CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ PHỔI 1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới Những đặc điểm lâm sàng của UTP đã được Laennec (1781 – 1826), một bác sĩ người Pháp mô tả lần đầu tiên trong y văn vào năm 1805. đã thu thập được 375 trường hợp UTP.
Năm 1950, lần đầu tiên người ta đã chứng minh mối liên quan giữa UTP và thuốc lá nhận thấy rằng 80% các UTP liên quan đến yếu tố môi trường, chế độ ăn uống, khói thuốc lá, sự nhiễm độc nước, không khí, điều kiện lao động… Nếu có nhiều yếu tố phối hợp thì nguy cơ mắc UTP càng cao[ CITATION Ngô1 \l 1033 ]. Trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (100/100.000 dân) ở vùng New Orleans (Hoa Kỳ) và Maoris (New Zealand), tiếp theo là ở vương quốc Anh và Hà Lan. Tỷ lệ mắc bệnh thấp là ở châu Phi và Nam Á (< 3/100. UTP vẫn là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới trên toàn thế giới (1,2 triệu chiếm 16,7%) với tỷ lệ mắc được ước tính theo tuổi cao nhất ở Trung và Đông Âu (53,5/100.
Đáng chú ý là tỷ lệ mắc bệnh thấp ở Trung và Tây Phi (tương ứng là 2,0 và 1,7/100. Ở phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh thường thấp hơn, ước tính cao nhất là ở Bắc Mỹ (33,8) và Bắc Âu (23,7) với tỷ lệ tương đối cao ở Đông Á (19,2) và thấp nhất vẫn ở Tây và Trung Phi (1,1 và 0,8 tương ứng) [CITATION Tor08 \l 1033 ]. UTP là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới, ước tính 1,59 triệu ca tử vong, chiếm 19,4% tổng số [CITATION Fer86 \l 1033 ]. Tại châu Âu, năm 2012 ước tính có khoảng 448.618 trường hợp mắc UTP chiếm 12,1% đứng thứ hai trong số các loại ung thư.
Nhưng tỷ lệ tử luan an 5 vong do UTP lại đứng hàng đầu với khoảng 388.203 trường hợp chiếm 20,1%[CITATION Fer86 \l 1033 ]. Tại châu Á, năm 2012 ước tính có khoảng 742.718 trường hợp mắc UTP ở nam giới chiếm 20,1%, tỷ lệ mắc ở nữ giới thấp hơn hẳn khoảng 302.977 trường hợp chiếm 9,9%. Tỷ lệ tử vong do UTP ở nam giới cũng giống tỷ lệ mắc đều đứng hàng đầu, có khoảng 668.765 trường hợp chiếm 24,9%. Tỷ lệ mắc ở nữ giới đứng hàng thứ hai sau ung thư vú, tuy nhiên tỷ lệ tử vong do UTP ở nữ giới lại đứng hàng đầu khoảng 267.286 trường hợp chiếm 14,8% [CITATION Fer86 \l 1033 ].
Theo ước tính mới nhất của Globocan 2018, toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu ca UTP mới mắc và 1,8 triệu ca tử vong. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao nhất ở nam giới ở các nước châu Âu, đặc biệt là Đông Âu như Hungary 77,4/100.000 dân, Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) là 40/100. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới nói chung vẫn thấp ở châu Phi khoảng 30/100. Tỷ lệ UTP mắc cao nhất ở nữ giới được ghi nhận ở Đan Mạch, Hà Lan và Úc.
Tỷ lệ nữ giới mắc UTP ở Trung Quốc là 22,8/100.000 dân, Pháp là 22,5/100. Nhìn chung tỷ lệ sống của những người UTP rất thấp. Tính trên quy mô toàn thế giới, tỷ lệ sống sót 5 năm ở nam giới chỉ là 6% - 14% và ở nữ giới tỷ lệ này là khoảng 7 - 18%[CITATION You08 \l 1033 ]. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỷ lệ sống rất thấp này là do hạn chế trong việc chẩn đoán ung thư ở giai đoạn sớm.
Một nguyên nhân khác làm giảm khả năng sống sót là tác hại của thuốc lá, yếu tố gây ra đồng thời nhiều tình trạng bệnh khác như các bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tình hình ung thư phổi tại Việt Nam Tại Việt Nam, xu hướng tăng lên trong gánh nặng bệnh tật do ung thư ngày càng rõ rệt. Năm 1990, số mới mắc ung thư chỉ là 52.721 trường hợp thì luan an 6 đến năm 2000 con số này ghi nhận được ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tăng lên đến 71. Ở nam giới, UTP là loại ung thư có tỷ lệ mắc cao nhất 31/100.
Ở nữ giới, xu hướng cũng tương tự như tình hình chung trên thế giới, tỷ lệ mắc UTP 6,7/100.000, đứng hàng thứ tư trong số các loại ung thư, sau ung thư vú, ung thư dạ dày và ung thư cổ tử cung [ CITATION Tìn \l 1033 ]. Theo ghi nhận tại 5 tỉnh thành giai đoạn 2001 – 2004, ước tính hàng năm số ca mắc mới trung bình từ 27,6 – 40,2/100. Tỷ lệ mắc cao nhất ở Hà Nội, thấp nhất ở Huế. Ở Hà Nội, UTP đứng hàng thứ nhất ở nam với tỷ lệ 39,8/100.000 dân và đứng hàng thứ 3 ở nữ với tỷ lệ 10,5/100.
Thừa Thiên Huế, có tỷ lệ mắc thấp nhất nước, đứng hàng thứ 3 ở nam với tỷ lệ mắc 10,8/100.000 và hàng thứ 4 ở nữ với tỷ lệ mắc là 3,6/100. Theo số liệu ghi nhận của Globocan ước tính năm 2012, mỗi năm Việt Nam có khoảng 22.000 trường hợp mới mắc UTP và 19.500 trường hợp tử vong. Ước tính đến năm 2020, số ca mắc mới UTP mỗi năm là hơn 34. Cũng theo Globocan thống kê về tỷ lệ mắc và chết của hơn 36 loại ung thư của 185 quốc gia năm 2018 cho thấy tại Việt nam, UTP xếp hàng thứ 2 sau ung thư gan với 23.667 trường hợp mắc mới (14,4%) và số tử vong là 20.710 trường hợp (18%) trong số các loại ung thư.
Tỷ lệ nam giới gấp 3 lần nữ giới (35,4/100.000 nam so với 11,1/100. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi Hiện nay, một số yếu tố nguy cơ đã được xác định là có liên quan đến UTP bao gồm: hút thuốc lá, phơi nhiễm trong lao động, ô nhiễm không khí, chế độ dinh dưỡng, các bệnh ở phế quản phổi, tuổi, giới và một số yếu tố nguy cơ khác. trong đó hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính. Khói thuốc lá Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hóa chất, 200 loại có hại cho sức khỏe, khoảng 60 chất gây ung thư trong số đó có hợp chất thơm có vòng đóng như: 3 – 4 benzopyren, các dẫn xuất hydrocarbon đa vòng có nitơ, aldehyt, nitrosamine, ceton.
Khoảng 90% trong số các ca được chẩn đoán UTP trên thế giới là người hút thuốc lá và khoảng 80% số ca có phơi nhiễm với khói thuốc lá. Mức độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào: tuổi bắt đầu hút (hút càng sớm nguy cơ càng cao), số bao – năm (càng lớn nguy cơ càng cao), thời gian hút (càng dài nguy cơ mắc bệnh càng lớn). Những người hút thuốc không bỏ được có nguy cơ UTP cao gấp 20 lần so với người không hút thuốc. Cùng một lượng thuốc hút nhưng hút trong thời gian dài hơn thì nguy cơ sẽ cao hơn nhiều.
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư của các loại tế bào theo những tỷ lệ khác nhau, ung thư tế bào vảy và tế bào nhỏ tăng gấp 5 – 20 lần, dạng tuyến và tế bào lớn tăng gấp 2 – 5 lần[ CITATION Ngô1 \l 1033 ]. Quá sản phế nang U tuyến không điển hình ác tính Thường quan sát thấy biến đổi gen Rối loạn chu trình tế bào Các chất Rối loạn chu trình chết tế bào Rối loạn ức chế do tiếp xúc Ung thư gây ung thư Biểu mô Khả năng gây di căn phổi của thuốc lá phế quản Quá sản biểu mô Loạn Ung thư phế quản sản tại chỗ Sơ đồ 1. Tác động của hút thuốc lá hình thành ung thư phổi * Nguồn: Ngô Quý Châu (2008) [ CITATION Ngô1 \l 1033 ] luan an 8 Những bằng chứng đầu tiên về tác dụng của thuốc lá đối với UTP được phát hiện từ năm 1939 và sau đó được khẳng định bằng một loạt các nghiên cứu dịch tễ học cho đến ngày nay[CITATION You08 \l 1033 ]. So với những người không hút thuốc lá, nguy cơ mắc UTP ở những người có hút thuốc lá cao gấp 10 lần hoặc hơn.
Trong số những người hút thuốc lá, nguy cơ mắc cũng cao hơn ở những người hút thường xuyên so với những người đã bỏ thuốc. Ví dụ, kết quả một nghiên cứu ở vương quốc Anh cho thấy tỷ lệ mới mắc UTP ở những người hút thuốc lá là 16% và tỷ lệ này giảm xuống lần lượt còn 10%, 6%, 3% và 2% ở những người bỏ thuốc vào độ 60 tuổi, 50 tuổi, 40 tuổi và 30 tuổi[CITATION Pet \l 1033 ]. Nguy cơ bị UTP tăng cả ở những người hút thuốc lá thụ động. Những người không hút thuốc lá mà kết hôn với người hút thuốc, tỷ lệ tử vong vì UTP cao hơn 20% so với người kết hôn với người không hút và tỷ lệ tử vong do UTP cũng tăng lên cùng với số lượng thuốc được hút của người vợ hoặc chồng.
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người không trực tiếp hút thuốc nhưng hít phải khói thuốc, hay hút thuốc lá thụ động cũng có nguy cơ mắc UTP cao hơn 1,4 - 2,0 lần[CITATION Val96 \l 1033 ]. Ước tính khoảng 3.000 ca tử vong do UTP xảy ra mỗi năm ở Mỹ là do hút thuốc lá thụ động [CITATION Aso \l 1033 ]. Một nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp kết quả của 287 nghiên cứu khác nhau cho thấy, nguy cơ tăng cao UTP có liên quan đến khói thuốc lá[CITATION Lee \l 1033 ]. Phơi nhiễm trong lao động Có khoảng 15% UTP ở nam giới và 5% UTP ở nữ giới do phơi nhiễm nghề nghiệp.
Nhiều tác nhân phơi nhiễm nghề nghiệp được phát hiện làm tăng cao nguy cơ mắc UTP, bao gồm: amiăng – đóng vai trò quan trọng nhất[CITATION Jon \l 1033 ], asen, sulfur dioxide, ete, formaldehyde, crôm, luan an 9 hydrocarbon thơm đa nguyên tử, niken, silicat, sợi nhân tạo, radon và bức xạ ion hoá. Những phơi nhiễm này liên quan đến nhiều ngành công nghiệp khác nhau như công nghiệp năng lượng hạt nhân, chế tạo ô tô, đúc và luyện kim, kính, gốm, cách nhiệt, vật liệu, hoá dầu, đóng tàu, sơn và khai mỏ[CITATION Val96 \l 1033 ]. Ô nhiễm không khí Nguy cơ mắc UTP ngày càng tăng theo quá trình công nghiệp hóa và ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu thực nghiệm và phân tích hóa học đã chứng minh nguyên nhân sinh ung thư của những chất thải công nghiệp.
Các bụi amiăng, berylli khi bị hít vào phổi làm tăng khả năng mắc UTP, đặc biệt là ung thư màng phổi. Radon và amiăng hiệp đồng tác dụng làm tăng nguy cơ UTP. Sự tiếp xúc với niken, crom, sắt, thạch tín, than, nhựa, khí đốt, dầu mỏ, khói động cơ diezen cũng góp phần tăng nguy cơ mắc bệnh. và CS (2006), nghiên cứu trên 81.