Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng nhiệt đới toàn cầu hiện sở hữu khoảng 35.000 loài thực vật làm thuốc trên tổng số 250.000 loài thực vật bậc cao, đóng góp giá trị thương mại ước tính đạt 800 đến 900 tỷ USD mỗi năm. Tại Việt Nam, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên ghi nhận khoảng 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật. Tuy nhiên, sự gia tăng áp lực dân số, tập quán canh tác nương rẫy cùng tình trạng khai thác thương mại quá mức đã làm suy thoái nghiêm trọng thảm thực vật tự nhiên, đẩy nhiều loài cây thuốc quý trước nguy cơ tuyệt chủng và khiến tri thức bản địa bị mai một nhanh chóng.

Trước thực trạng cấp bách đó, đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề điều tra toàn diện, đánh giá tính đa dạng sinh học và hiện trạng khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Mục tiêu cụ thể là xây dựng danh lục thành phần loài chuẩn xác, phân tích các chỉ số đa dạng về bậc phân loại, dạng sống, sinh cảnh phân bố, phổ bệnh điều trị, đồng thời phân hạng các loài nguy cấp theo chuẩn quốc gia và quốc tế.

Nghiên cứu được triển khai trên toàn bộ phạm vi 22.200 ha (chiếm khoảng 0,07% diện tích cả nước) của Vườn quốc gia Cúc Phương, trải dài trên địa bàn 15 xã thuộc 4 huyện của 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa trong giai đoạn hoàn thành năm 2008. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc: thiết lập danh mục 649 loài cây thuốc (chiếm 33,7% tổng số loài thực vật của Vườn và 16,9% hệ cây thuốc Việt Nam), xác định 51 loài cần ưu tiên bảo tồn (chiếm 7,8% tổng số loài cây thuốc tại khu vực) và tư liệu hóa 30 bài thuốc cổ truyền của cộng đồng người Mường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý tài nguyên rừng bền vững kết hợp chặt chẽ với các nguyên lý của Dân tộc thực vật học (Ethnobotany) và Dân tộc dược học (Ethnopharmacology). Mô hình nghiên cứu tích hợp hai trụ cột chính: điều tra phân loại học hình thái thực vật học hiện đại và đánh giá tri thức sử dụng thuốc dân gian của cộng đồng địa phương.

Khung lý thuyết định hình qua 4 khái niệm then chốt:

  1. Đa dạng thành phần loài thực vật bậc cao có mạch (Vascular Plant Species Diversity) theo hệ thống phân loại Brummitt (1992) và Takhtajan.
  2. Phổ dạng sống thực vật (Plant Life Forms) phản ánh mức độ thích nghi sinh thái qua 4 nhóm: thân gỗ, thân bụi, thân thảo và thân leo.
  3. Phân hạng mức độ đe dọa tuyệt chủng dựa trên tiêu chí Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và khuyến cáo của Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới thuộc Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP-WCMC).
  4. Tri thức bản địa về y dược học cổ truyền (Indigenous Medical Knowledge) trong việc khai thác bộ phận cây và phân nhóm 21 nhóm bệnh lý điều trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống mẫu vật thực địa, tiêu bản lưu trữ tại Phòng tiêu bản Vườn quốc gia Cúc Phương (CPNP), tài liệu chuyên khảo kế thừa giai đoạn 1961 - 2006 và kết quả phỏng vấn sâu người dân địa phương.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m2 (kích thước 20x50 m) theo phương pháp chọn mẫu điển hình đại diện trên các dạng địa hình karst đá vôi hiểm trở, đồi đất và thung lũng. Đối với mỗi loài cây thuốc, nghiên cứu thu thập tối thiểu 03 mẫu tiêu bản phục vụ ép khô và mẫu hoa tươi ngâm bảo quản trong dung dịch cồn 60 độ để giám định hình thái. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu cỡ mẫu gồm 12 người làm thuốc giỏi (các ông lang, bà mế dân tộc Mường) cư trú tại các thôn bản vùng đệm.

Về phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp hình thái so sánh kết hợp tra cứu khóa định loại chuyên ngành và đối chiếu tiêu bản chuẩn để xác định danh pháp khoa học. Phương pháp thống kê toán học mô tả được ứng dụng để lượng hóa các tỷ lệ phần trăm về họ, chi, loài, dạng sống và cơ cấu bộ phận sử dụng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn xác sinh học cao nhất, khắc phục tính dị biệt của tên gọi địa phương và phù hợp với điều kiện thực địa đặc thù vùng núi đá vôi nhiệt đới. Toàn bộ chu trình khảo sát, thu thập mẫu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn 1998 - 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính đa dạng thành phần loài đạt mức vượt trội: Nghiên cứu đã xác định được 649 loài cây thuốc thuộc 455 chi và 148 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Hạt kín (Magnoliophyta) giữ vị trí thống soái với 627 loài (chiếm 96,6% tổng số loài cây thuốc), trong đó lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế áp đảo với 538 loài (85,8% ngành Hạt kín).

Thứ hai, đặc trưng về dạng sống và sinh cảnh: Cây thân thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất với 218 loài (33,6%), tiếp theo là cây thân gỗ với 179 loài (27,6%), cây thân leo có 138 loài (21,3%) và cây thân bụi có 114 loài (17,6%). Về sinh cảnh, 326 loài (50,2%) phân bố trong rừng tự nhiên nguyên sinh và thứ sinh, 198 loài (30,5%) mọc tại vườn gia đình và ven đường làng bản, 125 loài (19,3%) tập trung ở trảng cây bụi, nương rẫy.

Thứ ba, sự đa dạng về bộ phận sử dụng và phổ bệnh: Lá là bộ phận được khai thác nhiều nhất với 354 loài (53,6%), thân có 191 loài (29,4%) và rễ có 176 loài (27,1%). Các cây thuốc được người dân ứng dụng chữa trị 21 nhóm bệnh, trong đó nhóm bệnh đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 168 loài (25,9%), bệnh ngoài da chiếm 125 loài (19,3%), bệnh xương khớp chiếm 74 loài (11,4%).

Thứ tư, áp lực đe dọa và hiện trạng khai thác: Nghiên cứu ghi nhận 51 loài cây thuốc nguy cấp cần ưu tiên bảo vệ (chiếm 7,8% hệ cây thuốc của Vườn), gồm 9 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (như Khôi tía, Bổ cốt toái, Hoàng đằng) và 12 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (như Lan Kim tuyến, Hài đốm, Gù hương). Khảo sát thương mại ghi nhận 29 loài bị khai thác buôn bán thường xuyên với sản lượng hàng trăm tấn mỗi năm, trong đó có 6 loài nguy cấp bị thu hái ráo riết.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu thực vật làm thuốc tại Cúc Phương tập trung chủ yếu ở nhóm thân thảo, thân bụi và dây leo (tổng cộng 470 loài, chiếm 72,5%). Đặc tính này đem lại lợi thế lớn cho việc gây trồng, nhân giống nhanh và chu kỳ thu hoạch ngắn. Tuy nhiên, việc có tới 50,1% số loài bị khai thác từ 2 bộ phận trở lên hoặc dùng toàn bộ rễ, thân, vỏ đang tạo ra nguy cơ suy thoái quần thể nghiêm trọng nếu không có quy trình khai thác bền vững.

So sánh tương quan cho thấy, dù diện tích chỉ chiếm 0,07% lãnh thổ quốc gia, Cúc Phương sở hữu tới 16,9% tổng số loài cây thuốc và 48,2% số họ cây thuốc của Việt Nam. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác cùng thời điểm, khẳng định Cúc Phương là kho dự trữ nguồn gen dược liệu trọng yếu.

Toàn bộ các phát hiện định lượng trên có thể được biểu thị trực quan thông qua các hình thức:

  • Biểu đồ tròn (Pie chart) thể hiện tỷ lệ 4 dạng sống thực vật và cơ cấu phân bố theo 3 dạng sinh cảnh chính.
  • Biểu đồ cột ngang (Bar chart) trực quan hóa tần suất xuất hiện của cây thuốc trên 21 nhóm bệnh lý, làm nổi bật hai nhóm tiêu hóa và da liễu.
  • Bảng ma trận đối chiếu cấp độ đe dọa (VU, EN, IA, IIA) của 51 loài quý hiếm theo 3 hệ thống đánh giá Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và UNEP-WCMC.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Cúc Phương, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Thiết lập vùng bảo vệ nghiêm ngặt và hành lang bảo tồn nguyên vị: Ban Quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương chủ trì khoanh vùng bảo tồn nguyên vị (in-situ) đối với 20.473 ha thảm thực vật rừng tự nhiên, tập trung giám sát chặt chẽ quần thể 51 loài cây thuốc nguy cấp; đồng thời xây dựng vườn ươm thực vật chuyển vị (ex-situ) quy mô 2 ha nhằm nhân giống các loài quý hiếm như Lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Hài đốm (Paphiopedilum concolor) và Khôi tía (Ardisia silvestris) trong giai đoạn 2009 - 2012.

  2. Chuyển giao mô hình nông lâm kết hợp phát triển dược liệu vùng đệm: Hạt Kiểm lâm phối hợp cùng chính quyền 15 xã vùng đệm triển khai hướng dẫn kỹ thuật thuần hóa, canh tác 6 loài cây thuốc thương phẩm có chu kỳ ngắn (như Khôi tía, Cỏ xước, Cốt toái bổ) trong vườn nhà và vườn rừng cho 500 hộ gia đình, đặt mục tiêu cắt giảm 60% tình trạng người dân vào rừng khai thác tự nhiên đến năm 2015.

  3. Số hóa và chuẩn hóa tri thức y học cổ truyền dân tộc Mường: Trạm Nghiên cứu khoa học phối hợp với Viện Dược liệu tiến hành thẩm định thành phần hóa học, kiểm chứng lâm sàng cho 30 bài thuốc cổ truyền thu thập từ 12 ông lang mế tiêu biểu, hoàn thiện hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tri thức bản địa trong thời hạn 24 tháng.

  4. Tăng cường kiểm soát thị trường và thực thi chế tài lâm nghiệp: Lực lượng Kiểm lâm liên tỉnh (Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa) phối hợp với Quản lý thị trường tăng cường tuần tra, thanh tra định kỳ các chợ đầu mối và điểm thu mua dược liệu, xử lý nghiêm hành vi buôn bán trái phép các loài thuộc Danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP, phấn đấu kiểm soát và xóa bỏ 100% các điểm tiêu thụ dược liệu trái phép trong vòng 1 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Các nhà nghiên cứu thực vật học và dược học: Khai thác danh lục chuẩn hóa 649 loài cây thuốc, hệ thống dẫn liệu phân loại học chi tiết và cơ sở dữ liệu về 21 nhóm bệnh để định hướng nghiên cứu chiết xuất hoạt chất mới, sàng lọc dược tính phục vụ ngành công nghiệp dược phẩm.

  2. Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cán bộ lâm nghiệp: Ứng dụng quy trình điều tra ô tiêu chuẩn 1.000 m2 trên địa hình karst, phương pháp đánh giá 51 loài thực vật nguy cấp để xây dựng đề án quản lý tài nguyên rừng và quy hoạch phân khu bảo tồn thực vật đặc hữu.

  3. Các doanh nghiệp sản xuất dược liệu và hợp tác xã nông nghiệp: Sử dụng danh mục 29 loài cây thuốc thương mại và hướng dẫn sinh thái dạng sống để xây dựng các dự án trồng trọt, chế biến dược liệu sạch đạt chuẩn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái (GACP) tại các vùng đệm đồi núi.

  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Lâm học, Sinh học, Y học cổ truyền: Sử dụng luận văn như một tài liệu mẫu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu liên ngành dân tộc thực vật học, tham khảo nguồn dữ liệu 30 bài thuốc dân gian và 12 ca nghiên cứu tri thức bản địa phục vụ các khóa luận học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Vườn quốc gia Cúc Phương hiện ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc mọc tự nhiên? Luận văn đã thống kê chính xác 649 loài cây thuốc thuộc 455 chi và 148 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Số lượng này chiếm tới 33,7% tổng số loài thực vật đã biết tại Cúc Phương và tương đương 16,9% tổng số loài cây thuốc được ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Nhóm bệnh nào được điều trị phổ biến nhất bằng cây thuốc tại địa phương? Cây thuốc tại Cúc Phương được sử dụng chữa trị 21 nhóm bệnh khác nhau theo kinh nghiệm dân gian. Trong đó, nhóm bệnh về đường tiêu hóa có số lượng cây chữa trị nhiều nhất với 168 loài (25,9%), theo sau là các bệnh ngoài da, mụn nhọt, vết thương nhiễm trùng với 125 loài (19,3%).

Có bao nhiêu loài cây thuốc nguy cấp cần ưu tiên bảo tồn tại khu vực này? Nghiên cứu xác định tổng cộng 51 loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng cần ưu tiên bảo vệ (chiếm 7,8% hệ cây thuốc của Vườn). Danh sách bao gồm 9 loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, 12 loài thuộc danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 35 loài theo khuyến cáo của tổ chức UNEP-WCMC.

Bộ phận nào của cây thuốc bị thu hái nhiều nhất và ảnh hưởng thế nào đến quần thể? Lá là bộ phận được thu hái nhiều nhất với 354 loài (53,6%), tiếp đến là thân (191 loài) và rễ (176 loài). Việc khai thác rễ, thân hoặc sử dụng toàn phần ở hơn 50% số loài khiến cây mất khả năng tái sinh tự nhiên, đẩy nhiều loài có giá trị cao trước nguy cơ cạn kiệt.

Cộng đồng người Mường đóng góp những tư liệu y học dân gian nào trong nghiên cứu? Thông qua phỏng vấn chuyên sâu 12 ông lang, bà mế tiêu biểu, tác giả đã thu thập và tư liệu hóa được 30 bài thuốc gia truyền chữa 13 nhóm bệnh thông thường và mãn tính. Trung bình mỗi thầy thuốc bản địa nắm giữ và sử dụng thường xuyên khoảng 78 loài cây thuốc tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng danh lục khoa học chuẩn xác gồm 649 loài cây thuốc thuộc 455 chi, 148 họ tại Vườn quốc gia Cúc Phương, chiếm 16,9% hệ cây thuốc toàn quốc.
  • Phân tích cấu trúc cho thấy ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối (96,6%), dạng sống thân thảo dẫn đầu (33,6%) và sinh cảnh rừng tự nhiên chiếm tỷ trọng phân bố cao nhất (50,2%).
  • Xác lập danh mục 51 loài cây thuốc nguy cấp cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn phân hạng quốc gia và quốc tế.
  • Khảo sát thực trạng thị trường ghi nhận 29 loài bị khai thác thương phẩm khối lượng lớn, đồng thời bảo tồn thành công tư liệu 30 bài thuốc cổ truyền của người Mường.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 giải pháp chiến lược gắn kết giữa bảo tồn nguyên vị, phát triển sinh kế trồng dược liệu vùng đệm và kiểm soát thị trường.

Công trình là đóng góp học thuật quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho chiến lược quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển ngành dược liệu Việt Nam trong giai đoạn 5 đến 10 năm tiếp theo. Các cơ quan quản lý lâm nghiệp, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị của đề tài vào thực tiễn quản trị tài nguyên rừng và phát triển kinh tế cộng đồng bền vững.