ĐẶT VẤN ĐỀ VTC là một quá trình tổn thương viêm cấp tính của tuyến tụy. Bệnh thường xảy ra đột ngột với những biểu hiện lâm sàng ở nhiều mức độ khác nhau và hậu quả cũng đa dạng từ những tổn thương tại chỗ đến hội chứng đáp ứng viêm toàn thân và biến chứng suy đa tạng. Hiện nay VTC ngày càng phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu về bệnh lý tiêu hóa yêu cầu phải nhập viện và đứng thứ 21 trong danh sách tất cả các chẩn đoán cần nhập viện [19].Tỷ lệ mắc bệnh VTC từ 13 đến 45 /100.000 với ái lực như nhau ở mỗi giới (mặc dù có những căn nguyên khác nhau) [19][22].Ở Việt Nam chưa có thống kê rõ ràng cho biết tỉ lệ mắc bệnh trong toàn dân nhưng qua một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc bệnh VTC đang có xu hướng tăng lên. Tại khoa Tiêu hóa – BV Bạch Mai Hà Nội từ năm 2001 -2002 đã có 292 trường hợp viêm tụy cấp, chiếm 7,3% tổng bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa.
Và trong 2 năm 2006 -2007 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Hà Nội đã có 312 trường hợp VTC. Mặc dù căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của viêm tụy cấp đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trên toàn thế giới và nhiều nguyên nhân gây ra VTC đã được phát hiện và làm sáng tỏ, thì bên cạnh đó vẫn còn các “thuyết di truyền bệnh” vẫn còn nhiều tranh cãi. Đa số các nhà điều tra chấp nhận rằng các yếu tố chính của VTC là do tuyến tụy quá kích thích và tắc nghẽn ống mật-tụy làm tăng áp lực ống tụy, trào ngược trypsin tích cực và VTC xảy ra khi các cơ chế bảo vệ nội bào để ngăn chặn sự hoạt hóa trypsinogen hoặc giảm hoạt động của trypsin bị lấn át. Xã hội phát triển, việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào trong chẩn đoán càng nhiều và cho thấy hiệu quả cao (CT- Scaner, MRI, Siêu âm, ERCP, EUS,…) thì CT- Scaner đã được chứng minh là mang lại tỷ lệ phát hiện sớm tổng thể là 90% với độ nhạy gần 100% sau 4 ngày đối với hoại tử tụy[20].
Và 2 Balthazar cùng các cộng sự đã thiết lập một chỉ số mức độ nghiêm trọng CT phân loại viêm tụy dựa trên mức độ viêm, sự hiện diện của dịch và mức độ hoại tử, điểm số cao hơn có liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Việc xử trí ban đầu và điều trị VTC cũng phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng bệnh, nguyên nhân gây bệnh và các biến chứng đồng thời có thể phát sinh ở từng bệnh nhân mà tiến hành các biện pháp hồi sức từ đơn giản ( Hồi sức chất lỏng, hỗ trợ dinh dưỡng, kháng sinh, hồi phục chức năng,…) đến phức tạp phải can thiệp ngoại khoa (dẫn lưu phẫu thuật mở) và phương pháp được ưu tiên tối ưu là xử trí nguyên nhân- điều trị nội khoa bảo tồn. VTC có rất nhiều nguyên nhân gây nên, đa số người ta thường biết đến là do rượu, do sỏi, thuốc,. và hiện nay có 1 nguyên nhân ngày càng phổ biến và được biết đến khi các nguyên nhân khác đã được loại bỏ và có sự góp mặt rất điển hình của nó trong biến đổi sinh hóa đó là “Tăng Triglyceride”.
Xã hội càng phát triển chế độ ăn càng phong phú thì VTC do tăng triglyceride ngày càng xuất hiện nhiều đặc biệt xu hướng thích đồ ăn chiên rán và tỷ lệ béo phì ngày càng tăng. Đã có rất nhiều bài báo những nghiên cứu về vấn đề này nhưng cơ chế gây bệnh VTC do tăng triglyceride vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều và chưa đi đến được thống nhất. Nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả trong nhận biết sớm, chẩn đoán sớm, điều trị tích cực và phòng ngừa VTC, chúng tôi xin tiến hành thực hiện đề tài: “Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm tụy cấp và đánh giá kết quả điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2021” với hai mục tiêu chính sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride tại khoa nội tiêu hóa bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2021.
Đánh giá kết quả điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride tại khoa nội tiêu hóa bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1.1 Giải phẫu tuyến tụy a) Hình thể ngoài tuyến tụy [12] Tụy là một tuyến màu xám hồng, dài 12cm - 15cm, chạy gần như ngang với thành bụng sau từ phần xuống tá tràng tới lách, mặt sau dạ dày. Phần phải của tụy rộng gọi là đầu tụy, đầu tiếp nối với thân qua một vùng hơi thắt lại gọi là cổ tụy.
Phần hẹp ở phía trái của tụy là đuôi tụy. Từ đầu tới đuôi, tụy chạy sang trái và hơi lên trên qua các vùng thượng vị và hạ sườn trái, vắt ngang trước thân các đốt sống thắt lưng trên.1: Hình thể ngoài tụy và liên quan Đầu tụy dẹt theo hướng trước sau, nằm trong vòng cung của tá tràng, các bờ của đầu bị bờ liền kề của tá tràng khía thành rãnh. Phần dưới trái của đầu có một mỏm gọi là mỏm móc, nhô lên trên và sang trái ở sau các mạch mạc treo tràng 5 trên. Đầu cùng những phần liên quan của tá tràng tạo thành một khối có những liên quan chung.
Mặt sau của đầu liên quan đến tĩnh mạch chủ dưới, phần tận cùng của những tĩnh mạch thận, mỏm móc nằm trước động mạch chủ. Ống mật chủ đào thành một rãnh ở mặt sau đầu tụy hoặc đi trong mô tụy. Mặt trước lúc đầu dính với đại tràng ngang bằng mô liên kết, sau đó trở thành nơi bám của mạc treo đại tràng ngang, phần dưới chỗ dính được phủ bằng phúc mạc liên tiếp với lá dưới của mạc treo đại tràng ngang và tiếp xúc với hỗng tràng. Chỗ tiếp nối đầy tụy – thân tụy: Vùng này ở ngang mức khuyết tụy, dài khoảng 2cm còn được gọi là cổ tụy.
Mặt trước bờ phải cổ tụy có rãnh cho động mạch vị tá tràng, mặt sau bờ trái có một khuyết sâu chứa tĩnh mạch mạc treo tràng trên và chỗ bắt đầu của tĩnh mạch cửa. Thân tụy có ba mặt ( trước, sau và dưới) và ba bờ ( trên, dưới và trước). Mặt trước được phúc mạc phủ và được ngăn cách với dạ dày bởi túi mạc nối. Mặt sau không phúc mạc bọc và dính với thận trái, cuống thận trái và tuyến thượng thận trái.
Mặt dưới hay trước dưới được phúc mạc bao bọc, liên quan đến góc tá hỗng tràng và các quai hỗng tràng, phúc mạc của mặt dưới liên tiếp với phúc mạc lá sau dưới của mạc treo đại tràng ngang. Bờ trước - bờ ngăn cách mặt trên và mặt dưới, là nơi bám của mạc treo đại tràng ngang, tại bờ này hai lá của mạc treo tách ra, một chạy lên mặt trước, một chạy xuống mặt dưới. Bờ trên có động mạch lách nằm, đàu phải của bờ này nhô lên thành củ mạc nối. Đuôi tụy hẹp, thường đi tới sát mặt vị của lách, nó cùng với các mạch lách đi động trong hai lá của dây chằng lách - thận.
b) Mạch máu và thần kinh tụy Động mạch thân và đuôi tụy được cấp máu bởi các nhánh của động mạch lách. Đầu tụy và tá tràng cùng được nuôi dưỡng bởi các nhánh tá tụy của động mạch 6 vị tá tràng và động mạch mạc treo tràng trên. Động mạch vị tá tràng tách ra các nhánh động mạch tá tụy trên trước và sau. Động mạch mạc treo tràng trên tách ra động mạch tá tụy dưới với hai nhánh trước và sau.
Tĩnh mạch đi kèm động mạch và đổ vào hệ thống tĩnh mạch cửa. Các mạch bạch huyết của tụy đổ vào các hạch tụy – lách nằm dọc bờ trên tụy .2: Các nhánh động tĩnh mạch tụy và liên quan Thần kinh chi phối cho tá tràng và tụy gồm những nhánh tách từ đám rối tạng và đám rối mạc treo tràng trên .2 Cấu tạo của tụy và các ống tiết Tụy được tạo bởi 2 loại mô tuyến là tuyến tụy ngoại tiết và tuyến tụy nội tiết. Tụy ngoại tiết bao gồm nhiều tiểu thùy, mỗi tiểu thùy gồm nhiều nang tuyến hợp nên và thành của mỗi nang lại do các tế bào tiết dịch ngoại tiết tạo thành. Dịch từ mỗi tiểu thùy được dẫn lưu bởi một ống tiết nhỏ và những ống này hợp lại để cuối cùng đổ vào hai ống lớn là ống tụy và ống tụy phụ.
Ống tụy đi ngang qua suốt chiều dài của đuôi tụy và thân tụy tới ngang khuyết tụy thì đi đi chếch xuống dưới và sang phải qua đầu tụy rồi cùng ống mật chủ đổ vào phần xuống tá tràng tại một lỗ ở đỉnh nhú tá tràng lớn. Thường thì ống mật 7 chủ hợp với ống tụy thành một đoạn ngắn trước khi đổ vào tá tràng và đoạn này thường phình ra tạo nên bóng gan - tụy. Các thớ cơ vòng ở quanh đầu đổ vào tá tràng của bóng tạo nên cơ thắt bóng gan - tụy. Ống tụy phụ dẫn dịch ở phía trên đầu tụy, nó xuất phát từ ống tụy ở nơi mà ống tuỵ bắt đầu thay đổi hướng đi và chạy thẳng sang phải đổ vào phần xuống tá tràng ở đỉnh nhú tá tràng bé.
Ống tụy phụ không thông với ống tụy ở 9% số trường hợp.3: Hình ảnh các ống tụy Các đảo tế bào nội tiết của tụy nằm xen kẽ với tuyến tụy ngoại tiết, được gọi là các tiểu đảo langerhans. Chúng tiết ra insulin và glucagon, các hoocmon này đi thẳng vào máu để tham gia vào quá trình chuyển hóa glucose của cơ thể.3 Cấu trúc mô học tuyến tụy a) 1.1 Tuyến tụy ngoại tiết [13] Gồm những nang tuyến và ống bài xuất: - Nang tuyến: có hình cầu hay hình ống ngắn, thành của nang tuyến được lợp bởi hai loại tế bào là tế bào chế tiết và tế bào trung tâm nang tuyến, lòng của nang tuyến thay đổi tùy thuộc vào hoạt động chức năng của tuyến: lòng nang tuyến hẹp lại khi nghỉ và rộng ra khi hoạt động bài xuất tích cực. - Tế bào chết tiết ( tế bào tuyến): gồm một hàng tế bào hình tháp nằm trên màng đáy, nhân tế bào hình cầu nằm gần cực đáy hơn cực ngọn, vùng cực ngọn tế bào chứa đầy những hạt hay những giọt chứa chất chế tiết. 8 - Tế bào trung tâm nang tuyến: không được xếp thành lớp liên tục.
Có hình dẹt, hình sao hay hình thoi. Bào tương sáng màu, nhân nhuộm base bắt màu đậm. Những tế bào này nằm ở trên cực ngọn của tế bào chế tiết.