CHƯƠNG 1: TỔNG QƯAN 1. Một số quan niệm VỂ cõng bàng trong chũm sóc sức khôi Hiện nay trèn thè giới có nhiều quan niệm vé công bàng irong châm sóc sức khoè nhưng chú yếu có 2 trường phá] chính ụ trưètig phái châu Âu và trường phái Mỹ với 2 cách liếp cạn khác nhau Ị47J|4BJ. Theo Irướng phái châu Âu, cõng bàng trong CSSK có nghĩa lù viẹc cưng cap các dịch vụ y Lê phái dựa theo nhu cầu VẺ CSSK của người dan và thanh toán chi phí KCB dựa theo khả nấng chi trà, không dưa vào DVYT mà họ dã sừ dụng. Việc liếp cận vái các dịch vụ y tế là quyền của lất cá mọi người và không chịu ánh hướng của thu nhập.
Đại diện cùa trường phái này là Đan Mạch, Ý. Bồ Đào Nha.lại các nước này y tố nhà nước giữ vai trò chù đạo trong hệ thống y tế. Theo trường phái cùa Mỹ, cóng hàng Lrong châm sóc sức khoe dược hiếu là mọi người dàn dược tự do sừ dụng và chi trà những dịch vụ y tê mà họ muốn. Trường phái này dánh giá củng bàng trẽn cơ sở quan tâm cung cãp những dịch vụ CSSK Lối thiểu cho người nghèo chữ không khuyến khích sự tiếp cận củng bàng với dịch vụ CSSK.
Tuy nhiên, quan niệm vẻ cởng bằng trong chăm sóc sức khoẻ dược nhiều nước, nhiều nhà lập chính sách trỂn thế giới ùng hợ đó là; Công bằng trong CSSK là CSSK phái dược phan phối theo nhu cầu và thanh toán chi phí KCB theo khả năng chi trà. Đáng và Nhà nước Việt Nam cho rang, cõng bằng (rong CSSK không đồng nghĩa với ngang bàng, cào bàng, không có nghĩa là aí có nhu cầu nhìẻu hay ít đểu được chăm sóc như nhau mà là ai có nhu cầu nhiều hơn thì được chăm sóc nhiều hơn. Công bàng có nghĩa là phải ưu ữên cho vùng nghèo , người nghèo, cho các đốt tượng chịu thiệt thòi [10], Theo Đỗ Nguyên Phương, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ dược đo bàng những cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ ban có chất lượng tốt, công bằng trũng CSSK có nghĩa là giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, công bàng trong CSSK luôn gắn với nhu cầư chứ không phái gân với sức mua, với khà năng thanh toán cùa dan cư (32], Thực hiện cõng 5 bảng trong cham sóc sức khoẻ nhân đản trước hết là dám báo cho người dân dược tiếp cặn những dịch vụ châm sóc sức khoé cơ bản có chát lượng tốt, dựa trẽn nhu cầu chăm sóc sức khoe, có chính sách trợ giúp để phát triến các dịch vụ y tẽ ớ nóng thôn, vùng său vùng xa, hỗ trợ cho người nghèo được khám chữa bệnh khi ốm đau. Quan tâm chăm sóc sức khoe cho người nghèo là thực hiện đảm bảo công băng xã hội về mặt sức khoé [28] [32] [34].
Cồng bàng có nghĩa là sự đòi xử. sự dáp ứng theo nhu cầu cùa mỗi người hay mỗi nhóm người, khác vớĩ bình đảng - sự đôi Xừ, sự đáp ứng như nhau giữa các nhóm người hoặc giữa mọi người, dù cho họ có những nhu cầu cao thấp khác nhau [22], Nhu cáu là sự cần thiết được xác định theo những tiêu chuẩn xác dịnh cùa chuyên mởn, còn yêu cầu là nói đến sức mua hay khả năng chi trả các dịch vụ. Nhu cẩu KCB gắn với chuyên môn nghề nghiệp y tế còn sức mưa KCB gán với khái niệm thị trường cung cầu. Tuy người giàu và người nghèo đều có nhu cầu KCB nhưng khả năng chi trả cùa họ lại hoàn toàn khác nhau.
Trong diều kiện hiện nay, có một bộ phận dân cư không đủ khá nâng chí trả song họ vẫn có nhu cẩu KCB thát sự. cỏng bang trong CSSK phải gán với nhu cầu KCB chứ không phải gắn với khả năng chi trà [22], 1. Còng bừng trong CSSK và những yếu tô liên quan Công bằng xã hội nói chung và cõng bang trong chăm sóc sức khoẻ nói riêng luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế và diều kiện xã hội. Tăng trướng kinh tế sẽ có dỉểu kiện để thực hiện công bảng xã hội và cỏng bàng xã hội sẽ giúp cho tăng trường kinh tế tôì hơn.
Tuy nhiên, sự tăng truỏng kinh tè' sẽ kèm theo sự phan hoá giàu nghèo. Và trong quá trinh phát triển, khi nguồn lực của nhà nước chưa đủ để đám bảo cóng bàng xã hội thì chính sự phản hoá giàu nghèo sè làm cho mức độ mất công bàng càng lăng. Vì vây cẩn phải quan tâm đến việc thực hiện cỏng bàng xã hội ngay trong từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trong lĩnh vực châm sóc sức khoẻ, cồng bằng và hiệu quả là hai nội dưng dược đặt song song và không thể tách rời.
Một hộ thống y tế công bằng trước hết phải ỉà một hệ thống y tế thực hiên được những yêu cầu chilm sóc sức khoé nhan dân 6 một cách hiệu quả nhài và tiết kiệm nhất, ngược lại, một hệ thống y tế hiệu quá trước hết phái đáp ứng dược nhu cẩu chăm sóc sức khoe cùa du số nhân dàn - tức là phãĩ mang tính công bàng [10]. Thực hiện cỏng bàng trong chàm sóc sức khoe nhân dún có liên quan đến rất nhiêu yêu tố khách quan như vị trí dịa ỉý, tình trạng kinh té xã hội, đặc điểm dân tộc. giới lính cùa dân cư.song, cồng bằng trong chăm sóc sức khoè nhân dân phụ thuộc rất nhiểu vào chính sách mà trước hết là chính sách y tẽ' phải tạo điểu kiên thuận lọi về dịa lý và kinh tế để người dân được tiếp cận với dịch vụ phòng bệnh và châm sóc sức khoé thiết yếu và phải có chính sách công bang về tài chính trong chăm sóc sức khoẻ nhàm dám bâo cho mọi người dán khi đau ốm deu có khả năng chi trả phí KCB [10]. Để đám bào công bảng vể tài chính trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhà nước cần phái cỏ nguồn kinh phí thoà đáng dành cho y tê' và phải có chính sách và biện pháp hữu hiệu để tổ chức cho nhân dản có the chì trả phần còn lại [21].
Hầu hết các nước trên thê giới, y tế và giáo dục là 2 lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bán được Nhà nước quan tâm đâu lư. Một sô' người cho ràng y tế là một ngành không tạo ra sản phẩm kinh tế, vì thê đầu tư cho y tế ít mang lại lợi nhuận. Đỏ là quan điểm hoàn toàn sai lầm. Đầu tư cho y tê' phái được coi là đàu tư cơ bản cho con người, cho phát triển kinh tế.
xã hội nôi chung. Tăng cường đầu tư cho y tè cùa Nhà nước sẽ góp phần đảm bảo cung căp đầy đù hơn những dịch vụ y tê' cơ bản cho người dân, tâng đầu tư cho y tế sẽ giúp cho Chính phủ có những chính sách hướng vể người nghèo, vùng nghèo nhiéu hơn. đảm bào công bằng trong CSSK. Trong khi Nhà nước chưa thể đủ kinh phí chi trả cho y tê' thì việc người dân phải chi trả một phần cho các dịch vụ y tế, nhất ỉà các dịch vụ y tế luyến Irẻn là điều cần thiết.
Tuy nhiên, điểu quan trọng là Nhà nước phải có biện pháp tổ chức lỏì đê người dản có nguồn chí trâ cho y lé khi cần thiết, Iránh những tác dộng gây đới nghèo do y tê. Hệ thông tài chính công bàng là hệ thống có sư hỗ trợ lẫn nhau trong xã hội về CSSK, có sự chia sẻ gánh nặng lài chính y tế mội cách bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, giữa người khoe mạnh và không khoẻ mạnh, mà biện pháp hiệu quá 7 nhiìt là thòng qua các hình thức chi trả trước như BHYT, qưỹ CSSK-Các nghiên cứu trẽn thê giới cũng chi ra rãng, chi phí cao cho y tế trực tiếp từ tiển túi cứa người dân là một trong những nguyên nhân chu yếu dẫn đến đói nghèo và bất bình đảng. Điểu đó cũng lý giãi lại sao Tổ chức Y tê thế giới xếp Việt Nam là một trong những nước bát bình đảng nhát về cõng bằng trong chi tièu y té (187/191 nước) khi tạị Việt Nam chi tiêu công cho y tê' chi chiếm khoảng 20% tổng chi cho y tê còn chi tiêu tư chiếm dến 80% [10], Chi phí cao cho y tế là nguyên nhãn dẫn dến dõi nghèo và bất bình đảng. Việc tùng chi liêu cho y tế bảng tiền túi dà làm cho rất nhiểu gia đình rơi vào cảnh nghèo đói hoặc đã nghèo lại càng nghèo hơn.
Tình trạng này được gọi là "bẫy đói nghèo do y te'Chi phí cho y tê cao đã khiến cho nhiều gia đình khi có người đau ốm không thể dê'n cơ sở KCB vì không có đủ tiền diều trị hoặc đi lại. Tại một sô' vùng nông thôn An Độ có ỉ 7% những người được hỏi cho biết, trong trường hợp ôm đau họ không tìm đến dịch vụ CSSK và hơn một phần tư là do nguyên nhân tài chính. Việc áp dụng phí cao đỏi với người SỪ dụng đã dẫn đến sự suy giảm khâ năng tiếp cặn dịch vụ y tê, người nghèo thường trì hoãn việc lìm kiếm các dịch vụ CSSK và sự trì hoãn này thường khiên cho họ phải chịu mức phí cao hơn. Đối với người nghèo, sức khoẻ kém đĩ và chi phí cao hơn là tác động kép gây nên sự bất công bằng trong lĩnh vực V tè'[19].
Chi phí y tế cao cũng là nguyên nhãn dẫn đến sự nghèo đói và bẩn cùng lâu dài, chi phí cho y tê' là khoán chi bắt buộc khi bị đau ốm. hầu hết mọi người đều có gang hết khả nâng để tìm đủ kinh phí chi trả cho những dịch vụ này thậm chí họ phải vay nợ, bán tư liệu sàn xuất, cho con cái thôi học. Nhiều bệnh nhân nghèo cố gắng chi trả phí y tế thậm chí ngay cả khi họ phải doi mật với nguy cơ mất lài sản và vì vậy trờ nén nghèo đói hơn. Trước đày, người ta coi sự chi trả của các nhóm người nghèo cho chăm sóc sức khoẻ như là bàng chứng của sự sấn sàng chi trà.
Tuy nhiên, việc chi trả ngày càng rõ ràng là không đổng nghĩa với khà năng chi trả, rất nhiẻu người nghèo không có khá năng chi trả nhưng họ vẫn phài thanh toán khoản chi phí lớn đối vớì bản thản và gia đình [19]. Quá trình thưc hiện cõng bâng trong CSSK tại Việt Nam Trong những năm qua, Đáng và Nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm chi đạo công tác báo vệ và chăm sóc sức khoé nhản dủn, nhiều vãn bản chiến lược, chính sách quan trọng đã được ban hành nhầm đảm bảo cho mọi người dân đều được hường thụ dịch vu CSSK [4][10] [U].