ĐẶT VẤN ĐỀ .TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nƣớc trên thế giới. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Điện Biên.
ĐỐI TƢỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tƣợng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu chung.
Mục tiêu cụ thể. Nội dung nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu. Kế thừa số liệu.
Phƣơng pháp điều tra ngoại nghiệp. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU18 3. Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lí.
Điều kiện xã hội. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Thành phần loài cây đƣợc sử dụng để làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mƣờng Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên. Thành phần loài cây thuốc.
Dạng sống của cây thuốc. Bộ phân sử dụng. Tình hình phân bố cây thuốc của khu vực nghiên cứu. Phân bố cây thuốc theo sinh cảnh.
Phân bố loài cây theo nhóm cây chữa bệnh. Các bài thuốc chữa trị và tình hình khai thác cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mƣờng Phăng huyện Điện Biên. Bài thuốc chữa cảm cúm, sốt xuất huyết. Bài thuốc chữa bệnh cho phụ nữ.
Bài thuốc chữa xƣơng khớp. Bài thuốc chữa đau dạ dày, viêm ruột. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại xã Mƣờng Phăng huyện Điện Biện tỉnh Điện Biên. Một số thuận lợi và khó khăn tại khu vực nghiên cứu.
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại địa phƣơng32 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ. 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC iii N MỤ ẢN Bảng 4. Các ngành thực vật ở xã Mƣờng Phăng .2: Dạng sống của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu.3: Số lƣợng bộ phận đƣợc sử dụng làm thuốc .4: Số loài theo bộ phận sử dụng .5: Sự phân bố các loài cây theo môi trƣờng sống. Phân bố loài cây theo nhóm chữa bệnh.
28 iv N MỤ ỂU Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ % của các dạng sống của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. Tỷ lệ % của các loài cây thuốc theo bộ phận sử dụng. Sự phân bố của cây thuốc tại các môi trƣờng sống khác nhau tại vùng nghiên cứu. 27 v ẶT VẤN Ề Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa đã tạo cho đất nƣớc Việt Nam một thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng.
Đó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá cung cấp cho con ngƣời mọi nhu cầu thiết yếu phục vụ cuộc sống nhƣ lƣơng thực, thực phẩm, dƣợc liệu và các nguyên liệu khác. Chúng ta ai cũng biết rằng sức khỏe là vốn quý nhất của con ngƣời. Từ thời xa xƣa ông cha chúng ta đã biết cách khai thác dƣợc liệu từ thiên nhiên để làm thuốc chữa bệnh. Mỗi một dân tộc, vùng địa lí khác nhau lại có sự khác biệt về phong tục tập quán, hệ thực vật, kinh nghiệm và kiến thức khác nhau trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh.
Ngày nay thời kì công nghiệp hóa, ô nhiễm môi trƣờng đã ảnh hƣởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng, sự gia tăng bệnh tật ngày một nhiều, nhiều căn bệnh mà y học trong nƣớc cũng nhƣ ngoài nƣớc phải bó tay khi điều trị bằng tây y. Nhƣng một số bài thuốc nam của y học cổ truyền lại chữa khỏi bệnh mà không gây tác dụng phụ. Hơn nữa, do diều kiện kinh tế, không phải phải tất cả mọi ngƣời đều có cơ hội sử dụng các loại thuốc đắt tiền, vì vậy các bài thuốc dân gian và gia truyền đã đảm đƣơng để đảm bảo sức khỏe của ngƣời dân đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng biên giới và đồng bào dân tộc. Nhƣng hiện nay diện tích rừng đang bị thu hẹp dần.
Cùng với đó những kinh nghiệm dân gian đang dần bị lãng quên, vì nhiều lí do nhƣ tính tiện lợi của thuốc Tây, gia truyền hoặc không tìm đƣợc ngƣời tâm huyết với nghề để truyền dạy mà những kiến thức của các ông lang bà mế không đƣợc lƣu truyền rộng rãi. Do đó việc điều tra các loài cây cỏ có giá trị chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian là rất cần thiết. Việc thu thập kinh nghiệm dùng cây cỏchữa bệnh có ý nghĩa về mặt văn hóa truyền thống và nhân văn sâu sắc. Nhƣng việc điều tra thu thập này chƣa đƣợc triển khai đầy đủ nhất là ở miền núi vùng sâu, vùng xa nhƣ ở Điện Biên.
1 Do đó mà tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của các loài cây thuốc được người dân tộc Thái sử dụng tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” nhằm góp phần tìm hiểu về các loài thực vật đƣợc sử dụng làm thuốc, môi trƣờng phân bố làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này. 2 hƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nƣớc trên thế giới. Nền Y học cổ truyền dùng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh đã xuất hiện từ rất sớm ở hầu hết các nơi trên thế giới.
Châu Á nổi bật là hai quốc gia Trung Quốc và Ấn Độ.Vào đầu thế kỷ II, Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh nhƣ: dùng nƣớc chè đặc, rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum); vỏ rễ cây táo tầu (Zizyphus vulgris)…để chữa vết thƣơng, dùng các loại nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái. Trƣơng Trọng Cảnh là một vị thánh trong Đông y vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây 1700 năm, đã viết “Trƣơng hàn tạp bệnh luận” chỉ các bệnh dịch và các bệnh về thời tiết nói chung, đề ra các cách chữa trị bằng thảo dƣợc. Cuốn “Cây thuốc Trung Quốc” (1985) đã liệt kê một danh lục các cây cỏ chữa bệnh nhƣ rễ gấc (Momordica cochimchinensis) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt trị sƣng tấy đau khớp, sốt rét, vết thƣơng tụ máu; Cải Xoang (Rorippa aquaticum (L.)) giải nhiệt chữa lở mồm, chảy máu chân tay, chữa bƣớu cổ, ho, lao…cây Chè (Camellia sinensis) làm hƣng phấn thần kinh, giảm mệt mỏi, kháng trị trực khuẩn; cây Lẩu (Psychotria rubra) toàn thân giã nhỏ làm thuốc chữa gãy xƣơng, tiêu sƣng, rửa mụn nhọt độc. Mới đây trong luận án tiến sĩ của Teddy Yang Tatchi (Hồng Kông) kết luận rằng catechin trong chè xanh chƣa lên men chứa hoạt chất làm giảm lipit trong máu và làm giảm bệnh tim mạch do cholesterol gây ra.
Vào thời Hán (năm 186 TCN) đã liệt kê ra 52 bài cây thuốc chữa bệnh từ các cây cỏ. Lý Thời Trần trong tập “Bản thảo cƣơng mục” đã liệt kê 12000 vị thuốc xuất bản năm 1595 giúp cho việc lƣu truyền cách chữa bệnh bằng cây cỏ tới ngày nay. 3 Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ. Trong bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dƣợc thảo thời kì đó, nhiều loài cây đƣợc xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn nhƣ cây Tráu Nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần của ngƣời Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khỏe) và cây đƣợc trồng gần các đền thờ.
Những công dụng của cây thuốc này đƣợc ghi lại trong cuốn sách dƣợc thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN. Không chỉ ở Châu Á, việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện tại các nƣớc Châu Âu. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131 – 200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc đƣợc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y Châu Âu hơn 1500 năm.
Theo y học dân gian Liên Xô con ngƣời đã sử dụng nƣớc sắc vỏ quả cây Bạch Dƣơng (Bentula alba), vỏ cây Sồi (Quecus robus) – các nƣớc Nga, Đức đã dùng cây Mã Đề (plantogo mojor) sắc nƣớc hoặc giã lá tƣơi đắp chữa trị vết thƣơng, viêm tiết niệu, sỏi thận. Ở Bungari thì Hoa Hồng (Rosa sinensis) đƣợc sử dụng nhƣ một loại thảo dƣợc chữa trị nhiều bệnh làm nhƣ làm tan huyết, chữa phù thúng. Ngày nay các nhà khoa học đã chứng minh trong cánh hoa hồng có chứa các chất nhƣ tani, glocosit, tinh dầu. Theo các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia Anh thì trong Chè xanh (Thea sinensit L.) có hợp chất của phenol là Gallatespigallocateachol (GEGC) có tác dụng ngăn chặn sự phát triển các loại tế bào ung thƣ gan, dạ dày.
Từ năm 400 TCN, ngƣời Hi Lạp và La Mã cổ đại đã biết đến Gừng (Zingiber officinale) để chữa bệnh cúm, cảm lạnh, kén ăn, viêm khớp. Thời cổ xƣa các chiến binh Hi Lạp và La Mã đã biết dùng nhựa cây Lô Hội (Aloe vera) để làm thuốc tẩy xổ. 4 Ngƣời Hi Lạp còn dùng rau Mùi Tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thƣơng mau lành. Dùng vỏ quả Óc Chó (Juglans regia L.) để chữa vết loét, vết thƣơng.
Gelien một thầy thuốc thời cổ đại Ai Cập đã dùng Tỏi (Allium sqtisvum L.) làm thuốc chữa bệnh có tác dụng lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa hen suyễn và đau răng. Cũng từ lâu ngƣời Haiti và Dominic (Trung Mỹ) dùng cây cỏ Lào (Eupatorium odoratum) làm thuốc đắp vào các vết thƣơng bị nhiễm khuẩn để cầm máu chữa đau nhức răng, làm lành các vết loét lâu ngày không liền sẹo. Ở vùng Đông Nam Á, ngƣời Malaixia dùng cây Húng chanh (Coleus amboinicus) sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống, lấy lá giả nhỏ vắt nƣớc cho trẻ uống trị sổ mũi và đau bụng, ho gà…Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên tại khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu và ghi nhận nhiều cây thuốc của y học cổ truyền và đã kiểm chứng tổng hợp thành cuốn “Medicinal plants of East and Sountheast Asia” 1985 giới thiệu cây thuốc vùng Đông Nam Á. Các nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu các cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây cỏ.