CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung về phụ phẩm gốc măng tây 1.1 Nguồn gốc cây măng tây Măng tây có tên khoa học là Asparagus officinalis L. là một thành viên của họ Liliaceae có nguồn gốc được cho là ở phía đông Địa Trung Hải và xa hơn về phía đông, trong dãy núi Caucasus. Đây là cây lâu năm, một lá mầm, được trồng để lấyphần ngọn ăn được. Phần này được gọi là phần măng hay ngọn.
Măng tây được tiêu thụ như một loại rau theo mùa và được đánh giá cao về hương vị thơm ngon, hàm lượng năng lượng thấp và chất lượng dinh dưỡng cao. Phân loại khoa học: Giới (regnum) Plantae Bộ (ordo) Asparagales Họ (familia) Asparagaceae Chi (genus) Asparagus Loài (species) A. officinalisis Măng tây được chia thành hai nhóm chính là măng tây xanh và măng tây trắng. Theo quan điểm thực vật học, măng tây trắng và xanh là cùng một loại cây.
Sự khác biệt giữa chúng là cách mọc ngọn của chúng. Thân cây ăn được có màu trắng khi chúng mọc dưới đất, nhưng khi chúng mọc lên và tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời, chúng có màu xanh nhờ chức năng của chất diệp lục [3]. Ngoài ra, một giống ít phổ biến hơn là măng tây tím cũng đã được phát hiện và đánh giá có hàm lượng anthocyanins và hoạt động chống oxy hóa nhiều hơn [4]. Tại Việt Nam, măng tây được du nhập về trồng từ năm 1960 được xem là cây trồng có giá trị kinh tế cao.
Hiện tại, măng tây được trồng phổ biến ở nhiều nơi cho năng suất và sản lượng lớn. măng tây dần trở thành dạng thực phẩm, rau ăn quen thuộc tại Việt Nam. 2 Trần Thị Mai LUẬN VĂN THẠC SĨ 1.2 Phụ phẩm gốc măng tây Phụ phẩm măng tây bao gồm các phần bị loại bỏ của ngọn măng tây sau quá trình thu hoạch, chế biến thực phẩm. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, phần phụ phẩm này rất giàu hàm lượng chất xơ, hoạt chất sinh học và khả năng kháng oxy hóa tương tự như phần thân, ngọn non có thể ăn được (Hình 1.1 Cây măng tây và các phần phụ phẩm của nó, (a) Cây măng tây; (b) Phần thân măng gồm (b1) Phần ngọn non, (b2) phần thân cứng; (c) phần gốc và rễ; (d) Phụ phẩm gồm phần gốc trắng và thân cứng được loại bỏ trong quá trình thu hoạch trước khi xuất ra thị trường.1 Phương pháp thu nhận Phụ phẩm gốc măng tây được thu nhận từ quá trình thu hoạch, sơ chế và làm sạch măng tây trước khi được đóng gói và xuất đi dưới dạng rau thực phẩm.
Phần gốc này 3 Trần Thị Mai LUẬN VĂN THẠC SĨ được thu hoạch là do người nông dân cần nhổ phần thân măng sâu tận gốc, tránh chừa lại phần gốc dưới mặt đất gây úng, thối gốc tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển gây hại cho cây măng [5]. Phần gốc cứng này sẽ được người nông dân cắt và loại bỏ trong quá trình sơ chế làm sạch.2 Thành phần hóa học Măng tây chứa nhiều nước (92-93 %). Hàm lượng protein chỉ chiếm khoảng 2% khối lượng tươi, rất giàu asparagin. Măng tây là nguồn cung cấp dồi các các chất vi lượng như vitamin, nhất là vitamin B và khoáng chất như canxi, sắt, magiê, mangan, kẽm, phốt pho và crom.
Ngoài ra, măng tây cũng là nguồn cung cấp chất xơ cho cơ thể [2] [6]. Thành phần hóa học cơ bản của măng tây, theo thông tin từ bộ nông nghiệp hoa kỳ được liệt kê trong Bảng 1. Nguồn Chitrakar và cộng sự [2] Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng cơ bản của măng tây Thành phần Giá trị/ 100g tươi Năng lượng 20 kcal Carbohydrate 3.2 g Độ ẩm của nguyên liệu thường liên quan đến độ tươi và sẽ giảm theo thứ tự của thân mềm, thân già, ngọn măng và lá. Ở phần thân và ngọn mềm có hàm lượng protein, đường tổng số và đường khử tương đối cao hơn, trong khi hàm lượng chất xơ cao hơn ở thân già và lá măng Bảng 1.2 Thành phần hóa học cơ bản các phần khác nhau của măng tây Ngọn măng Thân mềm Thân cây già Lá cây Các thành phần (%) (%) (%) (%) Độ ẩm mẫu tươi 88,77 93,58 91.4 Xơ thô 0,6 0,3 1,8 1,4 Tổng lượng đường 7.3 Hoạt chất sinh học Không chỉ được biết đến như một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng mà măng tây còn được xem là một loại thảo dược với những hoạt chất sinh học cũng như tác động dược tính đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu.
Các hợp chất hoạt tính sinh học được tìm thấy trong cây ngọn măng tây có tác dụng hữu ích đối với sức khỏe con người. Có nhiều tài liệu công bố trong măng tây chứa các hợp chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa bệnh ung thư, phòng chống bệnh tăng huyết áp, tăng đường huyết, rối loạn lipid máu [8]. Các chất có hoạt tính sinh học trong măng tây bao gồm các polyphenols (phenolic acid, flavonoid và hydroxycinnamates), chất xơ, saponin, acid ascorbic và fructooligosaccharides [3]. Tuy nhiên, các hoạt chất sinh học này dễ bị biến đổi trong quá trình bảo quản và chế biến trước khi tiêu thụ sản phẩm.
- Chất xơ Măng tây được biết đến là nguồn thực phẩm giàu chất xơ, đặc biệt là chất xơ không hòa tan, giúp hỗ trợ tốt cho hệ tiêu hóa. Wang và cộng sự năm 2016 đã báo cáo rằng chất xơ từ măng tây có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường một cách hiệu quả [9]. Khả năng giữ dầu và chỉ số khối thẩm tách glucose của chất xơ từ măng tây khá cao, do đó bột chất xơ từ măng tây có tiềm năng ứng dụng tốt trong sản xuất sản phẩm giảm béo [10]. 5 Trần Thị Mai LUẬN VĂN THẠC SĨ - Polysaccharid Polysaccharides có trong măng tây có nhiều hoạt động sinh lý và đã được nghiên cứu rộng rãi [11, 12].
Hàm lượng polysaccharide của măng tây là 3,1% trọng lượng trong điều kiện tối ưu [13]. Các polysaccharid thô của măng tây sau khi khử protein cho thấy có hoạt tính chống oxy hóa và kháng u trên tế bào gan (BEL-7404) và trên tế bào cổ tử cung của người (Hela) với tỷ lệ ức chế đạt 83,96% ở nồng độ 10 mg / mL [14]. - Polyphenols Măng tây có khoảng 14 loại hợp chất polyphenols, bao gồm rutin, quercetin… [15]. Khảo sát về hoạt tính của các hợp chất phenolic cho thấy khả năng chống oxy hóa, ức chế hình thành hắc tố và hoạt động ức chế tyrosinase của chất chiết xuất từ nước của măng tây xanh ở nồng độ 1,21 mg / mL trong tế bào u ác tính B16 của chuột [16].
Ngoài ra, flavonoid trong măng tây có hoạt tính kháng nấm tốt, có thể ức chế sự phát triển của sợi nấm và sự hình thành của bào tử [17]. Nhóm Eichholz và cộng sự. - Saponin Nghiên cứu của Fuentes-Alventosa và cộng sự trên chiết xuất saponin từ sản phẩm phụ của măng tây với hàm lượng saponin được đo bằng sắc ký lỏng HPLC kết hợp với khối phổ (MS), thay đổi theo nhiệt độ, thời gian và dung môi khác nhau [19]. 6 Trần Thị Mai LUẬN VĂN THẠC SĨ 1.2 Ứng dụng phụ phẩm măng tây trong sản xuất thực phẩm 1.1 Giới thiệu Phụ phẩm nông nghiệp được là các vật liệu hữu cơ bị loại bỏ, được tạo ra từ quá trình chăn nuôi, canh tác hoặc từ quá trình sản xuất, chế biến sản phẩm.
Ở cây măng tây phụ phẩm được trong quá trình cach tác là thân cứng, lá măng tây, rễ măng. Trong quá trình thu hoạch là phần gốc và thân cứng của ngọn măng. Trong quá trình chế biến là những phần gốc, thân bị cứng - xơ trong quá trình bảo quản và chế biến măng tây (Hình 1. Trong nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của quá trình sấy đến hoạt chất sinh học của phần gốc trắng và thân cứng của ngọn măng tây.2 Phụ phẩm măng tây, (a) Lá măng tây; (b) Thân cây cứng; (c) Phần rễ; (d1, d2) Phần gốc trắng và thân cứng, được loại bỏ trong quá trình thu hoạch và sản xuất sản phẩm.2 Ứng dụng dụng phụ phẩm măng tây để sản xuất thực phẩm Cây măng tây được đánh giá là một loại thực phẩm tiềm năng, chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học.
Măng tây chủ yếu được sử dụng để sản xuất dạng đóng hộp hay đông lạnh nhanh. Fuentes-Alventosa và cộng sự cũng đã thử sản xuất bột giàu chất xơ được tạo ra từ các sản phẩm phụ của măng tây cũng cho thấy các hoạt động sinh học tốt [10, 19]. 7 Trần Thị Mai LUẬN VĂN THẠC SĨ Phụ phẩm măng tây được thu nhận từ các phần cứng, già của măng, phần được đánh giá là có hàm lượng chất xơ cao và hoạt tính sinh học, khoáng oxy hóa như phần non ăn được, vì vậy phụ phẩm măng tây chủ yếu được ứng dụng trong thực phẩm bổ sung chất xơ dạng bột nhằm bổ sung vào bánh [20], nước giải khát [21], các dạng trà [22] và các ứng dụng chiết xuất khác. Liu và cộng sự đã bổ sung bột phụ phẩm măng tây vào bánh cracker [20].
Nghiên cứu bổ sung bột phụ phẩm măng tây đông khô, chiết xuất bằng ethanol, nhằm bổ sung vào sữa chua cũng đã cho thấy khả năng cải thiện cấu trúc và độ đồng nhất của sữa chua nhờ vào khả năng giữ nước, giữ dầu của bột măng tây [23]. Một số sản phẩm khác như mì, bánh quy, bánh mì, nước trái cây, trà, súp cũng đã được nghiên cứu bổ sung phụ phẩm măng tây. Zhang và cộng sự đã báo cáo rằng nước trái cây được tạo ra từ sản phẩm phụ của măng tây giàu phenol, flavonoid, saponin và steroid có khả năng chống oxy hóa và hạ đường huyết tiềm năng ở chuột mắc bệnh tiểu đường do streptozotocin gây ra. Sử dụng dịch chiết măng tây có thể cải thiện khả năng dung nạp glucose bị suy giảm ở chuột mắc bệnh tiểu đường [21].
Đánh giá in vitro về nước ép được tạo ra từ sản phẩm phụ của măng tây cho thấy chất chống oxy hóa và chất độc tế bào chống lại các tế bào ung thư, và các hoạt động ức chế α-glucosidase [24]. Một số bản quyền phát minh sáng chế về chế biến và ứng dụng sản phẩm phụ phẩm măng tây cũng đã được ghi nhận. Sản phẩm chế biến nước uống đóng chai lên men từ măng tây năm 2016. Trà măng tây và trà măng tây hun khói năm 2017.
Viên nang bột măng tây giàu hoạt chất và chất xơ năm 2017. Bia từ măng tây và rượu dâu măng tây năm 2017. Bản quyền sản xuất giấm, sữa chua, mì sợi bổ sung măng tây cũng đã được đăng ký 2019 [25]. Ngoài các ứng dụng thực phẩm, phụ phẩm măng tây còn được chiết xuất, ứng dụng trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe, dược phẩm, mỹ phẩm, vật liệu nano cellulose [26].