ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Đỗ Quang Huy et al., 2009) với nhiều kiểu rừng, đầm lấy, sông suối, rạn san hô,…tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Ở Việt Nam có hơn 300 loài thú và trong đó là khu vực sinh sống của 6 loài vượn của thế giới. Tuy nhiên trong 10 năm qua vượn ở Việt Nam suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên, chỉ còn một số ít ở khu bảo tồn. Nguyên nhân do các khu rừng ngày càng biến mất dần do sự gia tăng dân số, phá rừng bừa bãi và do tình trạng săn bắt của con người.
Ngay tại các khu bảo tồn, sinh cảnh sống của vượn cũng bị thu hẹp dần vì hoạt động khai thác gỗ bất hợp pháp, lấn chiếm đất nông nghiệp phát triển theo cơ sở hạ tầng phục vụ cho công trình thủy điện. Mặt khác các con đường mới xây dựng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho thợ săn vào rừng dễ dàng hơn. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm số lượng loài, làm cho nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hiện nay. Trong đó, chúng ta không thể không kể đến loài Vượn đen má vàng phía bắc (Nomascus annamensis), một loài có giá trị thẩm mỹ và giá trị đang dạng sinh học cao.
Vượn đen má vàng phía bắc (Nomascus annamensis) còn có tên khác là Vượn đen má hung trung bộ là một loại vượn mới được xác định vị trí phân loại vào năm 2010 (Văn Ngọc Thịnh et al.,2010) thuộc giống vượn mào Nomascus, họ Vượn Hylobatidae. Trước đây, Vượn đen má vàng phía bắc được xem là loài vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae) vì chúng có nhiều đặc điểm hình thái ngoài giống nhau và chúng còn có tiếng hót giống loài vượn siki (Nomascus siki) (Konrad & Geissmann, 2006; Văn Ngọc Thịnh et al. Dựa trên phân tích những khác nhau về âm học tiếng hót và gen, năm 2010, Văn Ngọc Thịnh et al. Vượn bị săn bắt vì mục đích thương mại như để làm vật nuôi trưng bày trong các vườn thú, làm nguyên vật dược liệu cho y học cổ truyền trong nước và cả xuất khẩu (Nguyễn Mạnh Hà, 2005; Văn Ngọc Thịnh et al., 2007; Nguyễn Quang Hoa Anh et al.
Rừng nơi sinh sống của vượn bị mất và bị chia cắt do khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp hoặc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp hoặc để xây dựng đường xá giao thông, đập thủy điện. Đang xảy ra trên khu vực phân bố của N. annamensis (Nguyễn Mạnh Hà, 2005; Nguyễn Quang Hoa Anh et al. Nhưng những dẫn liệu khoa học để đánh giá mức độ nguy cấp, đặc điểm tiếng kêu, phân bố của Vượn đen má vàng phía bắc vẫn còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Việc điều tra, nghiên cứu hiện trạng và sự phân bố các quần thể N.annamensis nói chung ở Việt Nam là điều rất cần thiết, cung cấp những dẫn liệu khoa học góp phần vào việc bảo tồn loài linh trưởng quý giá này. Với mục đích đó, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của Vƣợn đen má vàng phía bắc (Nomascus annamensis) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trưởng Việt Nam Cũng giống như hệ thống phân loại Linh trưởng trên thế giới, phân loại linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1 Tổng kết phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2003 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các tác giả đều cơ bản thống nhất rằng Linh trưởng Việt Nam có 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 24 đến 25.
Trong hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) đã xếp một số phân loài trước đây thành các loài riêng biệt và đưa ra hệ thống phân mới cho Linh trưởng Việt Nam. Đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi (bảng 1.2 Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) Trong các quan điểm phân loại học Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng (2000), Phạm Nhật (2002), hay của Roos và Grove (2004) đều cho rằng ở Việt Nam loài Nomascus gabriellae là Vượn má hung hay Vượn má vàng và chỉ có một loài phân bố chủ yếu ở Phía Nam Việt Nam. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới đây nhất của Văn Ngọc Thịnh (2010), Roos (2011) đã 4 thống nhất xác định loài Nomascus gabriellae bao gồm hai loài khác nhau là: Vượn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) và Vượn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae). Theo đó, ở nước ta hiện nay có 6 loài Vượn và đều thuộc về giống Vượn mào (Nomascus).
Họ vượn – Hylobatidae Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á (Geissmann et al, 2000). Chúng đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc. Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng. Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Geissmann et al, 2000) 1. Một số đặc điểm của giống Nomascus Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Geissmann et al, 2000). Đặc điểm sọ: Trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng.
Số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52 5 Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh. Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chấm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành. Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành (Grove, 2001).
Các loài trong giống Nomascus: Cũng giống như theo phân loại học về thú Linh trưởng, các tác giả khác nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus. Theo Geissmann et al (2000) bao gồm 5 loài: 1. Vượn đen (chưa định tên) Nomascus. Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) 3.
Vượn má trắng siki (N. gabriellae) Đến năm 2002, Phạm Nhật đã đưa ra quan điểm tương đối đồng nhất với Geissmann. Số loài thuộc giống Nomascus gồm 5 loài, chỉ khác là Vượn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) được thay cho Vượn đen (chưa định tên) và tên khoa học của Vượn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor). Năm 2004, Grove trong bảng phân loại thú Linh trưởng, tác giả vẫn giữ nguyên 5 loài Vượn thuộc giống Nomascus theo phân loại của Phạm Nhật.
Tuy nhiên, tên khoa học một số loài đã có sự thay đổi. 6 Vượn đen tuyền Nomascus concolor Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys Vượn siki Nomascus siki Vượn má hung Nomascus gabriellae Văn Ngọc Thịnh et al. (2010) thông qua tổng hợp các nghiên cứu vào dữ liệu phân tích về gen, âm học và hình thái mới nhất tại Việt Nam đã đưa ra kết luận có 6 loài thuộc giống Nomascus được liệt kê gồm: 1. Vượn đen tuyền Nomascus concolor 2.
Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 3. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 4. Vượn siki Nomascus siki 5. Vượn má vàng phía bắc Nomascus annamensis 6.
Vượn má vàng phía nam Nomascus gabriellae Hình 1.1: Sự khác biệt về âm học của các loài Vượn mào Nguồn: Văn Ngọc Thinh et al 2010. 7 Phân bố: Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố ở Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, phía Đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam), sông Mê Kông là giới hạn phía tây của các vùng phân bố của chúng và ngăn cách chúng với giống Hylobates (Geissmann, 2007). Những khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh gồm những mảnh rừng ít nhiều còn nguyên sinh, biệt lập và nhỏ (hình 1.