Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu, mô học đại-trực tràng và polyp đại-trực tràng 1. Giải phẫu đại-trực tràng Khung đại tràng có hình dạng chữ U ngược, ôm lấy ruột non, bắt đầu từ van hồi manh tràng đến ống hậu môn, chiều dài khoảng 1,5 - 2 mét, đường kính khoảng 5 cm, được chia thành 7 phần chính: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và ống hậu môn. Có 3 vị trí gấp khúc tại đại tràng góc gan, đại tràng góc lách và đại tràng sigma.
Đại tràng sigma và đại tràng ngang là các đoạn di động. Đại tràng lên và đại tràng xuống là đoạn cố định [5], [12], [69].1: Giải phẫu đại trực tràng (Nguồn: Schuenke M, Atlas of Anatomy, 2007 [69]) Đại tràng có vai trò trong tái hấp thu nước và điện giải, một số vitamin cũng như acid amin, chất béo và carbonhydrat dư thừa sau tiêu hóa. Cuối cùng là nơi tạo và đào thải phân ra khỏi cơ thể [12], [69]. Cấu tạo mô học đại-trực tràng Thành đại tràng cấu tạo bởi 4 lớp (từ ngoài vào trong): lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc [69].
4 - Lớp niêm mạc gồm 3 lớp: lớp biểu mô, lớp đệm và lớp cơ niêm. + Lớp biểu mô: được phủ bởi biểu mô trụ đơn, có các tế bào hình đài và tế bào hình trụ. + Lớp đệm: nằm dưới lớp biểu mô phủ, tạo thành bởi các mô liên kết có nhiều tương bào và lympho bào. + Lớp cơ niêm: cấu tạo lớp cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc ở ngoài.
Mô học niêm mạc đại trực tràng (Nguồn Mescher AL: Junqueira’s Basic Histology: Text and Atlas 12th [52]) - Lớp dưới niêm mạc: lỏng lẻo chứa mạch máu, thần kinh và mạch bạch huyết. - Lớp cơ: gồm có lớp cơ vòng trong và dọc ngoài đều là cơ trơn. - Thanh mạc: là lá tạng của phúc mạc. Dính với lớp cơ bằng tổ chức dưới thanh mạc và dính với phúc mạc tạo thành mạc treo 5 1.
Polyp đại-trực tràng Polyp đại-trực tràng là những khối phát triển lồi lên từ lớp niêm mạc đại tràng. Bệnh có xu hướng mắc tăng theo tuổi (tăng nhanh ở đối tượng trên 50 tuổi), nam giới mắc nhiều hơn nữ giới. Khoảng 85% ung thư đại-trực tràng phát triển từ một polyp u tuyến. Việc phát hiện polyp đại trực tràng, đặc biệt là u tuyến để cắt qua nội soi đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa ung thư đại trực tràng [2], [76].
Polyp đại trực tràng thường được phân thành 02 loại bao gồm: polyp u tuyến và polyp răng cưa. Polyp u tuyến được định nghĩa cho tất cả u tuyến đại tràng (trừ polyp/u tuyến răng cưa). Dựa vào thành phần nhung mao sẽ chia ra thành: u tuyến ống, u tuyến ống nhung mao và u tuyến nhung mao. U tuyến với tỷ lệ nhung mao cao được xem như nguy cơ cao và nên được theo dõi giám sát định kỳ một cách thường xuyên hơn.
Polyp răng cưa, được gọi như vậy vì nó có hình ảnh răng cưa khi đọc dưới kính hiển vi và được chia thành: polyp răng cưa không cuống, u tuyến răng cưa truyền thống và polyp tăng sản. Tương tự như polyp u tuyến, polyp hình răng cưa không cuống, u tuyến răng cưa truyền thống và polyp tăng sản kích thước lớn có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Polyp răng cưa không cuống là khó phát hiện nhất trong quá trình nội soi vì chúng thường phẳng, được bao phủ bởi một lớp nhầy và có màu sắc giống như mô xung quanh [2], [64], [72]. Polyp ác tính được định nghĩa là polyp đại-trực tràng bao gồm cả tổn thương phẳng với độ xâm lấn của ung thư còn ở lớp niêm mạc (Tis) và dưới niêm mạc (T1), chưa tới lớp cơ (T2).
Trong giai đoạn này có thể điều trị khỏi cao bằng nội soi hoặc phẫu thuật. Điều trị nội soi chỉ được chỉ định cho các khối u không có di căn hạch. Do đó, cắt bỏ qua nội soi chỉ được xem xét đối với u tuyến hoặc khối u xâm lấn nông lớp dưới niêm mạc (độ sâu <1000μm). Ung thư xâm nhập vào các lớp dưới niêm mạc sâu hơn ≥1000μm có nguy cơ di 6 căn hạch bạch huyết; do đó cần phải can thiệp ngoại khoa.
Độ sâu xâm lấn tổn thương có thể được dự đoán rất chính xác bằng nội soi phóng đại, nội soi nhuộm màu và nội soi siêu âm [22], [29], [46].3: Độ sâu xâm lấn ung thư theo phân loại AJCC (Nguồn Zinner M: Maingot's Abdominal Operations 13th [88]) 1. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi phóng đại kết hợp nhuộm màu và mô bệnh học của polyp đại-trực tràng 1. Đặc điểm lâm sàng Polyp đại-trực tràng thường không có triệu chứng, đó là một trong những lý do khiến việc sàng lọc là rất quan trọng. Khi một khối u phát triển, nó có thể chảy máu hoặc tắc ruột.
Các triệu chứng phổ biến nhất là: Đau bụng: đau âm ỉ hoặc khó chịu ở vùng bụng dưới. Rối loạn tiêu hóa: thay đổi thói quen đi tiêu (táo bón xen kẽ tiêu chảy) hoặc thay đổi hình dạng của phân (ví dụ: dẹt hơn bình thường). Tiêu phân máu: bệnh nhân đi tiêu có máu tươi, máu sẫm hoặc đen. Máu có khi nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có khi phải soi kính hiển vi mới thấy được.
Nếu bệnh nhân không để ý thì không biết, có khi kéo dài hằng năm, khi bệnh nhân xanh xao, mệt mỏi, mới phát hiện ra là trong phân có máu. 7 Mót rặn, trong phân có đàm nhầy Giảm sự thèm ăn. Sút cân: bệnh nhân sút cân nặng ngoài ý muốn [49], [67]. Hình thái tổn thương bề mặt đại-trực tràng theo phân loại Paris 2002 Đặc điểm hình dạng tổn thương bề mặt đại trực tràng được thống nhất và phân chia theo phân loại quốc tế Paris (2002) [60].
Hệ thống này giúp mô tả đặc điểm và dự đoán mô bệnh học của tổn thương đại trực tràng, gồm 3 nhóm: Hình 1.4: Phân loại Paris 2002 (Nguồn: Niwa H, Gastrointest Endosc, 58: S3-43 [60]) - Nhóm 0-I là tổn thương dạng polyp (Polypoid) gồm: polyp có cuống (Pedunculated 0-Ip), polyp không cuống (Sessile 0-Is). 8 - Nhóm 0-II là tổn thương dạng phẳng (Non-polypoid) gồm: tổn thương phẳng hơi nổi gồ lên (Min. elevated 0-IIa), tổn thương phẳng phẳng (Truly flat 0-IIb), tổn thương phẳng lõm (Min. - Nhóm III: tổn thương dạng loét (Excavated III), dạng này hiếm gặp ở đại tràng.
Ngoài ra, có thể có một số tổn thương có hình dạng hỗn hợp giữa các nhóm kể trên: Isp, IIa+c, IIa+Is. Tổn thương gọi là phẳng hiếm khi phẳng hoàn toàn. Phân loại Paris định nghĩa phẳng khi chiều cao <2,5mm so với niêm mạc bình thường. Tổn thương dạng polyp (Ip và Is) là phổ biến, và kích thước <5mm nguy cơ ung thư không đáng kể, nhưng tổn thương >20mm có nguy cơ ung thư hóa cao.
Tổn thương lõm (IIc) ở đại trực tràng thường là ung thư, kể cả kích thước nhỏ (<10mm). Các tổn thương lõm thường hiếm nhưng phát triển rất nhanh, xâm lấn ở giai đoạn sớm, khó cắt qua nội soi [60]. Nội soi phóng đại kết hợp nhuộm màu Là một phương pháp nội soi cải tiến, cho phép đánh giá cấu trúc bề mặt niêm mạc và hình thái mạch máu niêm mạc, từ đó dự đoán kết quả mô bệnh học polyp (tân sinh, không tân sinh hoặc ung thư xâm lấn dưới niêm mạc) với độ chính xác cao, giảm các trường hợp sinh thiết không cần thiết cho bệnh nhân. Trong chẩn đoán tổn thương hiện nay, nội soi phóng đại thường được chia làm 2 nhóm chính [21], [24], [58], [20]: - Nội soi phóng đại nhuộm màu thật (indigocarmin, crystal violet.
- Nội soi phóng đại nhuộm màu ảo (FICE, BLI, LCI, NBI, I-scan. Nội soi phóng đại nhuộm màu thật Phương pháp nhuộm màu đã tăng cường mức độ tương phản giữa cấu trúc niêm mạc bình thường - bất thường của đại tràng về đại thể (màu sắc, ranh giới, kích thước polyp) và cấu trúc vi thể (hình thái lỗ niêm mạc mạc). Hình ảnh nội soi phóng đại nhuộm màu (Nguồn: Tanaka S, Dig Endosc, 23: 131-139 [77]) Nội soi phóng đại có nhuộm màu Indigo Carmin Khi phun thuốc nhuộm Indigo Carmin vào niêm mạc đại tràng, thuốc nhuộm sẽ đọng và bám vào các khe rãnh tuyến niêm mạc, cho phép phân biệt tốt hơn cấu trúc tổn thương so với niêm mạc bình thường và dự đoán kết quả mô bệnh học với mức độ tương quan cao. Tuy nhiên, một trong những bất lợi của Indigo Carmin là nó dễ bị phai hoặc rửa trôi bởi các dịch tiết trong lòng đại tràng [17] Hình 1.6: Nội soi ánh sáng trắng và nội soi phóng đại nhuộm màu Indigo Carmin (Nguồn: Soetikno R, Gastrointest Endoscopy Clin N Am, 24: 483–520 [71]) 10 Nội soi phóng đại nhuộm màu Crystal violet Crystal Violet là một loại thuốc nhuộm được sử dụng để nhuộm mô hoặc dùng trong phương pháp nhuộm Gram để phân loại vi khuẩn, Crystal Violet có khả năng hấp thụ vào biểu mô niêm mạc, cho phép làm nổi bật hình ảnh các rãnh tuyến niêm mạc (tuyến Lieberkuhn), xuất hiện hình ảnh cấu trúc bề mặt niêm mạc dưới dạng các điểm chấm hoặc lỗ niêm mạc (pits) được phân chia theo các typ phân loại Kudo (typ I, II, IIIl, IIIs, IV, Vi, Vn).
Đồng thời, cho phép dự đoán tương đồng cao với kết quả mô bệnh học các polyp tân sinh ác tính và mức độ xâm lấn, đặc biệt với polyp typ Vi và Vn. Nội soi phóng đại nhuộm màu ảo Trong những năm gần đây, các kỹ thuật nội soi nhuộm màu ảo đã được phát triển cho phép phân tích cấu trúc bề mặt niêm mạc và hình thái vi mạch máu mà không cần phải nhuộm thương tổn nhưng vẫn cho kết quả chẩn đoán chính xác các polyp tân sinh và không tân sinh, đánh giá mức độ ung thư xâm lấn. Các kỹ thuật phổ biến: nội soi dải tần hẹp, nội soi tăng cường màu sắc đa phổ, I-scan, nội soi ánh sáng xanh, nội soi hình ảnh màu kết nối. Nội soi dải tần hẹp (Narrow Band Imaging - NBI) NBI dựa vào khả năng xuyên sâu của ánh sáng đơn sắc từ đèn Xenon đi qua bộ lọc màu quang học tạo ánh sáng có dải tần hẹp (bước sóng 415–540nm).
Các cấu trúc vi mạch máu được nhìn thấy rõ nhất ở ánh sáng có bước sóng ngắn (415nm) do tương ứng với dải hấp thụ của hemoglobin, trong khi đó ánh sáng đơn sắc có bước sóng dài hơn (540nm) thì lại giúp quan sát những mạch lớn hơn ở sâu lớp dưới niêm mạc [30]. Nội soi tăng cường màu sắc đa phổ (Flexible spectral Imaging Colour Enhancement- FICE) Hệ thống FICE sử dụng 10 kênh sóng được thiết lập sẵn với 3 bước sóng cơ bản R, G, B.