ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Dược Việt Nam đang phát triển vô cùng mạnh mẽ, theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa, có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của hơn 90 triệu dân đã thúc đẩy thuốc được sử dụng hàng năm ngày càng nhiều. Quá trình chẩn đoán và điều trị bằng thuốc là một quá trình phức tạp, đây chính là vấn đề được Đảng và Nhà nước thường xuyên quan tâm. Trong lĩnh vực dược, ở bất kỳ cấp độ nào, việc nghiên cứu danh mục thuốc luôn là điều quan trọng.
Các chuyên gia dự đoán đến năm 2020, mỗi người Việt Nam sẽ tiêu thụ bình quân 50 USD tiền thuốc mỗi năm. Việt Nam đã kết thúc giai đoạn “dân số vàng” từ năm 2016, bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2017. Đến năm 2050, dự báo sẽ có đến 21% dân số Việt Nam trên 65 tuổi, so với mức 7% hiện nay, dẫn tới nhu cầu tiêu dùng thuốc ngày càng tăng cao trong hơn 30 năm sắp tới [52]. Theo báo cáo tổng quan ngành y tế 2015 ghi nhận: Ở các tuyến y tế vẫn còn tình trạng sử dụng thuốc thiết yếu không hợp lý và không hiệu quả.
Cơ chế kiểm soát và điều phối trong quá trình lựa chọn thuốc để đưa vào danh mục thuốc và giám sát việc sử dụng thuốc còn yếu. Sử dụng thuốc an toàn vẫn là một vấn đề nan giải của các cơ Sở Y tế [3]. Đó là lý do làm cho danh mục thuốc ở các bệnh viện thường có quá nhiều thuốc, trong khi đó nguồn kinh phí hạn hẹp và không đủ để mua tất cả các loại thuốc như mong muốn. Việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý là một vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng ở khắp mọi cấp độ chăm sóc y tế.
Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh. Người thầy thuốc kê đơn trong cộng đồng thường có thói quen sao chép lại các đơn thuốc dùng trong bệnh viện và đây thực sự là điều đáng lo ngại. Tình trạng lãng phí về nguồn lực này có thể khắc phục 2 hoặc giảm thiểu khi áp dụng một số nguyên tắc trong quản lý và sử dụng thuốc, tuy nhiên việc thực hiện những nguyên tắc này không dễ dàng [41]. Các giải pháp tăng cường sử dụng thuốc hợp lý chưa được quan tâm triển khai đồng bộ nên chuyển biến còn chậm [2].
Để khắc phục vấn đề bất cập này, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 khẳng định tính hiệu quả của công cụ phân tích ABC/VEN [9]. Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ được Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định thành lập từ năm 2009, là một bệnh viện chuyên khoa hạng III trực thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ. Với nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Đến ngày 31/1/2018 bệnh viện được nâng hạng II với quy mô 50 giường bệnh [55], [56].
Cùng với sự phát triển của ngành y tế nói chung và mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân của bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ nói riêng, bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ cần xác định được những thuốc thay thế có chi phí thấp hơn trong công tác điều trị với mong muốn giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân và lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện nhằm cung ứng kịp thời cho công tác điều trị bằng thuốc. Xuất phát từ nhu cầu đó “Nghiên cứu tình hình và đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc theo phân tích ABC/VEN tại bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ năm 2018” được thực hiện với các mục tiêu như sau: 1. Xác định tỷ lệ thuốc tiêu thụ và chi phí mua bằng phân tích ABC, thứ tự ưu tiên mua theo phân tích VEN giai đoạn 06 tháng đầu năm và 06 tháng cuối năm 2018 tại bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ. So sánh tỷ lệ thuốc tiêu thụ giai đoạn 06 tháng đầu năm và 06 tháng cuối năm 2018 tại bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc 1. Khái niệm về thuốc Theo Luật dược 105 định nghĩa: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [39]. Theo tiến sĩ Hoàng Ngọc Hùng định nghĩa: Thuốc là sản phẩm trí tuệ của con người được tích lũy 2000 năm nay, đặc biệt là những năm cuối thế kỷ 20, thuốc còn là sản phẩm kết tinh của những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến [26].
Vai trò của thuốc trong công cuộc chăm sóc sức khỏe nhân dân và mục tiêu phát triển ngành Dƣợc Việt Nam Thuốc đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe cho người dân. Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm tới việc bảo đảm cung cấp đủ thuốc và kịp thời cho nhân dân. Chính sách thuốc quốc gia Việt Nam đã đề ra hai mục tiêu lớn: (1) Cung cấp thuốc cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của toàn dân đầy đủ, kịp thời, chất lượng tốt, giá thành hợp lý. Giá trị thuốc nội sản xuất năm 2012 đạt 200 triệu USD tăng 5,3% so với năm 2011, đáp ứng trên 234/314 hoạt chất trong danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam và đầy đủ 29 nhóm tác dụng dược lý theo khuyến cáo của WHO.
Dù tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước có tăng nhưng tỷ lệ này còn thấp. Tuy nhiên, xét về giá trị tiêu thụ nội trong năm 2012 thì giảm so với năm 2011 (47%) và rất khó đạt được kế hoạch đề ra (60%) [2]. Năm 2012 ở Việt Nam, thị phần công ty cổ phần Dược Hậu Giang là 5,4% thấp hơn khi so 4 sánh với thị phần của nhãn hàng Sanofi-Aventis (Pháp) chiếm 7,1% và Glaxo Smith Kline (Anh) chiếm 5,7%, nhưng vẫn nhiều hơn so với nhãn hàng Novartis (Thụy Sĩ) chiếm 4,2% và Astrazeneca (Anh) là 5,4% [51]. Năm 2014 Bộ Y tế đã thực hiện nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, khuyến khích sử dụng thuốc trong nước, đã bình chọn được 30 doanh nghiệp, 62 sản phẩm thuốc đạt danh hiệu "Ngôi sao thuốc Việt 2014".
Tăng cường truyền thông và tổ chức hội nghị tập huấn tuyên truyền về cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" [11]. Năm 2016, năng lực sản xuất thuốc trong nước được cải thiện chiếm 36% về giá trị tiêu thụ và 74% về số lượng. Số lượng nhà máy GMP tăng mạnh, tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ, 133 doanh nghiệp sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP, 175 cơ sở đạt GLP, 190 cơ sở đạt GSP, 08 nhà máy sản xuất thuốc tân dược đạt tiêu chuẩn GMP-PICs/EU/Nhật Bản [4]. Mục tiêu phát triển ngành Dược Việt Nam vào năm 2020 là phấn đấu thuốc sản xuất trong nước đáp ứng 80% tổng giá trị thuốc sử dụng, trong đó đáp ứng được khoảng 90% nhu cầu sử dụng thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu và thuốc phục vụ cho các chương trình y tế quốc gia [14].
Mục tiêu định hướng đến năm 2030 là thuốc sản xuất trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng, sản xuất được thuốc chuyên khoa đặc trị, sản xuất được nguyên liệu làm thuốc. Hệ thống kiểm nghiệm, phân phối thuốc, công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực [15]. Thực hiện tăng tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam/tổng số tiền mua thuốc tại các cơ Sở Y tế phấn đấu đến năm 2020 đạt các chỉ số như sau: + Bệnh viện tuyến trung ương đạt 22% (tăng 1% - 3%/năm, trừ một số bệnh viện chuyên khoa). + Bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố đạt 50% (tăng 2% - 4%/năm).
+ Bệnh viện tuyến huyện đạt 75% (tăng 2% - 4%/năm). 5 - Tăng tỷ lệ kê đơn cấp thuốc sản xuất tại Việt Nam cho bệnh nhân điều trị ngoại trú hàng năm tăng 5% - 10% [7]. Chức năng của khoa Dƣợc, trách nhiệm chỉ định và hƣớng dẫn sử dụng thuốc cho ngƣời bệnh Chức năng của khoa Dược Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [5].
Trách nhiệm chỉ định và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh Người chịu trách nhiệm về chỉ định dùng thuốc cho người bệnh bao gồm: Bác sĩ, y sĩ, lương y, y sĩ y học cổ truyền tại các trạm y tế xã, hộ sinh viên tại các trạm y tế xã khi không có bác sĩ, y sĩ. Người chịu trách nhiệm về hướng dẫn sử dụng thuốc gồm có: Dược sĩ khoa Dược hướng dẫn cho thầy thuốc, dược sĩ, điều dưỡng và người bệnh. Thầy thuốc hướng dẫn người bệnh hoặc người nhà của người bệnh. Điều dưỡng viên, hộ sinh viên chịu trách nhiệm hướng dẫn người bệnh [6].
Danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và phân loại thuốc theo nhóm tác dụng dƣợc lý Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục thuốc mà trong đó các thuốc đáp ứng các yêu cầu sau: (1) Bảo đảm an toàn, hiệu quả cho người sử dụng. (2) Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đa số nhân dân. Danh mục thuốc thiết yếu được ban hành theo thông tư 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 [8] và được thay thế bởi thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/08/2018, gồm có: danh mục thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm thiết yếu và danh mục thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu thiết yếu. Danh mục thuốc thiết 6 yếu được sử dụng cho các mục đích: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế, phí, các vấn đề liên quan đến sản xuất, kinh doanh, bảo quản, kiểm nghiệm, xuất-nhập khẩu thuốc, hoạt động đào tạo, giảng dạy, thanh toán quỹ bảo hiểm y tế [12].
Danh mục thuốc chủ yếu là danh mục thuốc được bệnh viện xây dựng để sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Xây dựng danh mục thuốc chủ yếu của bệnh viện được căn cứ vào phân hạng bệnh viện, nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.