Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới Trong các xã hội cổ xưa, thậm chí đến tận ngày nay, người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên. Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ.
Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng. Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc. Lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3000-5000 năm .Đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc , người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ [19].
Kinh nghiệm của người Cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ cây óc chó (Juglans regia L) để chữa vết loét, vết thương.lâu ngày không liền sẹo. Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề (Plantago major L) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận. Y học dân tộc của Bungari “ Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid Theo đông y Trung Quốc cây Psychotria rubra (Lour.
dùng toàn thân giã nhỏ làm thuốc chữa gãy xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc rất hay. c 4 Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được nhà xuất bản Y học trích dẫn 1963 [23]. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia” Ngày nay theo thống kê của WWF trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh.
Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài [33], Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong Y học truyền thống [28]. Châu Mỹ la tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa. Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia. Các quốc gia Châu Phi số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài , Botswana có 314 loài.
Tuy nhiên nguồn tái nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí; Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước ; do tính khó sử dụng của dược liệu. Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc c 5 phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một lớn điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển của xã hội đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược vô cùng lớn. Theo thống kê trên toàn thế giới, giá trị của công nghiệp dược sử dụng cây cỏ là 800 tỷ USD/năm. Ở Trung quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986.
Tại các nước có nền công nghiệp phát triển mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40 % dân số các nước công nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc bổ sung. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu -Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 lá 43 tỷ USD. Doanh số bán thuốc cây cỏ ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 Tỷ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỷ USD[12].
Theo WB, nguồn tài nguyên cây thuốc là một trong những nguồn tài nguyên giá trị nhất ở vùng nhiệt đới. Dự đoán, nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước thế giới thứ 3 [12]. Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do chiến tranh, ô nhiễm môi trường và con người khai thác bừa bãi cho nên đã trở nên rất nguy cấp và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng (Theo công ước đa dạng sinh học 1992). Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có khoảng 1000 loài thực vật có lẽ đã bị tuyệt chủng có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là mong manh vào giữa thế kỷ nếu chiều hướng đe dọa này vẫn tiếp diễn.
Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đương nhiên có nhiều loài cây thuốc. Do vậy song song với việc nghiên cứu và sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức sử dụng và cây thuốc cũng cần phải quan tâm. 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã được tổ chức tại Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và bảo tồn cây cỏ, đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế. Kết quả là “ Tuyên ngôn Chiang mai” đã ra đời.
Bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây c 6 cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc. Thế kỷ XXI khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển kéo theo nó là sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu.
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người và chữa trị các bệnh nan y ngày càng cấp thiết. Cho nên việc khai thác kết hợp với bảo tồn phát triển các loài cây thuốc là rất quan trọng. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở việt nam Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật. Trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng.
Hiện nay, đã biết 10.386 loài thực vật bậc cao có mạch, dự đoán có thể tới 12. Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích [24], được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm. Nguồn tài nguyên cây cỏ chủ yếu tập trung ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là Đông Bắc, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, Bạch Mã, Tây Nguyên và cao nguyên Đà Lạt [7]. Nền Y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả.
Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị được gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “ Sơn dược’ hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Tỉnh Hải Dương. Vào thế kỷ XIII có hai danh y nổi tiếng đó là Phạm Công Bân và thầy thuốc Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, vào đầu thế kỷ XIV ông biên soạn bộ “ Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị c 7 thuốc có nguồn gốc thực vật. Ngoài ra ông còn viết “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 bài hán nôm phú , tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách chữa trị 37 chứng sốt khác nhau [22] Tuệ Tĩnh được coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử Y học của nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”, ông chủ trương lấy “ Nam dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông sau này bị quân minh thu gần hết chỉ còn lại những tác phẩm như “ Nam dược thần hiệu”; “Tuệ Tĩnh Y thư”; “Thập tam phương gia giảm”; “ Thương hàn tam thập thất trùng pháp”[22] Sau khi Tuệ Tĩnh mất đi một thời gian dài không thấy xuất hiện tác giả nào, mãi đến thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông tên thực là Lê Hữu Trác (1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc.