Tổng quan nghiên cứu

Bệnh trĩ là một trong những bệnh lý hậu môn - trực tràng phổ biến nhất trong cộng đồng, với tỷ lệ mắc ước tính chiếm từ 4% đến 55% dân số toàn cầu, trong đó nhóm người trên 50 tuổi chiếm khoảng 50%. Khi bệnh tiến triển đến độ II và độ III, ước tính có tới 30% bệnh nhân cần chỉ định can thiệp phẫu thuật để chấm dứt tình trạng xuất huyết và sa búi trĩ kéo dài. Mặc dù các phương pháp phẫu thuật kinh điển như Milligan - Morgan hay Ferguson mang lại hiệu quả triệt căn cao, người bệnh thường phải đối mặt với tình trạng đau đớn dữ dội sau mổ và nguy cơ biến chứng như hẹp hậu môn hoặc rối loạn đại tiện.

Luận văn Bác sĩ Nội trú chuyên ngành Ngoại khoa của tác giả Trần Nguyễn Đăng Khoa, dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư Phạm Văn Năng tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, tập trung giải quyết vấn đề tối ưu hóa điều trị ít xâm lấn. Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 02/2019 đến tháng 07/2021 trên nhóm 33 bệnh nhân trĩ nội độ II và độ III với thời gian theo dõi trung bình 13 tháng. Mục tiêu trọng tâm là xác định các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đặc thù và đánh giá toàn diện hiệu quả can thiệp của phương pháp phẫu thuật khâu treo triệt mạch trĩ dưới hướng dẫn siêu âm Doppler (THD). Đây là kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên được khảo sát và tổng kết bài bản tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, mang lại giải pháp bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu và đệm hậu môn cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết cơ học và huyết động học hiện đại của tác giả Thomson công bố năm 1975, xem búi trĩ là trạng thái bệnh lý của các tấm đệm hậu môn sinh lý khi hệ thống mô liên kết nâng đỡ và dây chằng Parks bị thoái hóa. Cấu trúc mạch máu vùng hậu môn - trực tràng nhận nguồn cấp máu chủ yếu từ động mạch trực tràng trên với 3 đến 4 trục động mạch chính ở các vị trí kinh điển.

Nguyên lý phẫu thuật THD (Transanal Hemorrhoidal Dearterialization) xuất phát từ phát minh của Kazumasa Morinaga năm 1995 và được Pier Paolo Dalmonte hoàn thiện năm 2007. Kỹ thuật này sử dụng đầu dò siêu âm Doppler định vị chính xác các nhánh động mạch trĩ ở vị trí trên đường lược khoảng 1,5 cm đến 2 cm để khâu thắt triệt mạch, làm giảm áp lực tưới máu và khiến búi trĩ co nhỏ tự nhiên. Đồng thời, kỹ thuật khâu treo niêm mạc (Mucopexy) cố định lại phần niêm mạc sa vào lớp cơ vòng trong ống hậu môn. Quá trình đánh giá kết quả áp dụng chặt chẽ thang điểm đau thị giác VAS từ 0 đến 10 điểm và thang đo mức độ tự chủ hậu môn Jorge - Wexner với thang điểm tối đa 20 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu 33 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu: từ 18 tuổi trở lên, mắc trĩ nội độ II hoặc độ III theo phân loại Goligher. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính cho một tỷ lệ với mức tin cậy 95% (tương ứng giá trị alpha bằng 0,05), tỷ lệ thành công tham chiếu p đạt 0,957 dựa trên các báo cáo quốc tế uy tín của Carlo Ratto và sai số tuyệt đối chọn ở mức 0,07.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện không xác suất được áp dụng tại Khoa Ngoại Tổng hợp trong suốt giai đoạn 29 tháng (từ tháng 02/2019 đến tháng 07/2021). Bệnh nhân được thực hiện đầy đủ quy trình thăm khám lâm sàng, quay video hậu môn khi rặn đại tiện và nội soi đại trực tràng trước mổ. Toàn bộ dữ liệu lâm sàng, thông số phẫu thuật và diễn tiến hồi phục được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 18.0. Các biến định tính được so sánh qua kiểm định Chi-Square, các biến định lượng được đánh giá qua kiểm định T-test và ANOVA với ngưỡng ý nghĩa thống kê xác lập tại giá trị p nhỏ hơn hoặc bằng 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học cho thấy độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 45,91 ± 12,9 tuổi (trẻ nhất là 24 tuổi, lớn nhất là 83 tuổi). Tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế với 60,6% so với nam giới chiếm 39,4%, tỷ lệ nam trên nữ đạt 0,65. Đáng chú ý, nhóm đối tượng làm công việc ngồi nhiều hoặc ít vận động như nhân viên văn phòng (24,2%) và nội trợ (24,2%) chiếm gần một nửa tổng số ca bệnh.

Về mặt lâm sàng, thời gian mắc bệnh trung bình ghi nhận ở mức 6,3 ± 5,4 năm. Khối sa hậu môn là lý do nhập viện chủ yếu chiếm 63,6%, tiếp theo là chảy máu khi đi tiêu chiếm 36,4%. Khi khám chuyên khoa, tỷ lệ xuất hiện khối sa thực tế lên tới 90,9% và chảy máu chiếm 69,7%. Về phân độ, trĩ nội độ III chiếm áp đảo với 90,9% (30 bệnh nhân), trong khi trĩ nội độ II chỉ chiếm 9,1% (3 bệnh nhân). Tình trạng thiếu máu được ghi nhận ở 18,2% trường hợp (12,1% thiếu máu nhẹ và 6,1% thiếu máu trung bình).

Trong quá trình phẫu thuật, thời gian can thiệp trung bình là 36 ± 10,2 phút (dao động từ 20 đến 60 phút). Số nhánh động mạch trĩ dò được và khâu triệt trung bình là 3,85 ± 1,0 nhánh (nhiều nhất 7 nhánh), tập trung dày đặc nhất ở các vị trí 2, 3, 5, 9 và 11 giờ theo mặt đồng hồ. Số mũi khâu treo niêm mạc sa trung bình là 4,61 ± 0,9 mũi, trong đó 72,7% bệnh nhân được thực hiện từ 4 đến 5 mũi khâu.

Về mức độ đau sau phẫu thuật, ngày đầu tiên ghi nhận 60,6% bệnh nhân chỉ đau ít, 36,4% đau vừa và chỉ 3,0% đau nhiều. Đến ngày thứ 3, hoàn toàn không còn bệnh nhân nào bị đau nhiều. Sau 7 ngày, có tới 78,8% bệnh nhân hoàn toàn hết đau và chỉ còn 21,2% đau nhẹ.

Thảo luận kết quả

Kết quả can thiệp của nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công bố của Carlo Ratto khi theo dõi trên 1.000 bệnh nhân đạt tỷ lệ thành công 95,7% và Lê Mạnh Cường tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương với 85,4% bệnh nhân đau ít và thời gian phục hồi sinh hoạt chỉ 5,9 ngày. Khi đặt lên bàn cân so sánh với kỹ thuật Longo hay Milligan - Morgan, phẫu thuật THD chứng minh ưu thế vượt trội về việc kiểm soát cơn đau sớm và hạn chế tối đa các biến chứng hoại tử niêm mạc.

Phân tích thống kê chuyên sâu chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa kỹ thuật phẫu thuật và mức độ đau sau mổ: nhóm bệnh nhân có số mũi khâu treo niêm mạc từ 4 mũi trở xuống ghi nhận mức độ đau thấp hơn rõ rệt so với nhóm khâu trên 4 mũi (với p = 0,004). Đồng thời, việc thực hiện khâu treo trên 3 vị trí làm gia tăng cảm giác đau và kích thích mót rặn (p = 0,041). Dữ liệu này được minh chứng sống động qua các biểu đồ phân bố mức độ đau VAS theo thời gian và bảng phân tích chéo đa biến, khẳng định việc tiết chế số mũi khâu vừa đủ là chìa khóa then chốt để tối ưu hóa chất lượng điều trị.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng lâm sàng thu thập được, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả can thiệp ngoại khoa bệnh trĩ:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình định vị mạch Doppler và kỹ thuật khâu treo niêm mạc: Phẫu thuật viên ngoại tiêu hóa cần tối ưu hóa thao tác, duy trì số mũi khâu treo cố định ở mức từ 4 đến 5 mũi và khâu triệt mạch từ 3 đến 4 nhánh chính. Giải pháp này giúp duy trì mục tiêu điểm đau VAS trung bình dưới 3 điểm trong 24 giờ đầu sau mổ, áp dụng ngay trong các ca phẫu thuật chương trình.

Thứ hai, thiết lập chỉ định nội soi đại trực tràng toàn bộ bắt buộc đối với 100% bệnh nhân trên 50 tuổi hoặc có biểu hiện thiếu máu kéo dài trước khi tiến hành phẫu thuật trĩ. Quy trình này giúp các bác sĩ tầm soát sớm, tránh bỏ sót các bệnh lý ác tính hoặc polyp đại tràng phối hợp vốn chiếm tỷ lệ khoảng 6,1% trong thực tế điều trị.

Thứ ba, xây dựng và vận hành mô hình phẫu thuật trong ngày (Day-Surgery): Ban Giám đốc các bệnh viện tuyến tỉnh cần hoàn thiện quy trình chăm sóc hậu phẫu THD chuẩn, rút ngắn thời gian nằm viện xuống dưới 2 ngày và giảm thiểu 25% đến 30% chi phí điều trị nội trú cho người bệnh trong vòng 12 tháng tới.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác đào tạo chuyển giao công nghệ: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ phối hợp cùng các bệnh viện chuyên khoa tổ chức các khóa tập huấn thực hành kỹ thuật THD cho đội ngũ bác sĩ ngoại khoa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với lộ trình thực hiện từ 6 đến 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Tiêu hóa và Hậu môn - Trực tràng: Luận văn cung cấp cẩm nang chi tiết về bản đồ định vị động mạch trĩ qua Doppler, kỹ thuật khâu xếp nếp niêm mạc an toàn nhằm giảm thiểu tỷ lệ biến chứng chảy máu và mót rặn sau mổ.

Học viên Sau đại học, Bác sĩ Nội trú và Bác sĩ Chuyên khoa cấp II: Tài liệu là nguồn tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức ứng dụng công thức tính cỡ mẫu lâm sàng và quy trình xử lý dữ liệu y học qua phần mềm SPSS 18.0.

Lãnh đạo và Nhà quản lý bệnh viện khu vực Tây Nam Bộ: Nghiên cứu cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học và phân tích hiệu quả điều trị để xem xét phê duyệt đầu tư hệ thống trang thiết bị THD Revolution, nâng cao năng lực phẫu thuật kỹ thuật cao tại địa phương.

Người bệnh và cộng đồng quan tâm đến điều trị trĩ: Cung cấp góc nhìn y khoa chuẩn xác, giúp người bệnh giải tỏa nỗi sợ đau đớn sau mổ, hiểu rõ cơ chế bảo tồn đệm hậu môn của phương pháp xâm lấn tối thiểu để chủ động lựa chọn phương án điều trị sớm.

Câu hỏi thường gặp

Phẫu thuật THD có điểm gì ưu việt hơn so với phương pháp cắt trĩ truyền thống Milligan - Morgan? Phương pháp Milligan - Morgan cắt bỏ trực tiếp mô đệm gây vết thương hở và đau đớn kéo dài, trong khi THD chỉ can thiệp khâu thắt mạch và treo niêm mạc ở vùng không có thụ thể cảm giác đau phía trên đường lược, giúp bảo tồn 100% cơ thắt và đệm hậu môn tự nhiên.

Thời gian phục hồi và mức độ đau sau mổ THD diễn biến như thế nào? Theo số liệu nghiên cứu, ngay trong 24 giờ đầu có 60,6% bệnh nhân chỉ đau nhẹ và sau 7 ngày có tới 78,8% bệnh nhân hoàn toàn không còn đau. Đa số người bệnh có thể đi lại nhẹ nhàng sau 24 giờ và trở lại công việc thường nhật sau khoảng 5 đến 7 ngày.

Phương pháp khâu triệt mạch Doppler có loại trừ được nguy cơ hẹp hậu môn không? Phương pháp THD không cắt bỏ niêm mạc hay mô dưới niêm nên hoàn toàn không hình thành sẹo co kéo ở ống hậu môn. Nghiên cứu trên 33 bệnh nhân theo dõi tới 13 tháng ghi nhận 0% trường hợp bị hẹp hậu môn hay mất tự chủ đại tiện.

Trường hợp nào được chỉ định tốt nhất cho phẫu thuật THD? Phẫu thuật đạt hiệu quả cao nhất trên bệnh nhân trĩ nội độ II có triệu chứng chảy máu nhiều hoặc trĩ nội độ III có sa búi trĩ nhưng chưa bị biến chứng tắc mạch hay hoại tử nghẹt.

Tại sao cần thực hiện siêu âm Doppler trong lúc mổ thay vì khâu thắt trĩ thông thường? Đầu dò siêu âm Doppler giúp phẫu thuật viên dò tìm chính xác vị trí dòng chảy của 3 đến 7 nhánh động mạch trĩ nằm ẩn dưới niêm mạc theo từng cá thể, từ đó khâu triệt đúng cuống mạch nuôi mà không làm tổn thương các mô lành lân cận.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tính khả thi, an toàn và hiệu quả vượt trội của phẫu thuật khâu treo triệt mạch trĩ dưới hướng dẫn siêu âm Doppler (THD) trên 33 bệnh nhân trĩ nội độ II và độ III tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
  • Kiểm soát đau sau mổ xuất sắc với 78,8% bệnh nhân hoàn toàn hết đau sau 7 ngày và không ghi nhận biến chứng hẹp hậu môn hay rối loạn cơ thắt.
  • Xác lập bằng chứng khoa học có ý nghĩa thống kê về việc kiểm soát số mũi khâu treo niêm mạc dưới 4 mũi giúp giảm thiểu tối đa mức độ đau và tình trạng mót rặn hậu phẫu (p = 0,004).
  • Thời gian phẫu thuật trung bình ngắn gọn 36 ± 10,2 phút, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mô hình phẫu thuật trong ngày.
  • Đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng ngoại khoa xâm lấn tối thiểu tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2021 - 2025; các cơ sở y tế cần tích cực cập nhật và triển khai rộng rãi quy trình kỹ thuật chuẩn này để nâng cao chất lượng điều trị cho cộng đồng.