ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống còn, phát triển của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất.Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lƣợc quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu. của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật.Tính đa dạng về hệ sinh thái (HST) bao gồm rừng, biển, đất ngập nƣớc; sự phong phú và giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật. Tuy vậy, hiện nay tài nguyên ĐDSH của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái dƣới áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ƣu tiên phát triển kinh tế.Hiện nay hệ sinh thái rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng và ngày càng bị thu hẹp đã làm cho nhiều loài động vật mất nơi cƣ trú và kiếm ăn trong số đó có nhiều loài chim cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Chim là một thành phần cấu tạo của hệ sinh thái và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, đặc biệt là bảo vệ và đảm bảo cân bằng hệ sinh thái. Công (Pavo muticus) và Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi)đều là các loài thuộc họ Trĩ. Công là loài động vật có bộ lông đẹp và đƣợc xếp vào là một trong mƣời loài chim đẹp nhất hành tinh (Theo Scienceray. Tình trạng của loài Công hiện nay đƣợc xếp ở mức nguy cấp(EN) trong sách đỏ Việt Nam 2007, nằm trong phụ lục IB của nghị định 32 (2006) và thuộc phụ lục II của công ƣớc CITES (2016).
Theo Delacour từ năm 1923 gà lôi lam mào trắng đã đƣợc coi là loài hiếm của họ Trĩ, số lƣợng ít và vùng phân bố hẹp. Hiện nay, Gà lôi lam mào trắng đã đƣợc đƣa vào trong Sách đỏ Việt Nam (2007) ở mức “Nguy cấp”, mặc dù trong Sách đỏ IUCN, loài đã đƣợc nâng lên mức “Rất nguy cấp” từ năm 2012. Gà lôi lam mào trắng cũng đƣợc liệt kê trong Phụ lục I của Công ƣớc CITES. Quan trọng hơn cả là loài này đã đƣợc đƣa vào Nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ- CP ngày 30/3/2006 về quản lý các loài động thực 1 vật hoang dã nguy cấp và quý hiếm, đồng nghĩa với việc chế biến và buôn bán các cá thể của loài và sản phẩm của chúng cho mục đích thƣơng mại đều bị cấm, trừ một số trƣờng hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Cả hai loài Công và Gà lôi lam mào trắng hiện đang đƣợc bảo tồn tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng. Âm học sinh học là một lĩnh vực khoa học liên ngành có liên quan đến sinh học và âm thanh đƣợc tạo ra bởi hoặc ảnh hƣởng đến các sinh vật sống. Nó thƣờng đề cập đến việc sản xuất, phân tán và tiếp nhận âm thanh của động vật kể cả con ngƣời (theoOregonstate.Mỗi loài động vật đều có một tiếng kêu riêng biệt, hơn nữa một loài cũng có thể có nhiều tiếng kêu khác nhau.Nghiên cứu về tiếng kêu sẽ đặt ra nhiều câu hỏi haycho các nhà khoa học nhƣ: tiếng kêu của các loài có đặc điểm gì giống và khác nhau không? Chúng có ý nghĩa nhƣ thế nào trong đời sống của các loài ? Cùng một loài ở các khu vực khác nhau thì tiếng kêu có khác nhau hay không?. Công và Gà lôi lam mào trắng là hai loài chim quý hiếm có giá trị khoa học và kinh tế cao nên dễ bị săn bắt mạnh ngoài tự nhiên, dẫn đến ngày càng bị cạn kiệt.
Hiện nay nghiên cứu về loài Công và Gà lôi lam mào trắngcòn khá ít và chƣa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm tiếng kêu của chúng. Xuất phát từ thực tế trên để góp phần tạo cơ sở khoa học và phát triển các loài Công và Gà lôi lam mào trắng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu của loài Công (Pavo muticus) và Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) được nuôi nhốt tại Vườn quốc gia Cúc Phương”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Các loài động vật với những tiếng kêu đa dạng, âm thanh trầm bổng cƣờng độ to nhỏ rất khác nhau, từ tiếng kêu của các loài nhỏ bé đến các loài vô cùng lớn.
Tiếng kêu của các loài động vật luôn chứa những điều bí ẩn mà con ngƣời luôn muốn khám phá và tìm hiểu.Vì vậy mà các nhà khoa học trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu khoa học về chim nói chung và về tiếng kêu nói riêng.Một số nghiên cứu điển hình về tiếng kêu của các loài động vật trên thế giới nhƣ: Busnel, 1963 trong cuốn “ Đặc tính âm thanh của động vật” đã đề cập đến phƣơng pháp trên ngôn ngữ âm sinh học và kĩ thuật sử dụng cho nghiên cứu vật lí âm sinh học. Seppo Fagerlund, 1968 “Mô hình âm học và vật lí âm thanh của chim”. Nghiên cứu đã đề cập đến cấu trúc cơ bản âm thanh của chim cũng nhƣ nguyên tắc âm thanh tạo ra trong cơ chế của chim. Ngoài ra còn giới thiệu các điệu hót phổ biến và âm thanh phƣơng pháp tạo mẫu có thể đƣợc dùng để phối hợp tạo ra vững chắc trong chim.
Flanagan, 1972 “Tổng hợp giọng nói âm thanh từ một mô hình hai khối lƣợng của dây thanh” hệ thống tổng hợp đã mô tả sinh lí hiệu quả của tín hiệu tiếng nói, sử dụng mô hình cho biết đƣợc vận tốc âm lƣợng âm thanh, quan hệ giữa tần số cơ bản và giọng nói,áp lực của phổi và tỉ lệ rung dây. Feng và cộng sự, 2006 “sóng siêu âm giao tiếp trong ếch”. Họ đã tiến hành thí nghiệm phát lại âm thanh trong môi trƣờng sinh sống tự nhiên của ếch. Nhận thức sóng siêu âm từ động vật lƣỡng cƣ và xây dựng mô hình Trung bình thính giác - gợi lên tiềm năng (AEP) dữ liệu.
Monica Gagliano, Stefano Mancuso and Daniel Robert,2012 “Hƣớng tới hiểu biết về âm sinh học thực vật”. Nghiên cứu giới thiệu nguyên lý căn bản khi 3 để hiểu tại sao nhận thức về âm thanh và sự rung động có khả năng cũng đã tiến triển trong thực vật. Miguel Martínez Rạch, Héctor Migallón Gomis, 2013 một thiết kế âm sinh học cho phát hiện sớm loài mọt Red Falm. Nghiên cứu dựa trên sự theo dõi âm thanh của các Ấu trùng bên trong loài cây cọ để phát hiện ra loài mọt này.
Các kết quả sẽ đƣợc báo cáo đến trạm kiểm soát để cho các nhà quản lí vƣờn có thể phát hiện ra cây cọ nào bị loài mọt tấn công. Trên thế giới có khá nhiều những nghiên cứu về tiếng kêu phong phú của các loài động vật trên khắp hành tinh. Mỗi tác phẩm đều là những công trình nghiên cứu với nhiều mục đích có ý nghĩa cho khoa học. Âm sinh học vẫn luôn là một đề tài hay đƣợc các nhà khoa học trên Thế Giới nghiên cứu và tìm hiểu.
Ở Việt Nam Sách “Chim Việt Nam” do Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Philips (xuất bản năm 2000) đƣợc biên soạn dựa trên cuốn “Chim Hồng Công và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Cliver Viney, Lan Chiu Ying, Karen Philips. Trong sách tác giả đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo. Nghiên cứu về chim ở Việt Nam khá nhiều chủ yếu là mô tả, phân bố, tình trạng với hình vẽ kèm theo mục đích là giúp ngƣời đọc nhận dạng đƣợc các loài chim ở thực địa. Trƣơng Văn Lã và cộng sự, 1993 trong công trình “ nuôi thuần dƣỡng gà rừng tai trắng ở Vƣờn thú Hà Nội”.
Nhóm tác giả đã đƣa ra kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học và kĩ thuật nuôi và thuần dƣỡng phân loài Gà rừng tai trắng (Gallusgallus). Trƣơng Văn Lã và cộng sự, 1994 nghiên cứu về “khẩu phần thức ăn cho một số loài thuộc nhóm chim Trĩ của họ Trĩ (Phasianida) trong điều kiện nuôi nhốt”. Đặng Gia Tùng, Lê Sĩ Thục, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Giao 1995 nghiên cứu nhân nuôi nhân tạo loài Gà Lôi Lam đuôi trắng (Lophura 4 hantinhensis) tại vƣờn Thú Hà Nội.Nhóm tác giả đã xây dựng đƣợc khẩu phần thức ăn và các loại thức ăn ƣa thích cho một số loài chim thuộc giống Gà lôi(Lophura) bao gồm: Gà rừng tai trắng, Công, Gà tiền mặt vàng. Đặng Gia Tùng, 1998 một số đặc điểm sinh thái học của gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) trong điều kiện nuôi tại Vƣờn thú Hà Nội.
Các tác giả đã đƣa ra kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, khẩu phần thức ăn và kĩ thuật nhân nuôi loài Gà lôi lam đuôi trắng. Đỗ Thị Phƣơng Hoa, 2011 nghiên cứu kĩ thuật chăn nuôi Gà Lôi Trắng (Lophura nycthemera) tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng. Hiện nay trên toàn lãnh thổ Việt Nam đã tìm thấy 887 loài chim và phân loại chim thuộc 88 họ, 20 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011). Trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông Dƣơng.
Hiện nay tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng nói riêng và tại Việt Nam nói chung những nghiên cứu về tiếng kêu của động vật còn khá ít. Vì vậy việc nghiên cứu về đặc điểm tiếng kêu của loài Gà lôi lam mào trắng và Công là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học. Âm sinh học ở Việt Nam thì có rất ít nghiên cứu về đề tài này mặc dù trên Thế Giới đã có khá nhiều nghiên cứu về nó. Đây đang là một đề tài mới và sẽ tìm ra đƣợc nhiều đóng góp cho khoa học Việt Nam nói riêng và Thế Giới nói chung.
Loài Công và Gà lôi lam mào trắng 1. Loài Công Đặc điểm nhận dạng của Công, nhìn chung bộ lông ở con đực trƣởng thành có màu lục ánh thép. Đuôi dài, lông bao đuôi trên phát triển thành lông trang hoàng dài tới 1500mm, màu lục ánh đồng, lúc xoè ra có hình nan quạt thẳng đứng. Con cái có màu sắc tƣơng tự con đực, chỉ khác là đuôi ngắn hơn và không có lông trang hoàng.Mỏ xám sừng, mắt nâu, da quanh mặt vàng xanh.
Giò xám thẫm ánh xanh. Con đực và cái đều có cựa, nhƣng ở con 5 đực phát triển hơn con cái.