Tổng quan nghiên cứu

Tai biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và tử vong trong các bệnh lý thần kinh trên toàn cầu. Theo các thống kê y học, nhồi máu não chiếm khoảng 80% đến 85% tổng số các ca đột quỵ não cấp tính. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong chung do đột quỵ não ghi nhận ở mức khoảng 30%, trong khi tỷ lệ tử vong chung trên thế giới dao động quanh mức 20%. Mặc dù các kỹ thuật can thiệp tái thông mạch máu như sử dụng thuốc tiêu sợi huyết Alteplase đường tĩnh mạch trong cửa sổ 3 đến 4,5 giờ và can thiệp lấy huyết khối nội mạch đã phát triển mạnh mẽ, chỉ khoảng 6% người bệnh tiếp cận được các liệu pháp điều trị đặc hiệu này ở giai đoạn sớm.

Phần lớn bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ diễn tiến nặng phải đối mặt với tình trạng suy hô hấp cấp, tụt tri giác và phù não tiến triển. Những trường hợp này bắt buộc phải tiếp nhận điều trị hồi sức chuyên sâu kèm theo thông khí cơ học xâm nhập tại các đơn vị chăm sóc tích cực. Tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân nhồi máu não có chỉ định thở máy xâm lấn luôn ở mức rất cao, dao động từ 70% đến hơn 90% theo nhiều báo cáo quốc tế.

Nghiên cứu của tác giả Hứa Quốc Toàn được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và xác định các yếu tố liên quan đến tiên lượng ở bệnh nhân nhồi máu não có thở máy xâm lấn. Đề tài được triển khai tại Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 06/2018 đến tháng 07/2019. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị, giúp đội ngũ y bác sĩ tối ưu hóa chiến lược điều trị thông khí nhân tạo và nâng cao tỷ lệ sống còn cho người bệnh đột quỵ nặng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng toàn diện lý thuyết sinh lý bệnh học tuần hoàn não và cơ chế thiếu máu cục bộ cấp tính. Lưu lượng máu não bình thường ở mức 50 ml/100g não/phút nhằm đảm bảo hoạt động chức năng thần kinh. Khi lưu lượng tuần hoàn giảm xuống ngưỡng từ 10 đến 20 ml/100g não/phút, các tế bào thần kinh sẽ mất dần chức năng và hình thành vùng tranh tối tranh sáng quanh ổ tổn thương. Nếu lưu lượng tiếp tục sụt giảm dưới ngưỡng 6 đến 10 ml/100g não/phút, tế bào thần kinh sẽ hoại tử hoàn toàn trong vòng vài phút.

Khung phân loại lâm sàng của nghiên cứu dựa trên hệ thống Oxford chia nhồi máu não thành 4 nhóm gồm nhồi máu tuần hoàn trước toàn bộ, nhồi máu tuần hoàn trước một phần, nhồi máu lỗ khuyết và nhồi máu tuần hoàn sau. Nghiên cứu cũng kết hợp tiêu chuẩn TOAST để phân loại căn nguyên mạch máu lớn, thuyên tắc từ tim hoặc tổn thương mạch máu nhỏ.

Để đánh giá mức độ suy giảm thần kinh và tổn thương cấu trúc, đề tài ứng dụng ba thang đo chuẩn hóa quốc tế: Thang điểm hôn mê Glasgow dao động từ 3 đến 15 điểm, thang điểm đột quỵ NIHSS từ 1 đến 42 điểm và thang điểm ASPECT trên phim chụp cắt lớp vi tính nhằm lượng hóa diện tích thiếu máu vùng phân bố động mạch não giữa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai theo thiết kế mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu gồm 75 bệnh nhân nhồi máu não cấp có chỉ định thở máy xâm lấn. Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ với mức ý nghĩa thống kê 0,05, độ tin cậy 95% và sai số cho phép 0,08 dựa trên tỷ lệ diễn tiến khả quan 57,4% từ các nghiên cứu can thiệp trước đó. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng liên tục cho các trường hợp nhập viện từ tháng 06/2018 đến tháng 07/2019 thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh và không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ.

Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên có chẩn đoán xác định nhồi máu não qua triệu chứng thần kinh khu trú kết hợp hình ảnh học CT Scan hoặc MRI, đồng thời có chỉ định thở máy xâm lấn do ngừng thở, thở nhanh trên 35 lần/phút, SpO2 dưới 90% hoặc PaCO2 trên 45 mmHg kèm toan hô hấp. Các trường hợp xuất huyết não chuyển dạng tiên phát, u não, viêm não màng não hoặc suy hô hấp do nguyên nhân ngoài sọ đều bị loại trừ.

Toàn bộ dữ liệu thu thập được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18.0. Nghiên cứu sử dụng kiểm định Chi bình phương để phân tích mối liên quan giữa các biến số định danh và định tính, với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập khi giá trị p nhỏ hơn 0,05. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm kiểm tra chính xác mối tương quan giữa các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng ban đầu với kết quả cai máy thở và tỷ lệ tử vong tại khoa ICU.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát đặc điểm chung cho thấy nhóm bệnh nhân cao tuổi từ 65 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ áp đảo với 76,0% (57 trường hợp), trong khi nhóm dưới 65 tuổi chỉ chiếm 24,0% (18 trường hợp). Tỷ lệ bệnh nhân nam giới chiếm 57,35%, cao hơn đáng kể so với nữ giới ở mức 42,65%.

Về tình trạng tri giác lúc nhập khoa Hồi sức tích cực, phần lớn bệnh nhân rơi vào trạng thái suy giảm ý thức trầm trọng với điểm Glasgow từ 8 điểm trở xuống chiếm 72,0% (54 bệnh nhân), điểm Glasgow trên 8 điểm chỉ chiếm 28,0% (21 bệnh nhân), với điểm số trung bình toàn mẫu là 7,28 điểm.

Khảo sát huyết áp lúc vào viện ghi nhận 60,0% bệnh nhân có huyết áp ở mức bình thường, 26,7% có tình trạng tăng huyết áp và 13,3% bệnh nhân bị tụt huyết áp cần can thiệp vận mạch. Tỷ lệ bệnh nhân có tăng thân nhiệt trên 38 độ C chiếm 23,0%, trong khi 77,0% duy trì thân nhiệt dưới 38 độ C.

Hoàn cảnh khởi phát triệu chứng xảy ra nhiều nhất khi người bệnh đang trong trạng thái nghỉ ngơi với 37,3% và không xác định được hoàn cảnh cụ thể là 37,3%. Khởi phát trong lúc lao động chiếm 13,3%, sau khi ngủ dậy chiếm 6,7% và trong giấc ngủ chiếm 5,3%. Dấu hiệu khởi phát phổ biến nhất là yếu liệt nửa người với 65,3%, tiếp theo là buồn nôn hoặc nôn chiếm 41,3%, rối loạn ngôn ngữ hoặc nói khó chiếm 25,3% và chóng mặt chiếm 14,7%.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ suy giảm ý thức nặng với điểm Glasgow trung bình 7,28 điểm phản ánh tổn thương nhồi máu diện rộng ở bán cầu đại não hoặc vùng thân não tối cấp. Tình trạng này làm mất phản xạ bảo vệ đường thở, dẫn đến ứ đọng đờm dãi, suy hô hấp giảm thông khí và bắt buộc phải đặt nội khí quản thở máy. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu hồi cứu tại Việt Nam khi điểm Glasgow trung bình lúc vào viện của bệnh nhân đột quỵ thở máy dao động quanh mức 7,7 điểm.

Khi đối chiếu với y văn thế giới, nghiên cứu của Qutub và cộng sự ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân đột quỵ thông khí cơ học là 61,2 tuổi, tỷ lệ tổn thương động mạch não giữa chiếm 60,0% và tiền sử tăng huyết áp chiếm 80,0%. Các dữ liệu này phản ánh sự tương đồng về gánh nặng bệnh lý tim mạch và chuyển hóa ở nhóm bệnh nhân đột quỵ nặng cần chăm sóc tích cực.

Các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống biểu đồ thanh ngang cho các triệu chứng khởi phát và bảng chéo đa biến biểu diễn mối liên quan giữa điểm NIHSS, chỉ số đường huyết lúc đói với kết cục cai máy thở. Việc phát hiện sớm các biến chứng như viêm phổi liên quan thở máy hay rối loạn huyết động đóng vai trò sống còn trong việc giảm thiểu nguy cơ tử vong vốn lên tới 70% đến 81% ở nhóm bệnh nhân này theo báo cáo của Milhaud và Berrouschot.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình đánh giá tri giác và thang điểm đột quỵ: Các bác sĩ cấp cứu cần chấm điểm Glasgow và NIHSS cho 100% bệnh nhân nhồi máu não trong vòng 15 phút đầu tiếp nhận. Đối với bệnh nhân có điểm Glasgow từ 8 trở xuống, cần khẩn trương thiết lập đường thở nhân tạo trước khi chuyển đến khoa Hồi sức tích cực.

  2. Tối ưu hóa cài đặt thông khí cơ học và theo dõi cai máy: Đội ngũ điều trị ICU cần áp dụng chiến lược thông khí bảo vệ phổi với thể tích khí lưu thông 8 ml/kg, duy trì PEEP từ 0 đến 5 cmH2O và kiểm tra khí máu động mạch mỗi 30 phút sau điều chỉnh. Đặt mục tiêu duy trì chỉ số thở nhanh nông RSBI dưới 105 nhịp/phút/L để đảm bảo tỷ lệ cai máy thở thành công đạt trên 55%.

  3. Kiểm soát chặt chẽ huyết áp và đường huyết mục tiêu: Duy trì huyết áp tâm thu không vượt quá 180 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 100 mmHg bằng nicardipin truyền tĩnh mạch liên tục liều từ 0,5 mg/giờ. Kiểm soát đường huyết đói trong khoảng 140 đến 180 mg/dl bằng insulin để hạn chế toan chuyển hóa mô não và ngăn ngừa nguy cơ xuất huyết chuyển dạng.

  4. Tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và chăm sóc toàn diện: Thực hiện xoay trở bệnh nhân định kỳ mỗi 2 giờ để phòng ngừa loét do tỳ đè và tắc mạch huyết khối tĩnh mạch sâu. Tuân thủ nghiêm ngặt gói phòng ngừa viêm phổi thở máy nhằm giảm thiểu tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa ICU trong suốt đợt điều trị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Hồi sức tích cực và Cấp cứu: Tiếp cận các số liệu thực tế về chỉ số cài đặt máy thở, phác đồ điều chỉnh huyết động và kiểm soát toan kiềm trên 75 ca lâm sàng cụ thể để nâng cao năng lực xử trí đột quỵ nặng.

  2. Bác sĩ chuyên khoa Thần kinh và Đột quỵ: Nắm bắt các dấu hiệu cảnh báo suy hô hấp sớm, hiểu rõ cơ chế tổn thương mạch máu não gây ức chế trung tâm hô hấp và xây dựng chỉ định chuyển khoa ICU kịp thời.

  3. Học viên sau đại học và bác sĩ nội trú: Sử dụng đề tài làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách tính cỡ mẫu tỷ lệ và kỹ thuật phân tích biến số y học bằng phần mềm SPSS.

  4. Điều dưỡng trưởng và nhân viên chăm sóc ICU: Áp dụng các quy trình theo dõi chỉ số sinh tồn, kỹ thuật hút đờm vô khuẩn qua nội khí quản và các biện pháp dự phòng loét tỳ đè cho người bệnh thở máy dài ngày.

Câu hỏi thường gặp

Khi nào bệnh nhân nhồi máu não cấp có chỉ định thở máy xâm lấn?

Bệnh nhân được chỉ định thở máy khi xuất hiện ngừng thở, thở nhanh trên 35 lần/phút, độ bão hòa oxy SpO2 dưới 90% dù đã thở oxy qua mặt nạ túi, hoặc phân áp PaCO2 trên 45 mmHg kèm toan hô hấp trên khí máu động mạch.

Điểm Glasgow có ý nghĩa tiên lượng như thế nào ở bệnh nhân đột quỵ thở máy?

Thang điểm Glasgow phản ánh trực tiếp mức độ tổn thương hệ thần kinh trung ương. Điểm Glasgow từ 8 điểm trở xuống cho thấy tình trạng hôn mê sâu, mất phản xạ bảo vệ đường thở, thường liên quan đến ổ nhồi máu diện rộng và tỷ lệ tử vong cao.

Mục tiêu cài đặt thông số máy thở ban đầu tại ICU là gì?

Máy thở thường được cài đặt ở chế độ A/C với thể tích khí lưu thông 8 ml/kg, FiO2 khởi đầu 100% rồi giảm dần, PEEP từ 0 đến 5 cmH2O nhằm duy trì pH 7,35 đến 7,45, PaO2 từ 80 đến 100 mmHg và PaCO2 từ 35 đến 45 mmHg.

Những biến chứng nguy hiểm nào thường gặp trong quá trình thở máy?

Các biến chứng thường gặp bao gồm viêm phổi liên quan thở máy sau 48 giờ, xẹp phổi do ứ đọng đờm, tràn khí màng phổi do áp lực cao, tắc hoặc di lệch ống nội khí quản và loét do tỳ đè kéo dài.

Tiêu chuẩn nào xác định bệnh nhân cai máy thở thành công?

Cai máy thở thành công khi bệnh nhân tự thở hoàn toàn không cần hỗ trợ cơ học trong ít nhất 24 giờ liên tục, duy trì chỉ số RSBI dưới 105 nhịp/phút/L, SaO2 từ 90% trở lên, tần số thở ổn định dưới 35 lần/phút và huyết động ổn định.

Kết luận

  • Nhóm người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên chiếm 76,0% tổng số ca nhồi máu não thở máy, với tỷ lệ nam giới chiếm 57,35%.
  • Tình trạng suy giảm tri giác mức độ nặng với điểm Glasgow từ 8 trở xuống chiếm 72,0%, điểm trung bình toàn mẫu là 7,28 điểm.
  • Triệu chứng khởi phát chiếm ưu thế là yếu liệt nửa người với 65,3% và buồn nôn chiếm 41,3%, phần lớn khởi phát khi đang nghỉ ngơi.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn thông khí bảo vệ phổi và kiểm soát biến chứng tại ICU.
  • Các cơ sở y tế cần tiếp tục triển khai nghiên cứu đa trung tâm trong 2 năm tới và áp dụng đồng bộ phác đồ hồi sức thần kinh để tối ưu hóa kết quả điều trị cho người bệnh.