ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm môi trƣờng do hoạt động canh tác nông nghiệp là vấn đề đang xảy ra tại các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Việc lạm dụng quá mức các loại phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật để tăng năng xuất, đối phó với các loại bệnh hại cây trồng đã gây nên các tác động xấu đến môi trƣờng tự nhiên cũng nhƣ ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời. Tây Tựu là địa phƣơng với truyền thống canh tác nông nghiệp từ lâu đời, là một bộ phận thuộc đồng bằng châu thổ sông hồng, với điều kiện thổ nhƣỡng, khí hậu, cũng nhƣ nguồn nƣớc dồi dào thuận lợi cho việc phát triển canh tác nông nghiệp. Từ xa xƣa, ngƣời dân Tây Tựu canh tác nông nghiệp là lúa nƣớc, đến những năm 1985 thì có sự chuyển đổi cây trồng sang các loại rau quả ngắn ngày nhƣ dƣa lê cà chua.
Đến năm 1995, Tây Tựu chuyển sang chủ yếu trồng các loại hoa và một số loại rau. Nghề trồng hoa ở Tây Tựu manh nha từ năm 1994, khi đó một số hộ dân trong xã đƣa cây hoa về trồng thí điểm trên đồng đất thay cho các loại cây truyền thống nhƣ lúa, cà chua, dƣa lê…Hoa phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều, ngƣời dân Tây Tựu dần “bén duyên” với cây hoa. Cứ thế làng hoa ven đô hình thành và phát triển bền vững đến ngày nay. Làng hoa Tây Tựu (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) nổi tiếng là “vành đai hoa”, mỗi ngày cung cấp cho thị trường và các tỉnh phía Bắc hàng triệu bông hoa, nhất là dịp tết đến xuân về.
Với truyền thống trồng hoa kết hợp khí hậu, thổ nhƣỡng thuận lợi đã mang lại cuộc sống khá sung túc cho ngƣời dân nơi đây. Tuy nhiên, do sức ép kinh tế và muốn hoa đẹp, ít phải chăm, ngƣời dân đã liên tục sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc kích thích. Đến cánh đồng hoa Tây Tựu luôn phảng phất mùi của thuốc sâu, ở đây không khó để bắt gặp cảnh ngƣời nông dân đeo trên lƣng bình thuốc tay thì cầm cần phun thuốc sâu và cứ cách từ ba đến bốn ruộng hoa lại có hộ nông dân phun thuốc trừ. Việc sử dụng lạm dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật, các loại phân bón hóa học không đúng theo quy định trong quá trình sản xuất hoa đang làm cho môi trƣờng tại làng hoa Tây Tựu trở nên dần bị hủy hoại, đồng thời gâyảnh hƣởng tới đời sống, sức khỏe ngƣời dân.
1 Trƣớc những thực trạng trên, việc nghiên cứu: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động trồng hoa đến môi trường tự nhiên và xã hội tại làng hoa Tây Tựu-quận Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội” là cần thiết và có ý nghĩa khoa học cũng nhƣ trên phƣơng diện khía cạnh môi trƣờng, giúp cảnh báo sớm những nguy cơ gây ô nhiễm, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục, hƣớng tới mục tiêu phát triển bền vững. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về làng nghề trồng hoa tại Việt Nam 1. Làng nghề Việt Nam - Khái niệm làng nghề: Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống thì khái niệm làng nghề nhƣ sau: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau [13].
- Phân loại làng nghề: Bảng 1.1: Bảng phân loại làng nghề Việt Nam Phân loại theo số lƣợng làng nghề Phân loại theo tính chất làng nghề - Làng nghề một nghề: là những - Làng nghề truyền thống: là những làng làng ngoài nghề nông ra, chỉ có nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và thêm một nghề thủ công duy nhất còn tồn tại đến ngày nay - Làng nhiều nghề: là những làng - Làng nghề mới: là những làng nghề xuất ngoài nghề nông ra còn có thêm hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng một số hoặc nhiều nghề khác. nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phƣơng khác. Một số làng mới đƣợc hình thành do chủ trƣơng của một số địa phƣơng cho ngƣời đi học nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phƣơng nhằm tạo việc làm cho ngƣời dân địa phƣơng mình. - Các nhóm làng nghề: Theo thống kê năm 2004, cả nƣớc có 2.017 làng nghề, trong đó có khoảng 300 làng nghề truyền thống, bao gồm 1,4 triệu cơ sở sản xuất với nhiều loại hình tổ chức sản xuất từ hộ gia đình đến tổ sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tƣ nhân và các loại hình công ty.
Theo thống kê năm 2014 thì số lƣợng các loại hình làng nghề đƣợc phân bố nhƣ sau: 3 Bảng 1.2:Thực trạng phân bố các làng nghề tại Việt Nam Số lƣợng làng nghề TT Vùng, khu vực (làng) 1 Đồng bằng Sông Hồng 866 2 Đông Bắc 164 3 Tây Bắc 247 4 Bắc Trung Bộ 341 5 Nam Trung Bộ 87 6 Tây Nguyên 0 7 Đông Nam Bộ 101 8 Đồng bằng Sông Cửu Long 211 Tổng số 2017 Nhƣ vậy, có thể thấy làng nghề tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Hồng, nơi đây có đến 80% hộ nông dân tham gia làm hàng thủ công. Riêng tỉnh Hà Tây (cũ) có đến 258 làng, đƣợc coi là “đất trăm nghề”, nơi có những làng nghề nổi tiếng từ lâu đời nhƣ lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh, khảm Chuyên Mỹ, v.v… Làng nghề có thể chia ra thành 14 nhóm nhƣ sau: Bảng 1.3: Các nhóm làng nghề tại Việt Nam STT Nhóm làng nghề 1 Mây tre đan; kể cả sản phẩm đan lát, bện thủ công (kể cả bàn nghế, nón lá) 2 Cói 3 Gốm sứ 4 Sơn mài, khảm trai 5 Thêu, ren 6 Dệt (vải, khăn tay, áo, khăn quàng, kể cả dệt thổ cẩm 7 Đồ gỗ (đồ mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, làm trống 8 Đá mỹ nghệ 9 Giấy thủ công 10 Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc… ); hoa các loại bằng vải, lụa, giấy 11 Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn rối cạn, rối nƣớc, tò he…) 12 Sản phẩm kim khí (đồ đồng, sắt, nhôm … sản xuất và tái chế) 13 Chế biến nông sản, thực phẩm (các loại nƣớc chấm, bún bánh, miến dong, đƣờng, mật, mạch nha, rƣợu, trà, kể cả đóng giày da) 14 Cây cảnh (gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh) 4 Việc phân nhóm trên đây chỉ là quy ƣớc; vì cho đến nay, chúng ta chƣa có nghiên cứu đầy đủ về phƣơng pháp luận phân nhóm làng nghề. Năm 2004, Dự án của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ phân 11 nhóm thuộc ngành nghề thủ công nghiệp, không đề cập các làng nhƣ chế biến nông sản thực phẩm, cây cảnh … Có thể thấy: do nhu cầu của thị trƣờng, có những ngành nghề mới đã xuất hiện và hình thành làng, làm phong phú thêm danh mục các làng nghề. Trong các nhóm làng nghề nói trên, nhóm mây tre đan đƣợc phát triển phổ biến nhất, chiếm đến 24% số làng nghề và 25% số lao động trong các làng nghề, do tận dụng nguyên liệu tại chỗ (tre, nứa, mây, song, giang, guôt, tế …); sử dụng nhiều lao động; và có thị trƣờng rộng rãi khắp nƣớc, kể cả xuất khẩu.
Tiếp đến là các làng nghề chế biến thực phẩm (các loại nƣớc chấm, nƣớc mắm, tƣơng, rƣợu, miến, mì sợi,. ), sau đó là các nhóm dệt, thêu. Trên 60% số lao động các làng nghề là nữ, trong đó nghề dệt và thêu có đến 80% là lao động nữ. Trong các làng nghề hiện nay, đang có nhiều tổ chức sản xuất, kinh doanh rất đa dạng: đó là các loại hình doanh nghiệp (các loại công ty, doanh nghiệp tƣ nhân), hợp tác xã, tổ sản xuất, hộ gia đình thuộc các lĩnh vực sản xuất, buôn bán, dịch vụ, du lịch.
Hoạt động của các tổ chức kinh doanh này (gọi chung là doanh nghiệp) đang trong bƣớc phát triển, năng động, đa dạng, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc khôi phục và phát triển làng nghề. Trong các doanh nghiệp đó, cơ cấu nhƣ sau: thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 33%; chế biến chiếm 27%; dịch vụ chiếm 40% (chủ yếu là cửa hàng bán lẻ). Về thành phần kinh tế, trong các ngành nghề nông thôn hiện nay, kinh tế tƣ nhân chiếm 71,8%; kinh tế hợp tác chiếm 18,2%; kinh tế nhà nƣớc chiếm 10%. Khu vực kinh tế tƣ nhân đang có nhiều triển vọng, do suất đầu tƣ thấp, kinh doanh năng động, hiệu quả cao.
Thời gian gần đây, nhiều tổ chức xã hội dân sự trong các làng nghề đã đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức, nhƣ hội ngành nghề, hiệp hội (Hiệp hội làng nghề Việt Nam), kể cả câu lạc bộ. Nghề trồng hoa tại Việt Nam Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha trong đó diện tích trồng hoa ở Việt Nam chiếm 0,02% diện tích đất đai. Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng hoa lớn sau: 5 Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa. Hoa đƣợc trồng ở hầu hết các tỉnh của vùng trong đó tập trong nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dƣơng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… Hoa ở vùng này chủ yếu phục vụ tiêu thụ trong nƣớc,và một số chủng loại nhỏ đã xuất khẩu sang Trung Quốc (hồng, cúc.
Hồng là loài hoa phổ biến nhất chiếm 35%, tiếp đến là hoa cúc (30%), hoa đồng tiền (10%), còn lại là các loài hoa khác (25%). Vùng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện khí hậu thời tiết rất phù hợp cho trồng các loại hoa, mặc dù diện tích không lớn nhƣng đãy là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lƣợng tốt: phong lan, địa lan, lấy, hồng, đồng tiền. Diện tích trồng các loài hoa tăng 1,74 lần so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 1996-2000, chỉ riêng năm 2000 đã thu hoạch đƣợc 25,5 triệu cành hoa. Vùng hoa đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với các loài hoa nhiệt đới: hoa lan, đồng tiền… TP Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới nhanh nhất trong cả nƣớc, nhiều trang trại hoa lan đã đƣợc thành lập, kinh doanh và phát triển theo mô hình trang trại hoa lan tại Thái Lan Bảng 1.