liên thất (bít thông liên thất) là một trong những bệnh tim bẩm sinh phổ biến nhất, chiếm khoảng 20-30% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Bệnh này xảy ra khi có sự thông thương giữa buồng thất trái và thất phải, dẫn đến sự thay đổi trong dòng máu và áp lực trong tim. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như suy tim và tăng áp lực động mạch phổi. Theo các nghiên cứu, có nhiều thể thông liên thất khác nhau, một số có thể tự bít kín, trong khi một số khác cần can thiệp y tế. Quyết định điều trị thường phụ thuộc vào kích thước lỗ thông và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

1.1. Tỷ lệ bệnh

Tỷ lệ mắc bệnh thông liên thất rất khó xác định chính xác do nhiều trường hợp lỗ thông nhỏ không có triệu chứng. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ siêu âm, tỷ lệ này đã được ghi nhận và thống kê một cách rõ ràng hơn. Các bác sĩ cần chú ý đến các triệu chứng lâm sàng và chỉ định các phương pháp chẩn đoán phù hợp để phát hiện bệnh sớm.

II. Phương pháp điều trị bệnh thông liên thất

Phương pháp điều trị bệnh thông liên thất chủ yếu bao gồm phẫu thuật tim hở và can thiệp qua da. Phẫu thuật tim hở được coi là phương pháp chuẩn vàng, nhưng có nhiều rủi ro liên quan đến gây mê và hồi sức. Trong những năm gần đây, phương pháp bít thông liên thất qua ống thông bằng dụng cụ đã thu hút sự quan tâm lớn từ các bác sĩ can thiệp. Phương pháp này không chỉ giảm thiểu rủi ro mà còn mang lại kết quả điều trị khả quan. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thành công của phương pháp này rất cao, đặc biệt là với các dụng cụ mới như Nit-Occlud Lê VSD-Coils và dụng cụ hai đĩa đồng tâm.

2.1. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp bít thông liên thất qua ống thông có tỷ lệ thành công lên đến 96%. Tuy nhiên, vẫn còn một số tai biến có thể xảy ra, như tỷ lệ shunt tồn lưu và các biến chứng khác. Việc theo dõi bệnh nhân sau thủ thuật là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả và an toàn của phương pháp này.

III. Đánh giá hiệu quả và an toàn của phương pháp bít thông liên thất

Đánh giá hiệu quả của phương pháp bít thông liên thất qua ống thông là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Các yếu tố như kích thước lỗ thông, loại dụng cụ sử dụng và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân đều có thể ảnh hưởng đến kết quả. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc lựa chọn dụng cụ phù hợp và kỹ thuật thực hiện chính xác có thể giảm thiểu tỷ lệ tai biến và tăng cường hiệu quả điều trị. Theo dõi bệnh nhân sau thủ thuật cũng giúp phát hiện sớm các biến chứng và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

3.1. Theo dõi bệnh nhân

Theo dõi bệnh nhân sau khi bít thông liên thất là rất cần thiết để đánh giá tình trạng sức khỏe và phát hiện các biến chứng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc theo dõi định kỳ giúp cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Các bác sĩ cần chú ý đến các triệu chứng lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả sớm và trung hạn của phương pháp bít thông liên thất phần quanh màng qua ống thông bằng dụng cụ hai đĩa đồng tâm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh thông liên thất 1. Tỷ lệ bệnh Thông liên thất là bệnh TBS phổ biến nhất nếu không tính dị tật van ĐMC có hai lá van và sa van hai lá bẩm sinh [2, 36, 37]. Thực ra rất khó biết chính xác là tỷ lệ thật TLT chiếm bao nhiêu vì phần lớn TLT là lỗ nhỏ không có triệu chứng, vì vậy trước đây không có một số liệu thống kê nào về tỷ lệ bệnh này, từ khi có siêu âm (SÂ) 2D và Doppler màu thì người ta mới thống kê được tỷ lệ bệnh TLT tương đối chính xác [38].

Hơn nữa một số TLT đã tự bít kín thể hiện qua mổ tử thi thấy di tích lỗ TLT. Do vậy các dữ liệu cho thấy tỷ lệ bệnh này còn cao hơn các số liệu thống kê [2, 39]. Tác giả Hoffman phân tích gộp 22 thống kê thấy tỷ lệ TLT là 31% trong các bệnh TBS. Sự ra đời của SÂ đã làm thay đổi thống kê bệnh TLT, điều này lại được khẳng định chắc chắn hơn ở nghiên cứu Baltimore – Washington khi dùng siêu âm để chẩn đoán TLT, số liệu cho thấy tỷ lệ TLT phần cơ cao gấp 10 lần so với các thống kê trước đây và tỷ lệ TLT chiếm 1/ 3 tất cả các dị tật TBS, tương đương nghiên cứu Malta.

Thông liên thất có tỷ lệ cao ở nhóm trẻ đẻ non thiếu tháng, nhẹ cân nhưng không liên quan ý nghĩa đến giới, chủng tộc, tuổi mẹ, số lần sinh hay điều kiện kinh tế xã hội [2, 40, 41]. Bào thai học Sau khi tạo thành ống tim nguyên thủy theo tư thế bình thường hay đảo ngược trong tuần thứ tư của bào thai, các thành phần vách liên thất (VLT) của ống tim bắt đầu phần cuối cùng của phần hoành và phần dưới của tim. Phần cơ của vách thất được thành lập bởi nếp gấp cơ thất, nó thường thẳng hàng luan an 5 với vách nón ngăn cách đường ra TP với đường ra TTr. Van Praagh đã mô tả sự hình thành VLT phần cơ từ sự đan chéo với vách nón tạo hình chữ Y mà ngã ba là dải vách (septal band) [42].

Phần vách cuối cùng hình thành là VLT phần màng gần phần mép trước vách của VBL. Vách màng nằm phía dưới của nửa trước lá không vành van ĐMC và phía dưới mép lá không vành và lá vành phải của van ĐMC. Vách hình thành đầy đủ vào ngày thứ 38 đến 45 của quá trình bào thai [3, 4, 37, 43]. Giải phẫu học Đặc điểm giải phẫu quan trọng là VLT không thẳng hàng như một bức tường để ngăn cách hai buồng thất, VLT mô tả như hình không gian hai chiều.

VLT có cấu trúc hình cong bởi vì hình tròn của TTr và hình lưỡi liềm của TP ôm mặt trước bên phải của thất trái (hình 1. Cũng phải nhớ rằng cấu trúc của VLT thay đổi theo từng vị trí của vách. Ví dụ như VLT nhìn từ phía TTr thì cấu trúc bề mặt rất nhẵn đều, bè cơ nhỏ gọn ở các thành khác của thất trái. Ở mỏm thất phải VLT rất nhiều bè cơ nhưng vùng phễu đường ra TP thì nhẵn hơn nhất là phần vách nón.

Dải vách trải dài xuống dưới từ vách nón tới và liên tục như dải điều hòa rồi nối vào trụ cơ trước VBL, các trụ cơ này xuất phát từ vách, mỏm hay thành tự do TP. Dải vách chia phần vách cơ phía trước và đường ra của vách từ buồng nhận của vách liên thất. Phần giữa của vách thất rất khó xác định ranh giới, là phần giữa mỏm TP với van ĐMP [4, 44]. Dải vách trước Dải vách sau dưới Vách nón Vách màng Vách cơ Vách kênh nhĩ thất luan an 6 Hình 1.1: Hình minh họa nhìn từ phía TP thể hiện cấu trúc các thành phần của VLT.

Thông liên thất phần quanh màng Thông liên thất phần quanh màng là khi phần màng của vách thất không hình thành đầy đủ, lỗ thông gần mép lá trước và lá vách của VBL được hình thành [45]. Không chỉ lỗ thông ở phần màng mà nó dường như bao quanh bởi tổ chức xơ sợi, màng, nó là tổ chức xơ sợi có xu hướng đóng dần lại (hình 1. Tổ chức xơ sợi này cũng được gọi là tổ chức phụ trợ VBL (accessory tricuspid valve tisue), nhiều khi nó tạo nên cấu trúc túi phình. Van Praagh đã phân biệt TLT phần màng thực sự, chỉ là phần lỗ nhỏ giới hạn ở vách thất phần màng mà thôi.

Gọi TLT phần quanh màng thì chính xác hơn vì một số phân tích thực tế TLT cho rằng phần màng nguyên vẹn nhưng lỗ thông lại xung quanh vùng màng [46], do vậy tên gọi TLT phần quanh màng được sử dụng nhiều hơn. TLT phần này liên quan mật thiết với đường dẫn truyền nhĩ thất, đường dẫn truyền này đi qua vòng VBL rồi theo bờ sau dưới của lỗ thông sau đó chia ra nhánh trái và nhánh phải. Do liên quan trực tiếp đến đường dẫn truyền nên khi PT vá hay can thiệp bít lỗ thông bằng dụng cụ thì có nguy cơ tổn thương đường dẫn truyền này (hình 1.2: Hình minh họa các vị trí giải phẫu TLT. Danh pháp sử dụng tại luan an 7 bệnh viện Nhi Boston chia TLT thành các thể như sau: phần màng (membranous), vách nón (conoventricular), buồng nhận (inlet), dưới van ĐMP (subpulmonary) và phần cơ (muscular) [4].3: Hình minh họa đường đi của đường dẫn truyền nhĩ thất.

Bó His xuyên qua thân xơ gần mép lá trước. Vách phần màng Van ĐMC Lỗ TLT Đường dẫn truyền nhĩ Van ba lá Hình 1.4: Minh hoa liên quan của đường dẫn truyền nhĩ thất với van ĐMC, luan an 8 VBL và TLT phần cơ lan đến phần màng và phần phễu [2]. Thông liên thất thể dưới van ĐMC Thông liên thất thể này được Van Praaghs mô tả là lỗ thông nằm ở giữa chóp nón và vách cơ (hình 1. Lỗ thông thể này thường kèm theo không thẳng hàng giữa vách nón và vách cơ.

Không giống như TLT phần quanh màng, TLT thể này thường lỗ thông rộng, không hạn chế, nó không có bờ màng xơ mà là chủ yếu bờ cơ. Chỉ có màng xơ liên tục giữa van ĐMC và VBL. Bờ trên của lỗ thông liên quan trực tiếp đến lá vành phải van ĐMC. Lỗ thông thường lan rộng xuống phần trên và trước hơn là phần quanh màng.

Cũng giống như phần quanh màng, đường dẫn truyền đi phía sau dưới của lỗ thông nhưng khác phần quanh màng là được bảo vệ bởi dải cơ vách [2, 4, 42, 45]. Thông liên thất dưới van ĐMP Thể thông liên thất dưới van ĐMP phổ biến ở người Châu Á hơn là Châu Âu [48]. Như tên gọi lỗ thông kiểu này nằm ngay dưới van ĐMP (hình 1. Nó luôn nằm ở vách nón nên còn gọi là TLT vách nón (intraconal).

Bởi vì lỗ thông cũng nằm ngay dưới lá vành phải của van ĐMC do vậy có nguy cơ gây sa hoặc hở van ĐMC (HoC). Lỗ thông kiểu này xa đường dẫn truyền nên rất hiếm khi bị block nhĩ thất (BAV) khi phẫu thuật [2, 4]. Thông liên thất phần buồng nhận Vách thất buồng nhận hay là vách kênh nhĩ thất được hình thành từ tổ chức đệm nội tâm mạc. Khi có sự khiếm khuyết tổ chức này thì sẽ tạo thành TLT ngay dưới lá vách VBL (hình 1.

Không có tổ chức cơ giữa lỗ thông và vòng VBL. Thể này hay có kèm bắt chéo dây chằng van nhĩ thất (straddling). Thông liên thất thể này cũng thường lan rộng ra phần dưới van ĐMC, luan an 9 quanh màng và có một dải cơ nối giữa hai phần và dải này là đường đi của đường dẫn truyền [4, 42]. Thông liên thất phần cơ TLT phần cơ là lỗ thông có thể ở bất kỳ vị trí nào của vách cơ (hình 1.2) nhưng hay gặp nhất là lỗ thông ở giữa vách.

Lỗ thông thường liên quan với dải điều hòa mà nó xuất phát từ dải vách. Do vậy có thể đưa dụng cụ qua lỗ thông ở phía trước hay phía sau dải điều hòa khi lỗ thông ở giữa vách. Vị trí lỗ thông hay gặp nữa là ở phía trước ngay trước dải vách chia ba để bao quanh vách nón. TLT phần cơ là một thử thách lớn khi can thiệp cũng như khi vá lỗ thông vì nó nằm ẩn trong phần mỏm dày đặc bè cơ TP.

Van Praaghs đã mô tả ngách hốc phần mỏm TP như là nhiều TLT đổ vào [49-51]. Các dị tật kèm theo Thông liên thất là một thành phần trong nhiều bệnh TBS khác nhau bao gồn tứ chứng Fallot, thất phải hai đường ra, kênh nhĩ thất toàn phần, đứt đoạn quai động mạch chủ. Khoảng 1/3 trường hợp đảo gốc động mạch có TLT, có thể có ở dị tật TBS mà có shunt trái phải lớn, thiểu sản quai, eo ĐMC hay hẹp eo ĐMC. Nếu TLT lỗ lớn thì lưu lượng lớn máu về nhĩ trái do vậy vách liên nhĩ bị căng ra gây tồn tại lỗ bầu dục tạo shunt trái phải ở tầng nhĩ cũng như tầng thất.

Cũng có thể kèm thông liên nhĩ hay còn ống động mạch [2, 3]. Sinh lý bệnh và đặc điểm lâm sàng Thông liên thất đơn thuần gây ra shunt trái phải ở tầng thất làm tăng tuần hoàn lên phổi, tăng gánh thể tích tim trái. cũng có thể gây tăng áp lực ĐMP. Mức độ shunt phụ thuộc vào đường kính lỗ TLT và sức cản ĐMP [2, 4].

Khi trẻ sơ sinh, sức cản ĐMP tương đối cao và giảm dần từ những ngày đầu sau sinh và giảm nhanh trong 4-6 tuần đầu và trở về bình thường 2-3 tháng luan an 10 sau đó. Tuy nhiên do sức cản ĐMP cao nên thường không phát hiện bằng khám lâm sàng ở những tháng đầu do shunt trái phải không đủ lớn để tạo tiếng thổi tâm thu cũng như các triệu chứng lâm sàng khác. Sau sinh 4-6 tuần sức cản ĐMP giảm, shunt sẽ lớn dần khi ấy tiếng thổi và triệu chứng suy tim rõ ràng hơn. Trẻ sẽ biểu hiện khó thở, ra mồ hôi nhất là khi cho ăn, bú mẹ, trẻ chậm lớn, khám thực thể có thể thấy gan to.

Thông thường suy tim có thể khống chế bằng điều trị nội khoa, tuy nhiên nếu khi sức cản ĐMP xuống thấp gần bình thường khi đó shunt lớn nhất, hai thất sẽ suy khi lưu lượng quá lớn, áp lực cuối tâm trương thất trái cao dẫn đến trẻ chậm lớn, không theo đường phát triển bình thường nữa và suy tim [4]. Tuy nhiên quá trình này không phải xẩy ra với tất cả các trẻ bị TLT. Một số BN với lỗ nhỏ, phần quanh màng thì tổ chức màng xơ sợi xung quanh lỗ thông có xu hướng làm nhỏ lại và có thể tự bít lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu kết quả sớm và trung hạn của phương pháp bít thông liên thất qua ống thông" của tác giả Nguyễn Công Hà, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Lân Việt, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2020. Bài nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp bít thông liên thất qua ống thông, một kỹ thuật quan trọng trong lĩnh vực nội tim mạch. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này mà còn mở ra hướng đi mới cho việc điều trị các bệnh lý tim mạch liên quan đến thông liên thất.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát", nơi nghiên cứu về mối liên hệ giữa các chỉ số tim mạch và huyết áp, hay "Luận án tiến sĩ về đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018", cung cấp cái nhìn về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực huyết học. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về huyết động và chức năng tâm thu thất trái trong sốc nhiễm khuẩn", một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực hồi sức cấp cứu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến tim mạch và các phương pháp điều trị hiện đại.