ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO - World Health Organization), đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng “được đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồn tại trên 24 giờ hoặc bệnh nhân tử vong trước 24 giờ” [1]. Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương [2], [3]. Năm 2013, Hội đồng Đột quỵ Hoa Kỳ nhóm họp và đưa ra cập nhật định nghĩa đột quỵ não của thế kỷ 21: “Đột quỵ não hay nhồi máu hệ thần kinh trung ương (Central nervous system infarction) được định nghĩa là tình trạng chết tế bào não, tủy sống hoặc võng mạc do thiếu máu, dựa trên giải phẫu bệnh, chẩn đoán hình ảnh thần kinh, và/hoặc các bằng chứng lâm sàng của tổn thương vĩnh viễn” [4]. Điều trị đặc hiệu ở giai đoạn sớm hiện nay được ưu tiên hàng đầu là các thuốc tiêu huyết khối (đường tĩnh mạch hoặc động mạch) kết hợp với lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học [5], tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân không đáp ứng điều trị và để lại những di chứng nặng nề về vận động, làm suy giảm chất lượng cuộc sống [1], [6].
Hiện nay, xu thế sử dụng thảo dược trong điều trị đang ngày càng phổ biến, không những chỉ ở các nước Châu Á mà cả khu vực Châu Âu bởi thành phần hóa học đa dạng, đa mục tiêu, thuốc y học cổ truyền dần chứng minh được hiệu quả trên những nhóm bệnh lý phức tạp. Năm 2018, Bộ y tế ra thông tư số 29/2018/TT-BYT hướng dẫn việc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I trên người khỏe mạnh của các thuốc mới yêu cầu cần có những khẳng định về tính an toàn với những chứng cứ rõ ràng trên thực nghiệm (độc tính cấp, bán cấp, bán trường diễn, trường diễn, gây mô hình bệnh…)[7]. Cùng với thông tư 05/2015/TT-BYT hướng dẫn về việc sử dụng đúng tên dược liệu y học cổ truyền và chấp nhận tính an toàn của các bài thuốc cổ phương, thuốc y học cổ 2 truyền từ đó cũng được bào chế dưới nhiều dạng sử dụng hơn nhằm mục đích tăng tối đa mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân [8]. “Thông mạch Vintong” là bài thuốc nghiệm phương của Phó giáo sư, tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, hành khí, được sử dụng điều trị hoặc dự phòng đột quỵ nhồi máu não.
Để có thêm cơ sở khoa học đưa viên hoàn ứng dụng trên lâm sàng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu độc tính cấp, bán trƣờng diễn và tác dụng tân tạo mạch máu não của bài thuốc “Thông mạch Vintong” trên động vật thực nghiệm” với 2 mục tiêu sau: 1. Xác định độc tính cấp, bán trường diễn của bài thuốc “Thông mạch Vintong” trên động vật thực nghiệm. Đánh giá tác dụng tân tạo mạch máu sau đột quỵ của bài thuốc “Thông mạch Vintong” trên động vật thực nghiệm. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về một số phƣơng pháp xác định tính an toàn của thuốc ở giai đoạn tiền lâm sàng 1. Xác định độc tính cấp 1. Mục tiêu Thử độc tính cấp nhằm cung cấp thông tin cho việc xếp loại mức độ độc của thuốc; điều trị ngộ độc cấp; thiết lập mức liều cho những thử nghiệm độc tính tiếp theo [9]. Do vậy, các phép thử độc tính cấp cần xác định: - Liều an toàn; - Liều dung nạp tối đa; - Liều gây ra độc tính có thể quan sát được; - Liều thấp nhất có thể gây chết động vật thí nghiệm (nếu có); - Liều LD50 gần đúng (nếu có thể xác định được); - Những triệu chứng ngộ độc điển hình có thể quan sát được trên động vật và khả năng hồi phục (nếu có) [10].
Động vật thực nghiệm Động vật nghiên cứu: thử ít nhất trên 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm. Tùy điều kiện, có thể chấp nhận thử độc tính cấp trên một loài động vật. - Loài gặm nhấm thường sử dụng là chuột nhắt, chuột cống. - Loài không gặm nhấm có thể dùng là chó hoặc khỉ.
Nên sử dụng số lượng động vật thí nghiệm nhỏ nhất, tùy theo mô hình áp dụng (thường là 3 đến 5 con/mức liều) [11]. Đường dùng Theo đường dự kiến dùng cho người (đường uống, tiêm, hô hấp). Mức liều thử Một số mô hình được dùng với số lượng động và số liều dùng ít nhất như: - Mô hình liều cố định: thử với một số liều cố định 5, 50, 300, 2000, 5000mg/kg [32]. Dùng 5 con vật cho mỗi nhóm, thử lần lượt từng mức liều một.
Lựa chọn liều khởi đầu là một trong số các liều cố định đã gợi ý, tùy theo kết quả đáp ứng của liều khởi đầu mà tiến hành thử tiếp những mức liều cao hơn hoặc thấp hơn [29]. Thử nghiệm sẽ được tiếp tục cho đến khi xác định được một mức liều gây độc tính rõ ràng, hoặc liều gây chết không quá 1 con, hoặc liều cao nhất không gây ảnh hưởng gì hoặc mức liều thấp nhất gây chết động vật thí nghiệm [12], [13]. - Mô hình phân loại độc: thử theo quy trình bậc thang, mỗi bước dùng 3 con cùng giới (uống một trong các mức liều đã được xác định). Tùy theo động vật có chết hay không ở một bước thử mà xác định cho bước thử tiếp theo, như không cần thử thêm nữa, hoặc thử thêm 3 con vật nữa với cùng mức liều đó hoặc thử thêm trên 3 con nữa ở mức liều cao hơn hoặc thấp hơn [14].
- Mô hình thử Tăng - Giảm: thử lần lượt các liều đơn đã được định trước, mỗi liều ở một thời điểm, cách nhau tối thiểu là 48 giờ. Con vật đầu tiên uống ở mức liều thấp hơn gần nhất với liều ước tính LD50 [15]. Nếu con vật đó sống thì liều cho con tiếp theo sẽ tăng 3,2 lần so với liều vừa thử trước đó, còn nếu bị chết thì giảm liều xuống 3,2 lần. Quan sát cẩn thận tình trạng từng con vật trong suốt 48 giờ để quyết định nên cho con tiếp theo uống hay không và cho uống với liều bao nhiêu [16].
- Mô hình theo Litchfield – Wilcoxon: Động vật thường dùng là chuột nhắt trắng, cả 2 giống, trọng lượng 20 ± 2g, được chia thành từng lô, mỗi lô 10 con. Số lượng khoảng 100 con. Cho từng lô chuột uống thuốc thử với các liều khác nhau từ liều cao nhất không gây chết tới liều thấp nhất gây chết 5 100% chuột. Chuột được uống thuốc bằng kim hơi cong có đầu tù với độ dài đưa vào đến dạ dày chuột.
Chuột được nhịn ăn 12 giờ trước khi uống thuốc, vẫn uống nước đầy đủ [17], [18]. Chỉ tiêu theo dõi - Tình trạng chung của chuột: hoạt động tự nhiên, tư thế, màu sắc (mũi, tai, đuôi), lông, phân, nước tiểu… - Tỷ lệ chuột chết trong vòng 72 giờ. - Khi có chuột chết, mổ để quan sát đại thể các cơ quan phủ tạng. Nếu cần, làm thêm vi thể để xác định nguyên nhân [19].
Xác định độc tính bán trƣờng diễn 1. Mục tiêu Thử độc tính bán trường diễn chỉ tiến hành sau khi đã có thông tin về độc tính cấp trên một loài nào đó và mẫu thử được dự định dùng dài ngày trên người. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn để xác định được: - Mức liều tối đa không gây ra những thay đổi đáng kể tới một số chỉ tiêu của sự sống; - Mức liều tối đa có thể gây ra những thay đổi đáng kể một số chỉ tiêu cho sự sống khi dùng nhiều lần (nếu có); - Những độc tính có thể quan sát được trên động vật và khả năng phục hồi nếu có thể [20]. Động vật thực nghiệm Động vật nghiên cứu: thử ít nhất trên 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm.
Tùy điều kiện, có thể chấp nhận thử độc tính bán trường diễn trên một loài động vật. - Loài gặm nhấm thường sử dụng là chuột nhắt, chuột cống. - Loài không gặm nhấm có thể dùng là chó hoặc khỉ. Đường dùng Theo đường dự kiến dùng cho người (đường uống, tiêm, hô hấp).
Mức liều thử Thử nghiệm nên được thực hiện với 3 mức liều - Liều thấp: không gây ảnh hưởng độc nào trên động vật thí nghiệm - Liều trung bình: mức liều có thể không gây những độc tính quan sát được hoặc gây ảnh hưởng không đáng kể - Liều cao: mức liều dự kiến sẽ quan sát được biểu hiện ngộ độc trên động vật thí nghiệm. Thử nghiệm nên được tiến hành song song với một nhóm chứng [20]. Thời gian thử nghiệm Thời gian thử thuốc trên động vật được tính dựa theo thời gian dự kiến dùng trên người. Có thể áp dụng 2 mô hình thời gian thử trên động vật như sau: - Thử độc theo mô hình “liều nhắc lại” với 3 mức thời gian cố định: 14 ngày, 28 ngày và 90 ngày.
- Thời gian thử thuốc được tính bằng 3-4 lần thời gian dự kiến dùng trên người [21]. Chỉ tiêu theo dõi - Theo dõi hàng ngày tình trạng của động vật thí nghiệm. - Xác định các chỉ tiêu đánh giá như trọng lượng, các chỉ số sinh hóa, huyết học. Tiến hành mổ để quan sát đại thể các tổ chức, so sánh với nhóm chứng, nếu cần thiết có thể quan sát vi thể.
Theo dõi khả năng phục hồi cần bổ sung số con vật thí nghiệm muốn giữ lại để theo dõi sau khi hết thời gian dùng thuốc [20]. Xác định độc tính trƣờng diễn 1. Mục tiêu Mục tiêu của thử nghiệm độc tính trường diễn tương tự của độc tính bán trường diễn. Tuy nhiên, thử độc tính trường diễn là cần thiết đối với các thuốc được dùng lâu dài trong điều trị.
7 Động vật nghiên cứu: thử ít nhất trên 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm. Tùy điều kiện, có thể chấp nhận thử độc tính trường diễn trên một loài động vật. - Loài gặm nhấm thường sử dụng là chuột nhắt, chuột cống. - Loài không gặm nhấm có thể dùng là chó, khỉ hoặc vượn.
Đường dùng Theo đường dự kiến dùng cho người (đường uống, tiêm, hô hấp). Mức liều thử Thử nghiệm cũng được tiến hành với 3 mức liều tương tự như thử độc tính bán trường diễn và được tiến hành song song với một nhóm chứng. Thời gian thử nghiệm Thời gian thử nghiệm ít nhất là 6 tháng hoặc 9 tháng hoặc 1 năm [12]. Chỉ tiêu theo dõi Tương tự thử độc tính bán trường diễn.