mở đầu của ngành Lý số học sơ khai. Đời Tống sơ, thể kỷ 10, Nho gia, Đạo gia Trần Đoàn có tự là Đồ Nam, hiệu Hi Di tiên sinh, vì tinh thông Lý số học nên ông tổng hợp các kiến giả về Lý Thái Cực, quan sát và suy xét về sự vận hành của trái đất, vạn vật và áp dụng Nhân Tướng 9 học, Lý số và Tướng số học để giải thích và tiên đoán về tính cách, vận số của con người, và cũng từ đó, quan niệm âm dương, ngũ hành trở thành một nội dụng không thể thiếu trong tướng thuật. Nhiều người nhà Hán cho rằng người có công sáng tạo triết lý âm dương là Phục Hy, một số người khác lại nói đó là công lao của giáo phái “Âm dương gia”. Thế nhưng Phục Hy là nhân vật không có thật, âm dương gia lại được hình thành trong thế kỷ thứ 3, rất muộn so với sự ra đời của triết lý âm dương nên đây là những giả thuyết không có cơ sở khoa học.1 Cũng có những nghiên cứu khoa học liên ngành Trung Quốc và Việt Nam đưa ra kết luận “khái niệm âm dương có nguồn gốc từ phương Nam”.
Trong chiều dài phát triển, Trung Quốc có hai thời kỳ: Thời kỳ mở rộng Trung Quốc từ thượng lưu ở phía tây xuống hạ lưu phía đông sông Hoàng Had, gọi là thời kỳ “Đông Tiến”. Thời kỳ mở rộng từ khu vực phía Bắc sông Hoàng Hà đến phía nam sông Dương Tử gọi là thời kì “Nam Tiến”. Người Hán đã tiếp cận được triết lý âm dương của cư dân phương Nam, rồi phát triển triết lý này theo khả năng phân tích của những người du mục. Từ đây, làm cho triết lý này dần đạt đến độ hoàn thiện và tác động ngược trở lại cư dân phương Nam.
Bởi mối quan tâm hàng đầu của cư dân phương Nam, nơi sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp đó là sự sinh trưởng của hoa màu, cây côi và loài người. Sự sinh sản ấy dựa trên hai cặp yếu tố: “cha, mẹ”, “nữ, nam”, “đất, trời”… Đây là những khái quát đầu tiên của triết lý âm dương. Thời Chiến Quốc, âm dương, ngũ hành đã rất phát triển và phổ biến trong đời sống hàng ngày, nổi bật nhất phải kể đến linh vực khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, khi lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, triết lý âm dương, ngũ hành 1 Trần Thị Huyền (2012); Học thuyết âm dương ngũ hành 10 cùng các học thuyết triết học đã bị hạn chế lại theo lịch sử đương thời chưa đủ điều kiện.
Thời điểm đó, những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại chưa liên kết được sự phát triển của các triết lý âm dương, triết lý này vẫn mang đậm tính trực giác và kinh nghiệm. Dù triết lý về âm dương, ngũ hành rất khó, thậm chí là không thể truy xuất được nguồn gốc vì đã trải qua hàng ngàn năm nhưng đến nay, triết lý này vẫn mang đến những tư duy duy vật rất độc đáo và sâu sắc. Triết lý âm dương trở thành lý luận cho nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học khác nhau như: y học cổ truyền, tâm linh học, kiến trúc, nghệ thuật, ẩm thực… 1.2 Nội dung triết lý Âm Dương 1.1 Khái niệm “ Âm một phạm trù đối lập với dương phản ánh những yếu tố (sự vật hiện tượng, tính chất, quan hệ.) và khuynh hướng yếu mềm như: biểu lộ của đất, nữ, mẹ, vợ, nhu, thuận, yếu, bóng tối, đêm, mặt trăng, mềm mại, thụ động, lạnh, tính trầm, màu đen , ẩm, phía dưới, số chẵn, tĩnh, tiêu cực,…… Thực phẩm có tính âm thường đắng hoặc mặn, có nhiều nước hơn, màu xanh hoặc màu lạnh. Ngoài ra, các cách chế biến khác nhau cũng mang thuộc tính âm hoặc dương.
Khi thức ăn được luộc và hấp cũng có thuộc tính âm.”2 “Dương là một phạm trù đối lập với âm, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ. ) và khuynh hướng thuộc tính mạnh như: giống đực, trời, cha, vua chúa, bề trên, chồng, ánh sáng, ban ngày, sang trọng, sức nóng, năng lượng, sức mạnh, khô, phía trên, số lẻ, động, tích cực, màu trắng, sự chuyển động mạnh mẽ, bằng phẳng, náo nhiệt, hưng phấn,… Trong thực phẩm tính dương thường ngọt, cay và dậy mùi, với màu sắc ấm như đỏ hoặc cam. Chúng thường khô và có nguồn gốc từ đất, như khoai tây, đu đủ, ớt và thịt cừu. Khi thức ăn được chiên có thuộc tính là dương.”3 2 Trần Thị Huyền (2012); Học thuyết âm dương ngũ hành 3 Trần Thị Huyền (2012); Học thuyết âm dương ngũ hành 11 Người Trung Quốc cho rằng, vạn vật đều được tạo thành từ âm và dương, bên trong vạn vật luôn có sự tác động lẫn nhau giữa hai mặt đối lập.
Mọi điều bất ổn xảy ra do mất cân bằng âm và dương. Âm và dương phản ánh hai loại lực đối lập, không tách rời, luôn có tác động qua lại nhau. Vừa mang tính thống nhất, trong lực này có lực kia, vừa tác động, chuyển hóa lẫn nhau, dương thịnh thì âm suy, dương suy thì âm thịnh… Âm dương là hai thuộc tính trái ngược nhau, nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích giện thượng muốn biến hóa phát triển thì phải có mâu thuẫn.
Trong vũ trụ, mọi thứ đều có tính chất tương tự nhau. Nói như thế này, "Nếu không có âm thì không thể có dương, và ngược lại." Nếu chỉ có một trong hai, thì không thể tồn tại hay thay đổi, "âm thì không thể thiếu dương và ngược lại." Âm và dương phải phối hợp với nhau để duy trì sự tồn tại của chúng. Khái niệm "âm dương" cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì trong dương luôn có âm và trong âm luôn có dương. Khi dương phát triển đến thái dương, nó cũng đồng thời xuất hiện sự thiếu hụt của âm.
Tương tự, khi âm phát triển đến thái âm, nó cũng đồng thời xuất hiện sự thiếu hụt của dương. Âm và dương luôn phụ thuộc lẫn nhau. Như Lão Tử đã viết, "Phúc là chỗ núp của họa, Họa chỗ dựa của phúc." Cổ Đông phương học cho rằng âm - dương là quy luật tồn tại của trời đất, là cốt lõi của tất cả các loài, và là nguồn gốc của sự tiến hóa, phát triển cũng như diệt vong. Học thuyết này được đề cập trong nhiều tác phẩm và lĩnh vực triết học và Đông y học cổ truyền.
Học thuyết cho rằng mọi sự vật đều có hai mặt tương phản nhưng lại hội tụ về một điểm, và chúng là nguồn gốc của nhau. Hai mặt đó được tóm gọn thành âm và dương. Lúc đầu học thuyết này thể hiện tư tưởng triết học, sau đó được vận dụng rộng rãi trong các ngành: Thiên văn, Lịch sử, Nông học, Toán học, Vật lý, Y học. Trong cơ thể con người, âm – dương là bản thể của những cơ năng về sinh mạng (phần rõ) và tâm linh (phần mờ).
Âm nương theo dương mà SINH, dương tựa theo âm mà HÓA. Hai mặt nương tựa nhau để TƯƠNG SINH. Mọi sự mất quân 12 bình đều là đầu mối của bệnh tật. Quy luật biến hóa của mọi sự vật là quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già đi, diệt vong và chuyển hóa thành vật chất khác.
Trong đó, âm đại diện cho vật chất, dương đại diện cho chức năng. Sự đối lập, khống chế, nương tựa và chuyển hóa giữa âm và dương là nguồn gốc phát sinh, phát triển, biến hóa của mọi sự vật. Khi quan hệ đó bị vi phạm, phá vỡ thì mọi vận động, phát triển sẽ không bình thường, trở nên rối loạn: Trong vũ trụ sẽ sinh ra thiên tai, mất mùa. Nơi con người sẽ xuất hiện bệnh tật, tội ác, sự đê mạt, chém giết lẫn nhau.
Hai thế lực âm dương tồn tại thống nhất, chế ước lẫn nhau chứ không biệt lập, tuân theo nguyên lý: - “Âm dương thông nhất thành thái cực. Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi. - Trong âm có dương, trong dương có âm.
Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi âm dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.” Người ta dùng vòng tròn khép kín, có hai hình đen trắng tượng trưng cho âm dương, tuy tách biệt, đối lập nhưng ôm xoắn lấy nhau.2 Hai quy luật của triết lý Âm Dương ➢ Quy luật về thành tố: “Không có cái gì hoàn toàn dương hay hoàn toàn âm. Trong dương có âm và trong âm có dương.” 5 Ví dụ: mưa là âm, nắng là dương, trong mưa và trong nắng sẽ luôn có nhau. Vì khi nắng nóng bốc hơi tạo thành mưa, và nắng lại xuất hiện khi hết mưa. Việc xác định âm dương chỉ luôn ở mức tương đối.
Nội dung cơ bản tư tưởng triết học Âm dương – Ngũ hành, (2007). Các quy luật của triết lý âm và dương [online], truy cập 12/3/2023, từ: <tusach. Các quy luật của triết lý âm và dương [online], truy cập 12/3/2023, từ: <tusach.com> 13 “Trái cà là âm so với ớt nhưng sẽ là dương hơn so với trái dừa. Khi đặt vật thể vào những ngữ cảnh khác nhau, quan hệ so sánh khác, bản chất âm dương của chúng cũng có thể thay đổi.
Trái chanh âm hơn so với trái táo nhưng khi ngâm trong muối vài năm làm chanh muối thì dương hơn trái táo.” Để có cơ sở phân biệt âm dương, ta cần xác định đối tượng so sánh: “Ví dụ như so sánh giữa nam, nữ và con hổ. Nam và nữ thì nam là dương còn nữ là âm. Nam và con hổ thì nam là âm mà con hổ là dương. Đây lại mang tính tương đối, không có qui luật gì cả” Phải xác định được cơ sở dùng để so sánh: cùng một cặp đối tượng nhưng cơ sở so sánh khác nhau thì kết quả khác nhau.
“Ví dụ: khi xét về sức mạnh thì nam là dương và nữ là âm. Khi xét về tính cách, sự chịu đựng, mềm mỏng thì nam là âm còn nữ là dương. Khi xét về độ cứng thì đất là dương còn nước là âm Xét về tính linh động thì nước là dương còn đất là âm…” ➢ Quy luật về quan hệ: Âm dương luôn có mối liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác lẫn nhau. Âm sinh ra khi dương cực, âm lùi lại khi dương tiến, âm suy giảm khi dương thịnh, và ngược lại.
6 Những quy luật cơ bản của âm dương thể hiện sự mâu thuẫn và thống nhất, sự vận động và phát triển của vật chất. Vũ trụ biến đổi nhờ sự tương tác của âm dương, và sự giao cảm giữa chúng là điều kiện cần để thực hiện sự tương tác đó.