Mở đầu Chương 2. Tổng quan Chương 3. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4. Kết quả và bàn luận Chương 5.
Kết luận và kiến nghị 4 CHƯƠNG 2. Tổng quan về cây ổi rừng 2. Nguồn gốc và phân bố Cây ổi rừng (Psidium littorale Raddi), thuộc ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida và thuộc họ sim (Myrtaceae), khoảng 150 loài, phổ biến rộng rãi ở châu Mỹ nhiệt đới. Chi Psidium bao gồm khoảng 150 loài cây gỗ nhỏ và cây bụi, trong đó chỉ có 20 loài cho quả ăn được và phần còn lại mọc tự nhiên với chất lượng quả kém hơn.
Psidium littorale Raddi và tất cả các bộ phận của nó đều có lịch sử lâu đời về giá trị y học (Naseer và cộng sự, 2018). Người Hawaii gọi nó là ổi hoặc kuawa. Ở Guam, đó là abas. Ở Malaysia, nó thường được gọi là ổi hoặc jambu batu (Morton, 1987).
Nó thường được sử dụng theo truyền thống như một cây thuốc để chữa trị một số bệnh. Ổi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Tên tiếng Anh ổi có lẽ xuất phát từ tên Haiti, guajaba. Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đã mang ổi đến Philippines và người Bồ Đào Nha đã phổ biến nó từ Philippines đến Ấn Độ.
Sau đó, nó lan truyền dễ dàng và nhanh chóng khắp các vùng nhiệt đới nhờ có nhiều hạt giống với khả năng tồn tại lâu dài (Nakasone và cộng sự, 1998).1 Cây ổi rừng Cây ổi đã lan rộng khắp vùng nhiệt đới vì chúng phát triển tốt trên nhiều loại đất, dễ nhân giống và nhanh ra trái. Quả ổi được chim và khỉ thưởng thức, chúng phát tán hạt ổi và khiến những cây ổi non tự phát mọc khắp rừng nhiệt đới (Wealth of India, 2003). Ổi rừng là cây ưa sáng, sinh trưởng phát triển tốt trong một giới hạn rộng của vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giới hạn về nhiệt độ từ 15 – 45oC, nhưng nhiệt độ tốt cho cây 5 sinh trưởng và cho nhiều quả là từ 23 – 28oC.
Cây có thể chịu được hạn, song điều kiện quá ẩm ướt, thường xuyên có sương mù làm cho cây ra hoa, kết quả kém. Ở Việt Nam, ổi mọc hoang ở khắp các vùng núi như Đăk Lăk, Hà Giang, Quảng Ngãi, … trừ vùng cao trên 1500m. Đặc điểm thực vật Ổi rừng là cây gỗ nhỏ cao 10 m, vỏ mỏng, nhẵn, loang lổ, bong tróc. Tán cây dạng lan rộng hoặc thẳng đứng.
Thân cây nhỏ, các thân đơn phân nhiều cành. Lá có cuống ngắn, phiến lá hình bầu dục, có gân lông chim nổi rõ, dài 5–15 cm, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Hầu hết các nhánh của nó đều cong, hiển thị các lá đối diện với các cuống lá nhỏ khoảng 3 đến 16 cm. Lá rộng và có màu xanh trong, có các đường gân rõ và nổi rõ.
So với các lá của một số giống ổi khác, lá ổi rừng thường dài hơn. Hoa hơi sặc sỡ, cánh hoa màu trắng dài tới 2 cm, nhị nhiều (Stone, 1970). Cây ra hoa màu trắng cánh hoa cong có mùi thơm dịu. Hoa có bốn đến sáu cánh hoa và bao phấn màu vàng và sự thụ phấn xảy ra nhờ côn trùng.
Quả ổi có đường kính tròn và thường cho trái nhỏ hơn những loại ổi khác. Bên trong ruột màu trắng, vàng hoặc đỏ. Quả khi chín có vị chua ngọt hoặc ngọt và có mùi thơm đặc trưng. Thành phần hóa học của lá ổi Trong lá ổi có chứa nhiều thành phần như polysaccharide, tinh dầu, triterpenes, tannins, kaempferol và một số hợp chất có giá trị khác như flavonoids, malic acid, gallic acid, chlorophyll, các muối khoáng.74% carbohydrate, 103mg acid ascorbic và 1717mg đương lượng acid gallic (GAE)/g tổng số hợp chất phenolic (Shabbir H và cộng sự, 2020).
Trong lá ổi non hay những 6 ngọn búp non của lá ổi có chứa khoảng 3% nhựa và 7-10% là tanin (Shabbir H và cộng sự, 2020). Polysaccharides là các đại phân tử có mặt khắp nơi trong tự nhiên. Chúng được tạo thành từ các chuỗi polyme dài, bao gồm các đơn vị monosaccharide. Các polysaccharides này thể hiện các đặc tính hóa lý, sinh học và dược lý khác nhau của lá ổi, các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm, chữa bệnh tiểu đường, điều hòa miễn dịch và chống ung thư (Luo Y et al, 2019).
Trong lá ổi chứa khoảng 9.13% acid uronic và 64.42% tổng số đường, trong đó 2.24% là đường khử (Kumar và cộng sự, 2021). Polysaccharides trong lá ổi hoạt động như một chất ức chế các hydrolase glycoside như α-glucosidase và α-amylase và do đó ngăn chặn sự giải phóng glucose nhanh chóng từ carbohydrate phức tạp (Zhang Z và cộng sự, 2016). Được sử dụng như một chất thay thế acarbose để kiểm soát bệnh tiểu đường và được xem là một chất phụ gia chống oxy hóa trong thực phẩm (Kumar và cộng sự, 2021). Lá ổi là nguồn cung cấp khoáng chất dồi dào như canxi, kali, lưu huỳnh, natri, sắt, bo, magie, mangan, vitamin C và B.
Nồng độ cao hơn của Mg, Na, S, Mn và B trong lá ổi là một lựa chọn rất phù hợp cho dinh dưỡng của con người và cũng là thức ăn chăn nuôi để ngăn ngừa tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng. Tỉ lệ của các khoáng chất như Ca, P, K, Fe và Mg lần lượt là 1660, 360, 1602, 13.50 và 440mg trên 100g trọng lượng khô của lá ổi. Hàm lượng vitamin C và B lần lượt là 103 và 14.80mg trên 100g trọng lượng khô (Thomas và cộng sự, 2017). Tinh dầu có trong lá ổi chứa α-pinene, limonene, β-pinene, rượu isopropyl, tinh dầu bạc hà, terpinyl acetate, caryophyllene, longicyclene và β-bisabolene.
Acid oleanolic cũng được tìm thấy trong lá ổi (Begum và cộng sự, 2004). Lá có hàm lượng limonene cao khoảng 42.1% và caryophyllene khoảng 21. Lá ổi chứa nhiều hợp chất dễ bay hơi. Trong số đó, caryophyllene (24.97%) được tìm thấy chiếm ưu thế, hoạt động như một chất chống oxy hóa, chống ung thư, chống viêm và kháng khuẩn (Kumar và cộng sự, 2021).
Các chất chuyển hóa thứ cấp khác nhau có trong lá ổi bao gồm acid phenolic, flavonoid, triterpenoid, sesquiterpene, glycoside, alkaloid và saponin. Các hợp chất phenolic đóng vai trò là các hợp chất hoạt tính sinh học quan trọng cung cấp các đặc tính chống oxy hóa và hạ đường huyết cho lá ổi (Kumar và cộng sự, 2021). Các polyphenol và flavonoid từ trái cây và rau quả đã thu hút được sự chú ý đáng kể do có nhiều hoạt động trị liệu (Abbas và cộng sự, 2016). Các hợp chất hoạt tính sinh học từ các nguồn thực vật, đặc biệt là polyphenol đã được đề xuất là có ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa glucose.
Polyphenol đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường bằng cách ức chế sự hấp thu glucose từ ruột non, tăng cường bài tiết insulin và giải phóng glucose từ gan có kiểm soát (Zhu và cộng sự, 2020). Flavonoid 7 chịu trách nhiệm cho các hoạt động trị liệu của chúng; phần lớn hoạt tính chữa bệnh và hoạt tính kháng khuẩn của ổi là do các hợp chất flavonoid này (Zhu và cộng sự, 2020). Tổng quan về polyphenol trong lá ổi Polyphenol là hợp chất tự nhiên có trong trái cây và rau quả, ngày càng được quan tâm nhiều hơn do hiệu quả điều trị và tiềm năng công nghệ của chúng (Farias và cộng sự, 2020). Polyphenol là một nhóm không đồng nhất của các chất chuyển hóa thứ cấp được sinh tổng hợp từ con đường pentose phosphate, shikimate và phenylpropanoid (Farias và cộng sự, 2020).
Tác dụng sinh học của chúng chủ yếu là do khả năng cô lập hoặc ức chế các loại oxy và nitơ phản ứng, chuyển điện tử thành các gốc tự do, ngoài ra còn kích hoạt các enzyme chống oxy hóa, cải thiện tình trạng mất cân bằng oxy hóa, cho thấy tác dụng trong việc ngăn ngừa các bệnh khác nhau như bệnh tiểu đường, béo phì, ung thư, bệnh tim mạch, loãng xương, bệnh thoái hóa thần kinh và một số bệnh khác. Một số hợp chất polyphenolic, anthocyanin được chứng minh nhiều nhất, có liên quan đến cả việc ngăn ngừa và quản lý bệnh tiểu đường loại 2 thông qua việc bảo vệ các tế bào beta khỏi độc tính của glucose, tác dụng chống viêm và chống oxy hóa, làm chậm quá trình tiêu hóa tinh bột, điều hòa và thay đổi quá trình vận chuyển glucose, dẫn đến kiểm soát đường huyết tốt hơn Các nghiên cứu đã cho thấy sự hiện diện của acid gallic, acid tannic, rutin, acid chlorogenic, avicularin, isoquercitrin, quercetin và kaempferol trong các mẫu lá ổi. Trong số đó, quercetin, rutin, acid gallic, avicularin và isoquercitrin chiếm khoảng 65% (Wang và cộng sự, 2017). Một nghiên cứu khác cho thấy nồng độ catechin (2.45%) cao hơn, trong khi acid gallic, acid chlorogenic, quercetin, acid caffeic và epigallocatechin gallate có ở nồng độ thấp hơn trong chiết xuất lá ổi (Liu và cộng sự, 2014).
Ngoài ra, các hợp chất phenolic (eugenol và isoeugenol) và alkaloid (cevadine và emetine) cũng đã được phát hiện (Díaz-de-Cerio và cộng sự, 2017). Các hợp chất phenolic có trong chiết xuất lá ổi (Kumar và cộng sự, 2021) 2. Hoạt tính sinh học Lá ổi được ghi nhận là một nguồn hợp chất tự nhiên luôn sẵn có. Dịch chiết lá ổi đã được nghiên cứu rộng rãi và chứng minh có tính chất chất chống oxy hóa, chống bệnh tiểu đường, hạ đường huyết và các hoạt động sinh học khác.
Sự hiện diện phong phú của khoáng chất và protein, cũng như vitamin trong lá ổi thúc đẩy việc sử dụng chúng như một nguồn dinh dưỡng trực tiếp. Sự có mặt của nhiều hợp chất hóa học trong lá ổi đã được báo cáo để tăng cường và ổn định các chức năng sinh lý và trao đổi chất khác nhau trong cơ thể con người. Ngăn ngừa bệnh tiểu đường Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường đã tăng từ 151 triệu người năm 2000 lên 463 triệu người vào năm 2019, với 4.2 triệu ca tử vong ước tính vào năm 2019 và hơn 700 triệu người sẽ mắc bệnh tiểu đường trên toàn thế giới vào năm 2045. Có nhiều nghiên cứu liên quan đến tác dụng của các chất hóa học thực vật, chẳng hạn như flavonoid, đối với bệnh tiểu đường (Narendhirakannan và cộng sự, 2006).
Polyphenol ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa tinh bột thông qua tương tác với α-amylase và tăng lên sau khi tiêu hóa trong ống nghiệm. α-amylase có trong nước bọt và ruột non và xúc tác quá trình tiêu hoá tinh bột thành glucose (Sun và cộng sự, 2017). Polyphenol tương tác với α-amylase chủ yếu thông qua liên kết hydro giữa các nhóm hydroxyl và trung tâm 9 hoạt động của enzyme, thông qua các tương tác kỵ nước giữa các gốc thơm của polyphenol và enzyme (Sun và cộng sự, 2017). Các nghiên cứu về hóa chất thực vật đã xác định được hơn 20 hợp chất trong chiết xuất từ quả ổi (Begum và cộng sự, 2004).