Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược phẩm Việt Nam chứng kiến tốc độ tăng trưởng nhanh chóng với mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu người chạm mốc khoảng 50 USD mỗi năm, đồng thời dân số bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2017 với dự báo tỷ lệ người trên 65 tuổi đạt khoảng 21% vào năm 2050. Sự gia tăng này tạo áp lực lớn lên nguồn ngân sách y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh. Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ được thành lập theo Quyết định số 2402/QĐ-UBND từ năm 2009 với quy mô 50 giường bệnh và chính thức được xếp hạng II vào ngày 31/01/2018, quy tụ 94 cán bộ y tế với 16 nhân sự thuộc khoa Dược. Đứng trước yêu cầu nâng cao hiệu quả điều trị và tối ưu hóa ngân sách trong bối cảnh nguồn tài chính hạn chế, việc kiểm soát danh mục thuốc trở thành nhiệm vụ cấp bách của Hội đồng Thuốc và Điều trị.

Vấn đề đặt ra là cơ chế lựa chọn thuốc và giám sát sử dụng thuốc tại nhiều bệnh viện chuyên khoa còn tiềm ẩn nguy cơ lãng phí do thiếu hụt công cụ định lượng chuẩn hóa. Nghiên cứu của học viên Trần Tấn Phong tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: Thứ nhất, xác định tỷ lệ chủng loại và chi phí mua sắm theo phân tích ABC kết hợp thứ tự ưu tiên VEN trong 06 tháng đầu năm và 06 tháng cuối năm 2018; thứ hai, so sánh sự biến động về tỷ lệ tiêu thụ thuốc giữa hai giai đoạn để đánh giá hiệu quả kinh tế dược. Phạm vi nghiên cứu bao trùm 100% các khoản mục thuốc lưu hành tại bệnh viện trong thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thiết thực, giúp tiết kiệm chi phí điều trị, giảm tải gánh nặng kinh tế cho người bệnh và duy trì tỷ lệ dự trữ an toàn cho các nhóm thuốc tối cần tại cơ sở y tế tuyến thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế dược hiện đại kết hợp các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế:

  • Phân tích ABC (Pareto Analysis): Dựa trên nguyên lý Pareto 80/20 để phân chia danh mục thuốc thành 3 nhóm dựa trên giá trị tiêu thụ tích lũy: Nhóm A chiếm khoảng 75% đến 80% ngân sách nhưng chỉ chiếm 10% đến 20% tổng chủng loại; nhóm B chiếm 15% đến 20% chi phí và 10% đến 20% chủng loại; nhóm C chiếm 5% đến 10% chi phí nhưng chiếm đến 60% đến 80% số lượng mặt hàng.
  • Phân tích VEN (Vital, Essential, Non-essential): Phân loại mức độ ưu tiên lâm sàng theo ba thứ tự: Thuốc tối cần (V - Vital) phục vụ cấp cứu và can thiệp sống còn; thuốc thiết yếu (E - Essential) điều trị các bệnh lý da liễu nặng và phổ biến; thuốc không thiết yếu (N - Non-essential) dùng cho các triệu chứng nhẹ hoặc bệnh tự giới hạn.
  • Ma trận ABC/VEN kết hợp: Ghép chéo 3 nhóm ABC và 3 nhóm VEN tạo thành 9 tiểu nhóm (AV, AE, AN, BV, BE, BN, CV, CE, CN), từ đó gom cụm thành 3 nhóm quản trị chiến lược: Nhóm I (AV, AE, AN, BV, CV) cần kiểm soát nghiêm ngặt nhất vì chi phối ngân sách lớn hoặc có tính sống còn; Nhóm II (BE, CE, BN) đòi hỏi mức quản lý trung bình; Nhóm III (CN) kiểm soát định kỳ tối thiểu.
  • Hành lang pháp lý: Nghiên cứu đối chiếu trực tiếp với Thông tư số 21/2013/TT-BYT quy định về hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị, Thông tư số 40/2014/TT-BYT với 845 hoạt chất thuộc 27 nhóm dược lý, Thông tư số 19/2018/TT-BYT ban hành Danh mục thuốc thiết yếu gồm 510 hoạt chất thuộc 30 nhóm tác dụng, cùng Luật Dược số 105/2016/QH13.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu toàn bộ dữ liệu cung ứng và sử dụng thuốc.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, khảo sát 100% các thuốc có phát sinh tiêu thụ trong danh mục thuốc tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ chia thành 2 chu kỳ: 06 tháng đầu năm 2018 (từ 01/01/2018 đến 30/06/2018) và 06 tháng cuối năm 2018 (từ 01/07/2018 đến 31/12/2018). Việc chọn mẫu toàn bộ giúp loại trừ hoàn toàn sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh toàn diện của chu kỳ đấu thầu thuốc.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc chia chu kỳ đánh giá 06 tháng gắn liền với mốc thời gian áp dụng kết quả thầu mới (bắt đầu từ ngày 01/07 hàng năm). Cách tiếp cận này giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị phát hiện nhanh các bất cập ngay sau khi triển khai gói thầu mới thay vì đợi hết chu kỳ năm.
  • Xử lý và phân tích dữ liệu: Toàn bộ thông tin gồm tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn giá, số lượng xuất dùng và xuất xứ được trích xuất từ phần mềm quản trị bệnh viện. Dữ liệu được xử lý bằng Microsoft Excel 2010 để tính toán giá trị tích lũy, xếp hạng ma trận và phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện các kiểm định Chi-bình phương, kiểm định Independent-Samples T-Test và Paired-Samples T-Test nhằm so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giai đoạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu sử dụng thuốc tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ xuyên suốt năm 2018:

  • Cơ cấu theo nguồn gốc và nhóm dược lý: Thuốc sản xuất trong nước chiếm ưu thế về số lượng chủng loại với tỷ lệ trên 60% tổng danh mục, tuy nhiên thuốc nhập khẩu lại chiếm tỷ trọng lớn về giá trị tiêu thụ (dao động khoảng 45% đến 55% tổng chi phí). Về mặt tác dụng dược lý, các nhóm thuốc điều trị bệnh ngoài da, thuốc chống dị ứng, thuốc chống nhiễm khuẩn và kháng nấm chiếm hơn 70% tổng giá trị tiền thuốc tiêu thụ toàn bệnh viện.
  • Phân bố theo phân tích ABC: Thuốc nhóm A chiếm tỷ lệ khoảng 12% đến 15% tổng số chủng loại thuốc nhưng chiếm giữ đến 75% đến 78% tổng kinh phí mua sắm. Ngược lại, nhóm C bao gồm khoảng 65% đến 70% chủng loại thuốc nhưng chỉ chiếm khoảng 6% đến 8% tổng giá trị tiêu thụ. Nhóm B chiếm tỷ lệ cân bằng khoảng 18% đến 20% về cả chủng loại lẫn kinh phí.
  • Phân bố theo phân tích VEN: Thuốc thiết yếu (nhóm E) và thuốc tối cần (nhóm V) chiếm tỷ trọng chủ đạo với hơn 85% tổng số chủng loại và chi phối trên 90% ngân sách tiền thuốc. Thuốc không thiết yếu (nhóm N) chỉ chiếm dưới 8% tổng kinh phí.
  • Phân tích ma trận ABC/VEN và tiểu nhóm A/VEN: Nhóm I (các thuốc cần ưu tiên kiểm soát cao nhất) chiếm khoảng 25% đến 30% chủng loại nhưng chiếm tới 80% đến 84% tổng giá trị tiêu thụ của toàn bệnh viện. Trong nhóm A, tiểu nhóm AE và AV chiếm tỷ lệ áp đảo (khoảng 92% đến 95% giá trị nhóm A), trong khi tiểu nhóm AN (thuốc giá trị cao nhưng không thiết yếu) được kiểm soát ở mức thấp dưới 5% đến 8% giá trị.
  • So sánh giữa hai giai đoạn 06 tháng đầu năm và cuối năm 2018: Sau khi kết quả đấu thầu mới được áp dụng vào tháng 07/2018, cơ cấu nhóm I duy trì sự ổn định, giá trị chi tiêu cho nhóm thuốc nội tăng khoảng 3% đến 5%, đồng thời tỷ lệ chi phí dành cho các thuốc nhóm AN giảm rõ rệt, chứng minh sự can thiệp hiệu quả của Hội đồng Thuốc và Điều trị.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu sử dụng thuốc phản ánh đúng đặc thù bệnh lý chuyên khoa da liễu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ bệnh nhân mắc viêm da cơ địa, vảy nến, nấm da và nhiễm trùng da chiếm tỷ lệ cao. Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ đường cong Pareto phân tích tích lũy ABC, biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ giá trị tiêu thụ giữa hai giai đoạn 06 tháng và bảng chéo ma trận 9 ô ABC/VEN.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu tương đồng, kết quả tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ có sự tương thích cao với nghiên cứu của Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai (thuốc nhóm A chiếm 75,4% - 78,0% chi phí) và Bệnh viện Đa khoa Phố Nối (nhóm I chiếm 82,9% ngân sách). Điểm sáng nổi bật của bệnh viện là việc kiểm soát rất tốt nhóm thuốc AN. Nhiều cơ sở y tế tuyến tỉnh từng ghi nhận tỷ lệ AN chiếm từ 10% đến 15% ngân sách, gây thất thoát kinh phí không đáng có; trong khi đó, Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ đã duy trì nhóm AN ở mức an toàn, hạn chế tối đa việc chi trả ngân sách lớn cho các thuốc chỉ mang tính chất hỗ trợ điều trị nhẹ.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ các bằng chứng thực nghiệm thu được qua phân tích ma trận ABC/VEN, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Tối ưu hóa danh mục thuốc nhóm I và quản lý giá biệt dược: Hội đồng Thuốc và Điều trị cần rà soát định kỳ 03 tháng một lần toàn bộ các thuốc thuộc nhóm I (đặc biệt là AV và AE). Triển khai đàm phán giá và ưu tiên lựa chọn thuốc generic có chứng minh tương đương sinh học nhằm mục tiêu cắt giảm 5% đến 8% chi phí mua sắm đối với các hoạt chất có giá trị tiêu thụ lớn.
  • Kiểm soát triệt để và thu hẹp nhóm thuốc AN: Trưởng khoa Dược phối hợp với các bác sĩ trưởng khoa lâm sàng xây dựng tiêu chí kê đơn chặt chẽ, thay thế dần các sản phẩm nhóm AN bằng các thuốc nhóm E hoặc C có chi phí hợp lý hơn, phấn đấu giảm tỷ trọng kinh phí nhóm AN xuống dưới mức 3% tổng ngân sách thuốc trong vòng 12 tháng tới.
  • Thúc đẩy tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước: Thực hiện nghiêm túc chủ trương người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam theo định hướng của Bộ Y tế, nâng tỷ lệ giá trị tiêu thụ thuốc nội tại bệnh viện từ mức hiện tại lên đạt mục tiêu 50% đến 55% vào giai đoạn tiếp theo, ưu tiên các dạng thuốc mỡ, kem bôi da và viên uống kháng sinh, kháng nấm sản xuất tại các nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP-WHO hoặc EU-GMP.
  • Ứng dụng công nghệ tự động hóa trong quản lý kho dược: Ban Giám đốc bệnh viện phê duyệt đầu tư nâng cấp phân hệ quản trị dược trên phần mềm bệnh viện, tích hợp thuật toán phân tích ABC/VEN tự động theo thời gian thực (real-time). Thiết lập ngưỡng cảnh báo tồn kho an toàn tự động cho 100% thuốc nhóm V và E, đảm bảo chu kỳ dự trữ tối thiểu 30 ngày và không để xảy ra tình trạng đứt gãy nguồn cung thuốc điều trị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc & Điều trị các bệnh viện: Nắm bắt công cụ định lượng khoa học để xây dựng danh mục thuốc trúng thầu sát với mô hình bệnh tật, cân đối quỹ bảo hiểm y tế và phân bổ ngân sách mua sắm minh bạch, hiệu quả.
  • Trưởng khoa Dược và Dược sĩ phụ trách cung ứng: Áp dụng trực tiếp ma trận ABC/VEN vào công tác phân loại kho, tối ưu hóa vòng quay tồn kho, giảm thiểu rủi ro hết hạn sử dụng thuốc và lập kế hoạch dự trù mua sắm theo từng chu kỳ 06 tháng.
  • Bác sĩ chuyên khoa Da Liễu và cán bộ y tế lâm sàng: Hiểu rõ giá trị kinh tế y tế của từng nhóm thuốc trong phác đồ điều trị, từ đó nâng cao ý thức kê đơn an toàn, hợp lý, ưu tiên thuốc thiết yếu và hạn chế chỉ định các thuốc đắt tiền không cần thiết.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Tổ chức - Quản lý Dược: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kỹ thuật xử lý dữ liệu dược kinh tế trên SPSS và Excel, cũng như khung lý thuyết đối chuẩn cho các đề tài phân tích danh mục thuốc.

Câu hỏi thường gặp

  • Phân tích ma trận ABC/VEN mang lại lợi ích gì vượt trội so với việc phân tích ABC hoặc VEN riêng lẻ? Phân tích đơn lẻ ABC chỉ cho biết giá trị tài chính mà bỏ qua tầm quan trọng lâm sàng, trong khi VEN chỉ phản ánh mức độ thiết yếu mà không đánh giá quy mô ngân sách. Khi kết hợp thành ma trận ABC/VEN, nhà quản lý nhận diện chính xác các thuốc vừa đắt tiền vừa tối cần (AV) để ưu tiên nguồn vốn, đồng thời cô lập các thuốc đắt tiền nhưng ít thiết yếu (AN) để cắt giảm, tránh lãng phí kinh phí.
  • Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn chu kỳ đánh giá 06 tháng thay vì chu kỳ 01 năm như đa số các đề tài khác? Tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập, gói thầu thuốc thường bắt đầu áp dụng từ ngày 01/07 hàng năm. Đánh giá chu kỳ 06 tháng (trước và sau thời điểm áp dụng thầu mới) giúp đo lường tức thì tác động của kết quả đấu thầu, phát hiện sớm các sai lệch về tiêu thụ thuốc để kịp thời điều chỉnh trước khi hoàn tất năm tài chính.
  • Nhóm thuốc AN có vai trò như thế nào trong bài toán tối ưu hóa chi phí bệnh viện? Tiểu nhóm AN tập hợp các thuốc thuộc nhóm A (chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất từ 75% đến 80% ngân sách) nhưng lại thuộc nhóm N (thuốc không thiết yếu, điều trị bệnh nhẹ). Việc kiểm soát và thay thế các mặt hàng thuộc nhóm AN là giải pháp trực tiếp và nhanh nhất giúp bệnh viện tiết kiệm hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng tiền thuốc mỗi năm.
  • Tiêu chuẩn phân loại VEN tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ được thực hiện dựa trên cơ sở nào? Quy trình phân loại VEN được thực hiện chặt chẽ dựa trên danh mục thuốc mẫu của Tổ chức Y tế Thế giới, kết hợp các hướng dẫn điều trị chuẩn của Bộ Y tế và sự đồng thuận chuyên môn của từng thành viên trong Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện thông qua các buổi họp bình duyệt danh mục định kỳ.
  • Việc nâng hạng bệnh viện lên Hạng II vào đầu năm 2018 đặt ra thách thức gì cho công tác quản lý dược? Khi nâng lên bệnh viện chuyên khoa hạng II với 50 giường bệnh, lưu lượng người bệnh điều trị nội trú và ngoại trú tăng cao, mô hình bệnh tật phức tạp hơn đòi hỏi danh mục thuốc phải mở rộng thêm nhiều hoạt chất chuyên sâu, đặt ra yêu cầu kiểm soát dòng tiền và duy trì lượng tồn kho an toàn nghiêm ngặt hơn rất nhiều.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết toàn bộ danh mục thuốc tiêu thụ tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ năm 2018 thông qua công cụ phân tích ABC/VEN và ma trận kết hợp 9 phân nhóm.
  • Cơ cấu sử dụng thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật chuyên khoa, trong đó nhóm thuốc thiết yếu và tối cần (V, E) chi phối trên 90% tổng ngân sách, nhóm I trong ma trận ABC/VEN chiếm hơn 80% chi phí.
  • Phương pháp so sánh theo chu kỳ 06 tháng chứng minh tính ưu việt trong việc giám sát biến động kinh tế dược sau các đợt thay đổi kết quả đấu thầu cung ứng thuốc.
  • Hội đồng Thuốc và Điều trị đã phát huy tốt vai trò điều phối, từng bước hạ thấp tỷ trọng thuốc không thiết yếu giá cao (nhóm AN) và gia tăng tỷ lệ dùng thuốc sản xuất trong nước.
  • Đề tài mở ra lộ trình quản trị dược bệnh viện hiện đại giai đoạn 2020 - 2030, khuyến khích các cơ sở y tế toàn quốc tích hợp ma trận ABC/VEN tự động hóa trên phần mềm quản lý để tối ưu hóa hiệu quả điều trị và ngân sách y tế.