Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên ở người Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Minh Tú thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Văn Cường, thuộc chuyên ngành Giải phẫu người (mã số: 62720104), bảo vệ năm 2021.

Trong phẫu thuật tạo hình và tái tạo, việc xử lý các khuyết hổng phần mềm phức tạp do chấn thương, loét tỳ đè mạn tính vùng cùng cụt hoặc tái tạo tuyến vú sau phẫu thuật đoạn nhũ điều trị ung thư đòi hỏi nguồn vật liệu vạt tự thân an toàn và hiệu quả. Trước đây, vạt da cơ mông kinh điển đòi hỏi phải lấy kèm một phần hoặc toàn bộ khối cơ mông lớn, dẫn đến tổn thương cấu trúc chức năng và để lại biến dạng đáng kể tại nơi cho vạt. Sự phát triển của khái niệm vạt nhánh xuyên (perforator flap) từ thập niên 1990 đã mở ra giải pháp chuyển vạt dựa trên cuống mạch xuyên qua cơ nuôi dưỡng da và mô dưới da mà không cần hy sinh cơ bên dưới.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào ứng dụng lâm sàng điều trị vết loét vùng cùng cụt với số lượng ca bệnh hạn chế, chưa có công trình nào mô tả toàn diện và có hệ thống về các đặc điểm giải phẫu học cơ bản của động mạch mông trên và các nhánh xuyên ở người Việt Nam. Khoảng trống nghiên cứu này đòi hỏi phải xác định chính xác nguyên ủy, đường đi, kích thước, các phân nhánh nông và sâu, số lượng cũng như vị trí phân bố của các nhánh xuyên đối chiếu lên bề mặt da, cùng với phạm vi cấp máu thực tế trên thi thể người Việt Nam.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm giải phẫu động mạch mông trên.
  2. Mô tả đặc điểm giải phẫu các nhánh xuyên động mạch mông trên.
  3. Xác định phạm vi cấp máu trên da các nhánh xuyên động mạch mông trên.

Đối tượng nghiên cứu là thi thể người Việt Nam trưởng thành (bao gồm tiêu bản xác ướp formol và tiêu bản xác tươi đông lạnh) được bảo quản và phẫu tích tại Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng mông, khung chậu và hệ thống mạch máu - thần kinh định khu liên quan đến động mạch mông trên.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về lịch sử phát triển các vạt vùng mông, Fujino và cộng sự (1975) là nhóm tác giả đầu tiên thực hiện chuyển vạt vi phẫu da cơ vùng mông để tái tạo vú, tuy nhiên kỹ thuật này gặp khó khăn do cuống mạch ngắn và nguy cơ tổn thương chức năng cơ. Năm 1993, Koshima và cộng sự lần đầu mô tả vạt nhánh xuyên vùng mông có cuống. Năm 1995 và 1998, Allen và Tucker công bố kỹ thuật chuyển vạt tự do nhánh xuyên động mạch mông trên (SGAP) ứng dụng trong tái tạo vú. Đến năm 1999, Blondeel chứng minh khả năng sử dụng vạt SGAP như một vạt có cảm giác. Tiếp sau đó, Howard (2005), Leow và cộng sự (2004) đã áp dụng vạt SGAP để điều trị loét tỳ đè vùng cùng cụt trên bệnh nhân liệt.

Các công trình nghiên cứu hình thái mạch máu quốc tế ghi nhận:

  • Koshima và cộng sự khảo sát bằng phương pháp tiêm Barit vào động mạch chậu trong, ghi nhận có từ 20 đến 25 cuống mạch ở từng vùng mông, trong đó các nhánh xuyên của động mạch mông trên phân bố chủ yếu ở vùng trên - ngoài.
  • W.C. Song và cộng sự nghiên cứu giải phẫu và X-quang trên 47 xác ướp formol (91 vùng mông và 31 phim X-quang), xác định vị trí xuất hiện của động mạch mông trên sau khi rời khung chậu và phân chia các nhánh xuyên thành 2 vùng (2/5 trên và 3/5 dưới cơ mông lớn).
  • Reza Ahmadzadeh và cộng sự (2007) khảo sát trên 6 xác tươi đông lạnh bằng phương pháp bơm hỗn hợp oxit chì và gelatin, ghi nhận diện tích vùng cấp máu của các nhánh xuyên động mạch mông trên đạt $69 \pm 56\text{ cm}^2$, số lượng nhánh xuyên trung bình là $5 \pm 2$ nhánh với đường kính trung bình $0{,}6 \pm 0{,}1\text{ mm}$.
  • Koonhei W. Lui và cộng sự (2008) ứng dụng chụp cắt lớp vi tính tái tạo 3D ghi nhận động mạch mông trên có trung bình $5 \pm 2$ cuống mạch xuyên, đường kính trung bình $0{,}6 \pm 0{,}1\text{ mm}$, diện tích vạt $70 \pm 36\text{ cm}^2$, độ dày vạt $23 \pm 12\text{ mm}$.
  • Massey và cộng sự đo đạc qua chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA), ghi nhận đường kính cuống mạch nhánh xuyên động mạch mông trên đạt $2{,}5\text{ mm}$ và chiều dài cuống mạch đạt $6{,}0\text{ cm}$.

Tại Việt Nam, các công bố về vạt mạch xuyên và nhánh xuyên động mạch mông trên bao gồm:

  • Lê Diệp Linh và Nguyễn Bắc Hùng (2007) tổng kết định nghĩa, phân loại và xu hướng ứng dụng vạt mạch xuyên nhằm giảm thiểu biến chứng tại nơi lấy vạt.
  • Trần Thiết Sơn (2011) hệ thống hóa kỹ thuật phẫu tích, chỉ định, chống chỉ định và triển vọng của vạt mạch xuyên trong vi phẫu thuật.
  • Vũ Quang Vinh và cộng sự (2011) ứng dụng lâm sàng vạt nhánh xuyên động mạch mông trên che phủ vết loét vùng cùng cụt trên 15 bệnh nhân (gồm 4 vạt V-Y và 11 vạt cánh quạt).
  • Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Huệ và cộng sự (2016) phẫu tích 30 tiêu bản trên 15 xác tươi, ghi nhận số lượng nhánh xuyên động mạch mông trên trung bình là $6{,}3 \pm 1{,}2$ nhánh (từ 5 đến 9 nhánh), đường kính trung bình $1{,}02 \pm 0{,}15\text{ mm}$ ($0{,}70 - 1{,}50\text{ mm}$), chiều dài nhánh xuyên ngoài cân nông là $41{,}95 \pm 7{,}15\text{ mm}$ ($22 - 62\text{ mm}$), phân bố tập trung trong đường tròn đường kính $6\text{ cm}$ có tâm ở vị trí $1/3$ trên ngoài đường nối từ gai chậu trước trên đến đỉnh xương cụt.
  • Nguyễn Văn Thanh, Trần Vân Anh và cộng sự (2017) báo cáo kết quả che phủ loét cùng cụt độ III, IV bằng 38 vạt nhánh xuyên động mạch mông trên trên 37 bệnh nhân.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình giải phẫu học thực nghiệm chuyên sâu trên thi thể người Việt Nam, giải quyết khoảng trống dữ liệu về các thông số hình thái học chi tiết (chiều dài, đường kính, phân nhánh nông/sâu), định vị tọa độ nhánh xuyên trên bề mặt da theo các mốc xương hằng định và xác định trực tiếp diện tích, chu vi vùng cấp máu bằng kỹ thuật bơm chất màu trên xác tươi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án dựa trên nền tảng giải phẫu định khu vùng mông và phân loại cấp máu cơ của Mathes và Nahai (1981):

  • Vùng mông được giới hạn phía trên bởi mào chậu (nối gai chậu trước trên và gai chậu sau trên), phía dưới bởi nếp lằn mông, phía trong là mào giữa xương cùng, phía ngoài là đường nối gai chậu trước trên đến mấu chuyển lớn xương đùi.
  • Cấu trúc cơ gồm 3 lớp: lớp nông (cơ căng mạc đùi, cơ mông lớn), lớp giữa (cơ mông nhỡ, cơ hình lê), lớp sâu (cơ mông bé, cơ bịt trong, cơ sinh đôi trên, cơ sinh đôi dưới, cơ vuông đùi, cơ bịt ngoài).
  • Động mạch mông trên tách từ nhánh sau của động mạch chậu trong, thoát khỏi khoang chậu qua lỗ ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê, chia thành nhánh nông đi vào mặt trước cơ mông lớn và nhánh sâu chạy giữa cơ mông nhỡ và cơ mông bé.
  • Phân loại Mathes và Nahai: Cơ mông lớn thuộc kiểu III (nhận hai cuống mạch trội độc lập từ động mạch mông trên và động mạch mông dưới). Do đó, vạt nhánh xuyên động mạch mông trên cho phép sử dụng đảo da dựa trên cuống mạch xuyên qua cơ mông lớn mà không cần cắt bỏ khối cơ.
  • Tiêu chuẩn vùng nhận vạt mạch xuyên: Nguồn mạch hằng định, có ít nhất một nhánh xuyên đường kính lớn hơn $0{,}5\text{ mm}$, cuống mạch đủ dài và nơi cho vạt có thể đóng trực tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, giải phẫu học thực nghiệm thông qua phẫu tích thi thể người trưởng thành.
  • Địa điểm và bối cảnh: Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đối tượng và mẫu nghiên cứu: Tiêu bản vùng mông trên thi thể người Việt Nam trưởng thành, chia làm hai nhóm thực nghiệm:
    • Nhóm 1 (tiêu bản xác ướp formol): Phẫu tích khảo sát hình thái động mạch mông trên, các phân nhánh nông - sâu, số lượng, chiều dài, đường kính cuống mạch và tọa độ các nhánh xuyên.
    • Nhóm 2 (tiêu bản xác tươi đông lạnh): Bộc lộ cuống động mạch mông trên từ trong khoang chậu, tiến hành luồn ống thông và bơm chất màu/chất cản quang để quan sát vùng tưới máu xuất hiện trên bề mặt da.
  • Dụng cụ và kỹ thuật đo lường:
    • Bộ dụng cụ phẫu tích chuyên dụng, kính lúp phẫu thuật, thước kẹp điện tử đo đường kính và chiều dài mạch máu (đơn vị milimét).
    • Thiết lập hệ tọa độ quy ước dựa trên các mốc giải phẫu: đường chuẩn $GM$ nối từ Gai chậu sau trên (PSIS) đến Mấu chuyển lớn xương đùi (GT/MCL); điểm $A$ là vị trí xuất hiện của động mạch mông trên ở bờ trên cơ hình lê.
    • Đo đạc diện tích ($\text{cm}^2$), chu vi ($\text{cm}$) vùng cấp máu trên da và khoảng cách từ trọng tâm vùng cấp máu đến đường $GM$ và trung điểm $GM$.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê y học, tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất (Min), giá trị lớn nhất (Max) và tỷ lệ phần trăm phân bố.
  • Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên thi thể hiến tặng phục vụ mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học y học theo quy định của pháp luật và Bộ Y tế.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan

Chương Tổng quan hệ thống hóa các kiến thức giải phẫu học định khu vùng mông, phân tích chi tiết giới hạn, lớp nông, mạc vùng mông và ba lớp cơ. Tác giả trình bày giải phẫu các mạch máu lớn gồm động mạch mông trên, động mạch mông dưới, tĩnh mạch mông và hệ thống thần kinh (thần kinh mông trên, thần kinh mông dưới, thần kinh ngồi).

Phần giải phẫu vạt điểm lại các học thuyết và phân loại mạch máu cấp máu cho cơ của Campbell và Pennefather (1919), Blomfield (1943), Mathes và Nahai (1981). Luận án phân tích sâu khái niệm vạt mạch xuyên, kỹ thuật bóc tách mạch xuyên qua cơ, ưu điểm bảo tồn chức năng vận động và giảm thiểu biến dạng nơi cho vạt, cũng như các khó khăn kỹ thuật trong phẫu tích cuống mạch nhỏ.

Chương này cũng tổng thuật các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hỗ trợ thiết kế vạt (siêu âm Doppler, Doppler công suất, Duplex, chụp cắt lớp vi tính mạch máu CTA, chụp cộng hưởng từ mạch máu MRA) và tổng quan y văn các nghiên cứu giải phẫu, lâm sàng vạt SGAP trong và ngoài nước.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm gồm hai bước chính:

  1. Quy trình phẫu tích hình thái: Rạch da và bộc lộ lớp dưới da, xác định các nhánh xuyên đi ra từ mạc nông cơ mông lớn, đánh dấu vị trí bằng kim trên bề mặt da, sau đó phẫu tích ngược dòng qua các thớ cơ mông lớn để xác định đường đi của nhánh xuyên vào nhánh nông hoặc nhánh sâu của động mạch mông trên. Tiếp tục phẫu tích sâu đến nguyên ủy của động mạch mông trên tại bờ trên cơ hình lê.
  2. Quy trình bơm chất màu xác định vùng cấp máu: Bộc lộ động mạch mông trên tại vùng chậu, đặt catheter cố định vào lòng mạch, tiến hành bơm dung dịch chất màu có áp lực được kiểm soát và ghi nhận sự đổi màu của da vùng mông. Chụp ảnh, số hóa ranh giới tưới máu và xác định diện tích, chu vi cùng tọa độ trọng tâm vùng cấp máu.

Các biến số nghiên cứu được chuẩn hóa trong phiếu thu thập số liệu bao gồm: chiều dài đoạn $GM$, vị trí điểm xuất hiện động mạch mông trên (điểm $A$), chiều dài và đường kính thân chung động mạch mông trên, số lượng và kích thước các nhánh nông/sâu, số lượng nhánh xuyên, chiều dài nhánh xuyên đoạn trong cơ và đoạn ngoài cơ, đường kính nhánh xuyên tại vị trí xuyên cân và tọa độ các điểm trên hệ trục quy ước.

Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết theo các nhóm nội dung giải phẫu và thực nghiệm:

Nhóm thông số Nội dung khảo sát Đặc điểm và biến số ghi nhận
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Cấu trúc mẫu Tiêu bản thi thể người Việt Nam trưởng thành (gồm cả hai giới, khảo sát hai bên vùng mông).
Động mạch mông trên Nguyên ủy và đường đi Xuất phát từ nhánh sau động mạch chậu trong, thoát ra vùng mông qua lỗ ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê (điểm $A$).
Vị trí xuất hiện Nằm tại vị trí nối giữa $1/3$ trên và $1/3$ giữa của đường nối gai chậu sau trên và mấu chuyển lớn ($GM$).
Kích thước Ghi nhận chiều dài thân chính, đường kính thân chung động mạch mông trên trước khi phân nhánh.
Phân nhánh Chia thành nhánh nông (đi vào cơ mông lớn) và nhánh sâu (chạy giữa cơ mông nhỡ và cơ mông bé); ghi nhận các dạng phân chia (1 nông - 1 sâu, 1 nông - 2 sâu, 2 nông - 2 sâu).
Nhánh xuyên động mạch mông trên Số lượng Động mạch mông trên cho nhiều nhánh xuyên qua cơ mông lớn ra cấp máu cho da vùng mông.
Kích thước Ghi nhận đường kính nhánh xuyên tại nơi qua mạc nông (đều đạt tiêu chuẩn vi phẫu $> 0{,}5\text{ mm}$); đo chiều dài đoạn đi trong cơ mông lớn và đoạn ngoài cơ dưới da.
Phân bố bề mặt Tập trung chủ yếu ở $1/3$ trên ngoài vùng mông, tương ứng phía trên trục cơ hình lê và chạy dọc theo hướng của đường $GM$.
Phạm vi cấp máu trên da Diện tích và chu vi Đo đạc diện tích đổi màu ($\text{cm}^2$) và chu vi vùng da ($\text{cm}$) được cấp máu bởi hệ thống nhánh xuyên sau khi bơm chất màu.
Tọa độ trọng tâm Xác định khoảng cách từ trọng tâm vùng cấp máu đến đường $GM$ và khoảng cách từ hình chiếu trọng tâm đến trung điểm $GM$.

Phần bàn luận đối chiếu các số liệu thu được với các tác giả quốc tế (Ahmadzadeh, Song, Lui, Massey, Rozen) và trong nước (Nguyễn Văn Thanh, Vũ Quang Vinh), làm rõ sự tương đồng về định vị giải phẫu và các điểm đặc thù về kích thước nhân trắc học trên người Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và giải phẫu học

  • Cung cấp bộ dữ liệu giải phẫu học thực nghiệm có hệ thống đầu tiên về động mạch mông trên và hệ thống nhánh xuyên của nó trên thi thể người Việt Nam.
  • Xác lập vị trí xuất hiện của động mạch mông trên tại bờ trên cơ hình lê tương ứng với mốc nối $1/3$ trên và $1/3$ giữa đường nối gai chậu sau trên - mấu chuyển lớn xương đùi ($GM$).
  • Mô tả chi tiết hình thái phân nhánh nông - sâu, xác định tỷ lệ các dạng phân nhánh và chứng minh tính hằng định của các nhánh xuyên có đường kính đủ lớn phục vụ cho phẫu thuật chuyển vạt.
  • Xác định phạm vi cấp máu thực tế (diện tích, chu vi, trọng tâm vùng tưới máu) của động mạch mông trên trên bề mặt da vùng mông thông qua kỹ thuật bơm chất màu trên xác tươi.

Đóng góp về thực tiễn lâm sàng và kiến nghị

  • Cung cấp cơ sở khoa học định khu giúp phẫu thuật viên thiết kế chính xác vạt nhánh xuyên động mạch mông trên (dạng trục dọc, trục ngang hoặc hình thoi) dựa trên các mốc xương bề mặt dễ sờ thấy (gai chậu sau trên, mấu chuyển lớn).
  • Giúp giảm thiểu tối đa tổn thương cơ mông lớn trong quá trình phẫu tích lấy vạt, bảo tồn chức năng vận động và hình thể vùng mông, giảm nguy cơ biến chứng tại nơi cho vạt.
  • Tối ưu hóa kỹ thuật bóc tách cuống mạch xuyên qua cơ đến tận nhánh nông hoặc nhánh sâu của động mạch mông trên, tạo cuống mạch có chiều dài thích hợp cho cả chuyển vạt tại chỗ điều trị loét cùng cụt và chuyển vạt tự do vi phẫu tái tạo vú.
  • Luận án kiến nghị kết hợp thăm dò mạch máu trước mổ bằng siêu âm Doppler hoặc chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) với các mốc tọa độ giải phẫu bề mặt để tăng độ an toàn và tỷ lệ thành công của phẫu thuật tạo hình vạt SGAP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trên tiêu bản thi thể (xác ướp formol và xác tươi đông lạnh), do đó các thông số về đường kính mạch máu và sự tưới máu vi mạch có thể có sai khác nhất định so với trương lực mạch và áp lực huyết động học trên cơ thể sống; cỡ mẫu thi thể còn chịu giới hạn bởi nguồn hiến tặng giải phẫu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục triển khai các nghiên cứu lâm sàng đánh giá kết quả sống của vạt SGAP trên bệnh nhân thực tế; ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cao cấp (CTA đa dãy, MRA từ trường cao) để đối chiếu thông số giải phẫu trên người sống; nghiên cứu kết hợp phục hồi cảm giác cho vạt thông qua các nhánh thần kinh bì đi kèm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và bác sĩ nội trú chuyên ngành Giải phẫu người: Cung cấp tư liệu chuẩn mực về phương pháp phẫu tích vi phẫu thực nghiệm trên thi thể và số liệu hình thái mạch máu vùng mông ở người Việt Nam.
  • Bác sĩ phẫu thuật Tạo hình - Thẩm mỹ và Ngoại Chấn thương chỉnh hình: Cung cấp bản đồ định vị mốc giải phẫu và hướng dẫn kỹ thuật thiết kế, bóc tách vạt nhánh xuyên động mạch mông trên ứng dụng trong phẫu thuật tái tạo vú và che phủ khuyết hổng loét vùng cùng cụt.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình phẫu tích định vị nhánh xuyên qua cơ mông lớn, hệ thống hóa trục tọa độ bề mặt $Ox'y'$ và các bảng số liệu đo đạc kích thước cuống mạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Động mạch mông trên xuất phát từ đâu và đi vào vùng mông qua cấu trúc giải phẫu nào?
Động mạch mông trên xuất phát từ nhánh sau của động mạch chậu trong trong khoang chậu, đi cùng thần kinh mông trên ra khỏi vùng chậu qua lỗ ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê để vào vùng mông, sau đó chia thành các nhánh nông và nhánh sâu.

2. Mốc giải phẫu bề mặt nào được sử dụng để xác định vị trí xuất hiện của động mạch mông trên ở vùng mông?
Vị trí xuất hiện của động mạch mông trên ở vùng mông được xác định tại điểm nối giữa $1/3$ trên và $1/3$ giữa của đường thẳng nối từ Gai chậu sau trên (PSIS) đến Mấu chuyển lớn xương đùi (GT/MCL) (đường $GM$).

3. Cơ mông lớn thuộc kiểu cấp máu nào theo phân loại của Mathes và Nahai (1981)?
Cơ mông lớn thuộc kiểu III theo phân loại của Mathes và Nahai, nhận hai cuống mạch trội độc lập từ hai nguồn động mạch khác nhau là động mạch mông trên và động mạch mông dưới.

4. Ưu điểm chính của vạt nhánh xuyên động mạch mông trên (SGAP) so với vạt da cơ mông kinh điển là gì?
Vạt nhánh xuyên động mạch mông trên chỉ lấy da và mô mỡ dưới da cùng cuống mạch xuyên mà không lấy khối cơ mông lớn bên dưới, giúp bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc và chức năng cơ mông, giảm thiểu biến dạng và đau đớn tại nơi cho vạt, đồng thời cho phép bóc tách cuống mạch dài và linh hoạt hơn.

5. Vị trí phân bố các nhánh xuyên động mạch mông trên trên bề mặt da vùng mông tập trung ở khu vực nào?
Các nhánh xuyên của động mạch mông trên phân bố chủ yếu ở vùng $1/3$ trên ngoài của vùng mông, nằm ở phía trên đường trục cơ hình lê và chạy song song với đường nối gai chậu sau trên - mấu chuyển lớn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Minh Tú đã mô tả toàn diện đặc điểm giải phẫu học của động mạch mông trên và hệ thống nhánh xuyên trên người Việt Nam. Công trình cung cấp các thông số hình thái học chính xác về nguyên ủy, đường đi, kích thước mạch, sự phân bố nhánh xuyên và phạm vi cấp máu trên da. Các kết quả này tạo lập cơ sở khoa học quan trọng cho việc thiết kế và bóc tách vạt nhánh xuyên động mạch mông trên trong phẫu thuật tạo hình và điều trị khuyết hổng phần mềm.