ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng Việt Nam rất phong phú và đa dạng là nơi sinh tồn của hàng trăm, hàng nghìn loài động, thực vật nhƣng một thực trạng đáng buồn là trong những năm gần đây dƣới áp lực của sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số, chặt phá rừng lấy đất xây dựng nhà ở và các nhà máy đã tác động lên nguồn tài nguyên rừng. Những loài cây gỗ, lâm sản ngoài gỗ có giá trị bị thƣơng mại hóa do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng đang bị tàn phá nhƣờng chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, làm cho rừng không những bị suy thoái về số lƣợng mà cả chất lƣợng, bên cạnh đó việc nghiên cứu gây trồng còn hạn chế chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của thị trƣờng cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của những loài cây quý hiếm trong tự nhiên. Hiện nay thị trƣờng chơi hoa Lan trong và ngoài nƣớc đặc biệt là nhóm Lan hài đƣợc rất nhiều ngƣời ƣa yêu thích bởi vẻ đẹp thanh thoát, bởi sự duyên dáng.
Nhiều ngƣời đã chi trả một khoản tiền rất lớn để có đƣợc một cây Lan hài đẹp. hính vì điều này đã thúc đẩy ngƣời dân khai thác Lan hài một cách quá mức, đƣa nhóm Lan hài đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng cao. Chi Lan hài là một chi thuộc họ Lan (Orchidaceae), đƣợc gọi là Lan hài vì hoa có một cánh môi ở giữa có hình cái túi nhỏ nhìn giống nhƣ chiếc hài (giày phụ nữ thời phong kiến). hi này chứa khoảng 80 loài đã đƣợc công nhận, trong đó có một số là lai ghép tự nhiên.
ác loài Lan hài này là bản địa của khu vực Hoa Nam, Ấn Độ, Đông Nam Á và các đảo trên Thái ình Dƣơng, và chúng tạo thành phân tông gọi là Paphiopedilinae chỉ chứa 1 chi này. Theo tài liệu Lan hài Việt Nam của Phan Kế Lộc và cộng sự đã thống kê Lan hài ở Việt Nam có khoảng 18 loài và 4 loài lai tự nhiên. Nhiều loài đang bị săn lùng và bị đe doạ tuyệt chủng. Hiểu đƣợc vai trò của tài nguyên rừng và hiện trạng suy giảm nhanh chóng của chúng chính phủ ta đã có nhiều biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này nhƣ: ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật đa dạng sinh học 2009, Sách Đỏ Việt Nam 2007, danh lục đỏ của IUCN, Nghị Định 1 32/2006….
ên cạnh các văn bản pháp luật chúng ta áp dụng hàng loạt các biện pháp khác nhƣ: Khoanh nuôi bảo vệ, sử dụng tài nguyên hợp lý, gây trông rừng… Coi bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng là nhiệm vụ thƣờng xuyên và lâu dài nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ các loài Lan hài quý hiếm. Đặc biệt là các loài có giá trị cao về kinh tế và đa dạng sinh học. Lan hài hằng là một trong những loài có hoa đẹp và hƣơng thơm đặc biệt nhất trong nhóm Lan hài phân bố tự nhiên ở Việt Nam. Chính do giá trị làm cảnh cao nên hiện nay Hài hằng là loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam.
Loài hiện nay chỉ còn phân bố tự nhiên tại khu vực rất hẹp nằm giáp ranh giữa ba tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn và Tuyên Quang. Các công trình nghiên cứu bảo tồn loài trong tự nhiên còn rất hạn chế. Trƣớc những vấn đề cấp bách nêu trên tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Lan hài hằng (Paphiopedilum hangianum Perner & O.Gruss) tại huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang.” Với mong muốn đƣợc góp phần xây dựng và bảo tồn nguồn tài nguyên của quê hƣơng nơi đã nuôi dƣỡng tôi khôn lớn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về Lan hài trên Thế giới. Lan hài còn đƣợc gọi là Hài Vệ nữ là một nhóm rất khác biệt, chúng có thể dễ dàng nhận ra bởi cấu trúc hoa khác thƣờng với một cánh hoa giữa hình túi sâu giống nhƣ một chiếc hài (trong chuyên môn gọi là môi hay cánh môi) nằm ở vị trí thấp nhất của hoa, tạo nên một vẻ bề ngoài rất đặc sắc. Và nhƣ vậy nó trở thành tên chung của nhóm này. ũng nhƣ vậy, tên Latin của chi Lan hài lớn nhất „Paphiopedilum, có thể dịch là chiếc hài của Paphos.
Paphos là nơi sinh của Vị Thần tình yêu và cái đẹp trong Thần thoại Hy Lạp hay còn gọi là Thần Vệ Nữ Venus. Trên thế giới, hiện còn khoảng 80 loài thuộc chi Paphiopedilum.Tập chung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, tiểu lục Ấn Độ, nam Trung Quốc, New Geinea, quần đảo Solomon và Bismarck. Theo hệ thống Lan hài Việt Nam chi Paphiopedilum xác định 18 loài và 4 loài lai tự nhiên của Paphiopedilum. Thông tin tổng quan về loài Lan hài hằng ở Việt Nam.
Họ Lan (Orchidaceae) là họ lớn nhất trong 10 họ thực vật bậc cao có mạch lớn nhất trong hệ thực vật Việt Nam (Phan Kế Lộc, 1998) với 753 loài chiếm 7,8% tổng số loài. Khoảng 3,1% số loài lan của Việt Nam thuộc các yếu tố liên nhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới, khoảng 3,7% phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới châu Á và bán đảo Mã Lai, 8,8% phân bố ở đông Himalaya, Đông Nam Á và tây Mã Lai, 11% là các loài Đông Dƣơng và các đảo Sunda lớn và 73,4% có vùng phân bố ở vùng đất liền Đông Nam Á. ó 9 taxon của chi Paphiopedilum có phân bố đặc hữu ở Việt Nam và 11 taxon có phân bố ở một vài điểm rất gần biên giới Việt Nam nên có thể coi là gần đặc hữu của Việt Nam. Paphiopedilum hangianum là một phát hiện gây sửng sốt trong thời gian gần đây.
Loài đặc hữu này của Việt Nam có khu phân bố rất hẹp. Nó rất gần với P. emorsonii và mối quan hệ giữa chúng cần đƣợc nghiên cứu tiếp. Cả hai loài này ở một mức độ nào đó có một vị trí phân loại tách biệt và cũng đƣợc xem là hai tổ riêng biệt của chi.
Paphiopedilum hangianum khác với 3 Paphiopedilum emorsonii ở màu sắc hoa, bao hoa tƣơng đối to hơn và nhị lép trắng rõ rệt với gân tím chia nhánh có chiều rộng bằng chiều dài. Thông báo về loài này có gặp ở Trung Quốc (Liu Zhong- Jian & Zhang Jian- Yong, 2001) hiện vẫn chƣa có gì là chắc chắn. Lan hài hằng là cỏ mọc trên đá, với 4 -7 lá xếp thành 2 dãy. Lá dài, hình lƣỡi, tù hoặc gần nhọn dài 12(15)- 30cm, rộng 3-5cm, mặt trên xanh bóng, mặt dƣới xanh nhạt và có cạnh lƣng rõ rệt.
Cụm hoa thẳng đứng 1 hoa (rất hiếm khi 2 hoa); cuống dài 6-12cm, đƣờng kính 4-5mm, xanh nhạt, có lông tơ trắng ngắn; lá hoa hình trứng, tù, gập đôi dài 2,8-3cm, rộng 1,2-2cm, xanh, phủ lông tơ rất ngắn, lông rìa trắng ở mép. Hoa thơm ngọt thoang thoảng, rất to so với kích cỡ của cây, rộng 9-12cm, cao 6-8cm, gân hình chuông hoặc xòe rộng; lá khá dày vàng hoặc xanh vàng nhạt, cánh hoa vàng nhạt hoặc xanh vàng nhạt với đốm tím ở gốc, cũng dày nhƣ lá đài; môi trắng vàng, có đốm tím thẫm ở mặt trong; nhị lép trắng hoặc trắng vàng có các đốm tím nối nhau; cuống hoa và bầu dài 3,5-4,2cm, xanh tƣơi, có lông trắng ngắn. Lá đài lông ban đầu chùm lên cong lại về phía môi, sau đó gần thẳng, uốn ngƣợc lại ở mép bên, hình trứng- bầu dục, tù, dài 4-5(5,6) cm, rộng (2,2) 3- 3,9cm, có gờ và phủ lông mềm ngắn ở mặt ngoài. Lá đài hợp hình trứng rộng, tù, dài 3,5 (4)- 5,5 (6) cm, rộng 3 (3,5)- 4 (4,7)cm, phủ lông mềm ngắn ở cả 2 mặt, có gờ sắc ở mặt ngoài.
Cánh hoa cong lại hoặc mở rộng, hình bầu dục rộng tới hình trứng rộng, tù cho tới tròn ở đỉnh, dài 4 (4,5)- 6 (7,2)cm, rộng 2,5 (3)- 3,5 (4,5)cm, phủ lông mềm mảnh có cả hai mặt, lông trắng ở phía gốc, mép bên đôi khi cong lại. Môi gần giống mỏ vẹt, dạng lọ sâu, dài 3,3 (3,5)- 4(4,5) cm, rộng 2,3-3,4cm loe ra ở gốc, có mép đỉnh cong lại và có rãnh dọc theo gân, bề mặt nâu thẫm. Cột nhị nhụy ngắn, nhị lép lồi, hình mũi tên rộng, tròn ở đỉnh, dài 11-17mm, rộng 11-21mm với một rãnh ngang ở nửa gốc; núm nhụy hình thìa, phủ lông rất ngắn, bao phấn có hạt phấn rất khô. Thời gian nở hoa trong tự nhiên của Lan hài tại Việt Nam khoảng tháng 4-5.
Biến thái: Việc quan sát nhiều cây Paphiopedilum hangianum đang ra hoa ở nhiều quần thể khác nhau đã cho thấy ít cho sự thay đổi về kích thƣớc, 4 màu sắc, hình dạng của hoa. Chiều rộng của hoa biến đổi từ 10 đến 12 (14) cm, khá cùng kiểu với các mảnh bao hoa hình trứng rộng hoặc hình trứng ngƣợc, thƣờng vàng xanh nhạt hoặc vàng nhạt. ánh hoa có các đốm tía nâu ở gốc. Lá đài lung vàng tuyền hoặc có những đốm tía nâu lƣa thƣa ở phần gốc.
Nhị lép trắng hoặc vàng tƣơi, thƣờng có các đốm tím nối liền nhau theo chiều ngang không đều dần. Lan hài hằng đang nở hoa. Nguồn: Nguyễn Quỳnh Anh, 2017 Nơi sống: Paphiopedilum hangianum, mọc trong rừng nguyên sinh, ít nhiều rậm, thƣờng xanh, cây lá rộng trên núi đá vôi phân lớp và thƣờng chứa khoáng thạch anh với tuổi trẻ hơn đƣợc tạo thành từ Paleozoi muộn hoặc Mesozoi sớm. Các cuộc điều tra thuộc địa gần đây xác định đƣợc nơi phân bố của Paphiopedilum hangianum.
Đó là một vùng có diện tích rất nhỏ nằm hoàn toàn trong tỉnh Tuyên Quang. Vùng này có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông khô lạnh và mùa hè nóng. Lƣợng mƣa rất thấp trong thời gian từ tháng 5 11 đến đầu tháng 4 và điều này rất đặc trƣng cho nơi sống của Paphiopedilum hangianum. Nhiệt độ trung bình mùa đông ở đây dao động từ 14- 16⁰ C và đôi khi nhiệt độ có thể xuống 3- 5⁰ vào ban đêm của mùa đông lạnh nhất thuộc các tháng 1 và 2.
Mùa hè nóng với lƣợng mƣa cao nhất vào tháng 6- 8. Tổng lƣợng mƣa trung bình năm khu vực này thấp hơn so với toàn bộ vùng Đông Dƣơng và dao động từ 1200- 1400mm. Điều này dẫn đến việc tạo thành các khu rừng thƣa khô trên núi đá vôi cacxto trong khu vực. Nhiệt độ trung bình tháng 25-28⁰ C và rất hiếm khi vƣợt quá 35⁰.
Sƣơng mù dày đặc và mƣa phùn liên tục rất phổ biến từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 3. Độ ẩm không khí thời gian này thƣờng xuyên là 100% nhƣng đất và mùn lá cây, trên mặt đất vẫn hoàn toàn khô.