Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với hệ sinh thái phong phú, là nơi cư trú của khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã toàn cầu. Trong số hơn 300 loài thú hiện diện tại Việt Nam, khu hệ linh trưởng sở hữu 6 loài vượn thuộc giống vượn mào (Nomascus). Tuy nhiên, trong thập niên gần đây, các quần thể vượn trong tự nhiên suy giảm nghiêm trọng và chỉ còn phân bố cục bộ tại một số khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ sự gia tăng dân số, áp lực khai thác rừng trái phép, săn bắt thương mại phục vụ nhu cầu nuôi làm cảnh hoặc làm dược liệu y học cổ truyền, cùng với sự chia cắt sinh cảnh do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy điện.

Loài Vượn đen má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis), hay còn gọi là Vượn đen má hung Trung Bộ, được tách và xác định vị trí phân loại độc lập vào năm 2010 dựa trên phân tích âm học tiếng hót và dữ liệu di truyền phân tử. Trước thời điểm này, loài thường bị đồng nhất với Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae) hoặc Vượn siki (Nomascus siki). Dù được xếp vào nhóm loài nguy cấp (EN) có vùng phân bố hẹp ở khu vực tiếp giáp Việt Nam - Lào - Campuchia, các dẫn liệu khoa học về đặc điểm âm học, hiện trạng phân bố và quần thể của loài tại nhiều khu vực miền Trung Việt Nam vẫn còn thiếu hụt. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (tỉnh Quảng Nam), khu bảo tồn được quy hoạch theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ và thành lập Ban quản lý vào tháng 4/2016, thông tin ban đầu đã ghi nhận sự xuất hiện của loài nhưng chưa có cuộc điều tra định lượng cụ thể nào về quần thể và âm thanh.

Để đáp ứng yêu cầu cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý bảo tồn, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Mạnh Tùng xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

  • Mục tiêu chung: Cung cấp thông tin, dữ liệu khoa học nhằm góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng sinh học của động vật hoang dã tại Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được đặc điểm tiếng kêu của loài Vượn đen má vàng phía Bắc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam.
    2. Xác định được phân bố của loài Vượn đen má vàng phía Bắc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (Quảng Nam), từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp.
  • Nhiệm vụ/Nội dung nghiên cứu: (1) Xác định đặc điểm tiếng kêu; (2) Phân tích tập tính kêu theo thời gian trong ngày; (3) Xác lập khu vực phân bố của loài; (4) Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài tại khu bảo tồn.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Loài Vượn đen má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis).
    • Địa bàn nghiên cứu: Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam (tập trung tại các xã Trà Linh, Trà Cang, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Leng thuộc huyện Nam Trà My).
    • Thời gian thực hiện: Từ ngày 15/01/2017 đến ngày 11/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại học linh trưởng của Groves (2001, 2004), Roos (2004, 2011) và Văn Ngọc Thịnh cùng cộng sự (2010), xác lập vị trí của loài thuộc bộ Linh trưởng (Primates), họ Vượn (Hylobatidae), giống vượn mào (Nomascus, bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52). Nghiên cứu kế thừa lý thuyết âm học sinh vật học (bioacoustics) của các loài linh trưởng dạng vượn mào: đặc trưng phát âm bằng các chuỗi âm thanh dài, phức tạp, ngân vang (thường gọi là tiếng hót), có sự khác biệt rõ rệt giữa tiếng kêu con đực (male call), tiếng hót lớn của con cái (great call) và cá thể bán trưởng thành. Âm thanh của vượn có khả năng truyền xa trong tán rừng nhiệt đới từ 1,0 đến 1,5 km. Cơ sở sinh cảnh được phân loại theo hệ thống thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978), tương thích với phân loại rừng nhiệt đới của MacKinnon (1986, 1997) và Whitmore (1975).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm kết hợp điều tra ngoại nghiệp và xử lý số liệu nội nghiệp được triển khai như sau:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa các công bố khoa học về phân loại, phân bố và phổ âm của giống Nomascus; các số liệu khí tượng thủy văn, bản đồ địa hình nền của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Việt; hệ thống văn bản pháp lý thành lập khu bảo tồn.
  • Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:
    • Phỏng vấn: Phỏng vấn cán bộ quản lý khu bảo tồn, kiểm lâm viên, nhân viên tuần rừng, thợ săn và người dân bản địa nhằm khoanh vùng các khu vực nghi nhận sự hiện diện của vượn, mùa bắt gặp, số vụ săn bắt trái phép và các mối đe dọa sinh cảnh.
    • Điều tra thực địa bằng máy ghi âm tự động: Thiết lập 6 trại điều tra thực địa (5 trại nằm trong ranh giới khu bảo tồn và 1 trại nằm ngoài ranh giới). Sử dụng 3 máy ghi âm phổ rộng chuyên dụng SM3 (Wildlife Acoustics Inc.) đặt cách nhau khoảng 1 km, gắn trực tiếp vào thân cây rừng ở các vị trí đỉnh hoặc dông núi trong sinh cảnh ưa thích. Máy được cài đặt tự động thu âm từ 04h00 đến 08h00 sáng hàng ngày; pin và thẻ nhớ được kiểm tra, thay thế định kỳ. Tổng cộng có 18 điểm đặt máy được định vị tọa độ GPS tại các xã Trà Tập, Trà Nam, Trà Linh và Trà Leng. Đồng thời, ghi nhận các điểm tác động tiêu cực như khai thác gỗ, lán trại trái phép.
  • Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp:
    • Phân tích âm học: Các tệp âm thanh được trích xuất và phân tích bằng phần mềm chuyên dụng Raven Pro 1.5 (Cornell Lab of Ornithology) để lập phổ âm thanh (spectrogram). Các thông số đo đạc bao gồm: tần số âm thanh (kHz), tần số cực đại, tần số cực tiểu, độ dài tiếng kêu, số nốt âm, khoảng cách giữa các tiếng kêu. Dữ liệu sau đó được xử lý thống kê mô tả trên Microsoft Excel. Phổ âm thu được được so sánh đối chiếu với mẫu phổ âm chuẩn của Văn Ngọc Thịnh et al. (2010) và Konrad & Geissmann (2006).
    • Xác định phân bố: Dựa trên tọa độ GPS các máy thu âm ghi nhận được tiếng vượn và bán kính nghe rõ (1 - 1,5 km), xây dựng bản đồ phân bố của loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh bằng phần mềm ArcGIS và MapInfo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này khái quát toàn diện lịch sử phân loại linh trưởng Việt Nam, khẳng định sự thống nhất khu hệ linh trưởng trong nước có 3 họ chính: Cu li (Loridae), Khỉ (Cercopithecidae) và Vượn (Hylobatidae) với 24 - 25 loài/phân loài. Riêng giống vượn mào (Nomascus), từ quan điểm 5 loài của Groves (2004) và Phạm Nhật (2002), đến năm 2010 công trình của Văn Ngọc Thịnh và cộng sự đã chính thức xác định có 6 loài tại Việt Nam nhờ kết hợp dữ liệu gen, hình thái và âm học.

Vượn đen má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) có trọng lượng cơ thể trung bình 7 - 8 kg, 2n = 52. Con đực mang bộ lông đen ánh bạc, lông má hung vàng không lan lên phía trên mặt; con cái trưởng thành có màu lông vàng da cam pha be nhạt kèm đốm đen trên đỉnh đầu. Loài sống thành gia đình nhỏ từ 2 - 4 cá thể, hoạt động ban ngày và thường cất tiếng hót đồng ca vào sáng sớm trước khi mặt trời mọc, ngưng hót vào những ngày mưa. Vùng phân bố toàn cầu của loài là đặc hữu Đông Dương, giới hạn trong khu vực Trung Bộ Việt Nam, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Tại Việt Nam, loài phân bố từ phía Bắc sông Thạch Hãn (Quảng Trị, khoảng 16°40' - 16°50' B) đến phía Nam sông Ba (Gia Lai, Phú Yên, khoảng 13°00' - 13°10' B). Dù các quần thể tại Phong Điền, Đak Rông, Sông Thanh hay Kon Ka Kinh đã được khảo sát bước đầu, dữ liệu tại Ngọc Linh (Quảng Nam) vẫn chưa được làm rõ.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết mục tiêu, đối tượng, địa điểm, nội dung nghiên cứu và các bước thực hiện. Khóa luận mô tả cụ thể quy trình kỹ thuật bố trí 6 lán trại và 18 điểm đặt máy ghi âm SM3 tại 4 xã (Trà Tập, Trà Nam, Trà Linh, Trà Leng). Tác giả làm rõ nguyên lý ghi âm thụ động từ 4h00 đến 8h00 sáng, phương pháp phân tích phổ âm bằng phần mềm Raven Pro 1.5 kết hợp Microsoft Excel để định lượng tần số, thời lượng tiếng hót, cũng như việc ứng dụng ArcGIS và MapInfo để số hóa bản đồ không gian phân bố loài.

Chương 3: Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 tổng hợp dữ liệu toàn diện về khu vực nghiên cứu với diện tích đề xuất 18.430 ha, nằm trong khoảng tọa độ từ 15°01'00'' đến 15°15'30'' vĩ độ Bắc và từ 107°55'20'' đến 108°05'40'' kinh độ Đông. Địa hình vùng khảo sát bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 40 - 45°, nhiều nơi lên tới 60 - 65°, độ cao biến thiên từ 150 m tại sông Tranh đến 2.598 m tại đỉnh Ngọc Linh. Vành đai có độ cao trên 1.000 m chiếm tới 50% tổng diện tích khu bảo tồn.

Đai cao Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Rừng tự nhiên (ha) Tỷ lệ rừng tự nhiên (%)
< 500 m 1.566 8,5 1.056 7,5
500 - 1.000 m 6.112 33,2 4.593 32,8
1.000 - 1.500 m 5.292 28,7 4.084 29,2
1.500 - 2.000 m 3.008 16,3 1.896 13,6
2.000 - 2.500 m 2.386 12,9 2.311 16,5
> 2.500 m 66 0,4 66 0,4
Tổng cộng 18.430 100,0 14.006 100,0

Về tài nguyên rừng, rừng tự nhiên đạt 14.006 ha (chiếm 76% diện tích), gồm 6.940,8 ha rừng giàu (37,7%), 2.910,6 ha rừng trung bình (15,8%), 3.525,9 ha rừng nghèo (19,1%) và 628,5 ha rừng phục hồi (3,4%). Thảm thực vật phân hóa thành 4 kiểu chính: rừng lá rộng thường xanh núi cao, rừng lá rộng thường xanh núi trung bình, rừng lá rộng thường xanh núi thấp và kiểu phụ thứ sinh nhân tác. Khảo sát ghi nhận 385 loài thực vật bậc cao có mạch (16 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam, 16 loài trong Danh lục đỏ IUCN, 4 loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam: Lasianthus calycinus, Litosanthes biflora, Alpinia strobiliformis, Mischobulbon cordifolium). Khu hệ động vật gồm 51 loài thú (11 loài Sách đỏ Việt Nam, 9 loài IUCN như Voọc ngũ sắc, Khỉ mặt đỏ, Gấu ngựa, Báo gấm, Hổ), 171 loài chim (15 loài bị đe dọa, nổi bật có loài đặc hữu Khướu Ngọc Linh Garrulax ngoclinhensis) và 40 loài bò sát, ếch nhái.

Vùng đệm khu bảo tồn có diện tích 63.108 ha thuộc 6 xã, với 1.729 hộ và 11.591 nhân khẩu. Dân cư gồm 3 dân tộc chính: Xê Đăng (41,3%), Cà Dông (29,9%) và Mơ Nông (23,8%). Kinh tế mang tính tự cung tự cấp, nương rẫy du canh còn phổ biến, tỷ lệ học sinh đến trường bình quân chỉ đạt 76% (thấp nhất tại Trà Leng là 60%), hệ thống y tế thiếu thốn với tỷ lệ bình quân 2 y sĩ và 1 y tá phục vụ 1.932 người, bệnh sốt rét và đường ruột xảy ra thường xuyên.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Thông qua phần mềm Raven Pro 1.5, tác giả đã xử lý các tệp âm thanh thực địa và trích xuất thành công 294 phổ âm thanh của loài Vượn đen má vàng phía Bắc. Kết quả định lượng ghi nhận 228 phổ âm của cá thể đực và 66 phổ âm của cá thể cái. Tần suất phát tiếng kêu của cá thể đực cao vượt trội, gấp 3,4 lần so với cá thể cái.

Chương này phân tích hình thái phổ âm của tiếng kêu cá thể đực và cá thể cái thu được tại các xã Trà Leng và Trà Linh. Phổ âm tiếng kêu của vượn đực có cấu trúc âm điệu ngân nga, biến thiên tần số đặc trưng theo chuỗi âm liên tục, trong khi tiếng kêu cá thể cái (great call) có cường độ to, âm sắc khàn và biên độ tần số mở rộng. Tần suất kêu tập trung chủ yếu vào khung giờ sáng sớm từ 04h00 đến 08h00, đạt đỉnh điểm trước lúc mặt trời mọc và giảm dần khi điều kiện thời tiết có mưa. Kết hợp vị trí 18 điểm đặt máy ghi âm với phạm vi truyền âm 1 - 1,5 km, nghiên cứu đã lập bản đồ xác định các vùng phân bố thực tế của các đàn vượn tại các dải rừng thường xanh thuộc các xã Trà Leng, Trà Linh, Trà Nam và Trà Tập.

Dựa trên các dấu hiệu đe dọa trực tiếp ghi nhận ngoài thực địa (khai thác gỗ lậu, lán trại của người đi rừng, săn bắt), chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp bảo tồn tập trung vào việc quản lý ranh giới rừng, kiểm soát bẫy bắt và nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể kèm số liệu xác thực sau:

  • Về âm học: Trích xuất và phân tích thành công 294 phổ âm thanh của loài Nomascus annamensis tại thực địa, trong đó xác định 228 phổ âm của cá thể đực và 66 phổ âm của cá thể cái. Tần suất phát ra âm thanh của vượn đực cao gấp 3,4 lần vượn cái. Tiếng kêu phát ra chủ yếu trong khoảng thời gian từ 04h00 đến 08h00 sáng.
  • Về phân bố không gian: Xác lập được mạng lưới 18 điểm thu âm tại 4 xã trọng điểm (Trà Leng, Trà Linh, Trà Tập, Trà Nam), từ đó khoanh vẽ và số hóa bản đồ các khu vực phân bố thực tế của loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh.
  • Về điều kiện sinh cảnh và các mối đe dọa: Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về 14.006 ha rừng tự nhiên, đánh giá tính đa dạng của 385 loài thực vật và 51 loài thú tại khu bảo tồn; đồng thời ghi nhận tọa độ các điểm khai thác gỗ, lán trại gây áp lực trực tiếp lên quần thể vượn.
  • Đề xuất giải pháp bảo tồn:
    • Tăng cường tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt các vùng lõi rừng thường xanh nơi phát hiện tiếng hót của các đàn vượn tại xã Trà Leng và Trà Linh.
    • Tháo dỡ các lán trại trái phép, ngăn chặn tình trạng sử dụng súng săn và bẫy bắt thú trong khu bảo tồn.
    • Triển khai chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng đồng bào dân tộc Xê Đăng, Cà Dông, Mơ Nông tại các xã vùng đệm; hỗ trợ định canh định cư nhằm giảm thiểu tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên áp dụng phương pháp giám sát âm học thụ động tự động (sử dụng máy ghi âm SM3 kết hợp phần mềm Raven Pro 1.5) để định lượng các thông số âm thanh và lập bản đồ phân bố của Vượn đen má vàng phía Bắc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh sau khi khu bảo tồn được thành lập, bổ sung khoảng trống dữ liệu khoa học thực địa cho loài linh trưởng nguy cấp này ở khu vực miền Trung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2017). Số lượng trang thiết bị điều tra còn giới hạn (3 máy ghi âm SM3 luân chuyển qua 18 điểm đặt) nên chưa thể bao phủ đồng thời toàn bộ diện tích 18.430 ha của khu bảo tồn. Khóa luận chưa theo dõi biến động tiếng kêu theo tất cả các mùa trong năm và chưa thể định lượng chính xác tuyệt đối cấu trúc thành phần đàn bằng phương pháp quan sát trực tiếp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng thời gian quan trắc dài hạn qua nhiều mùa (đặc biệt là mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 6 khi vượn mẹ mang con non); gia tăng mật độ và số lượng trạm thu âm tự động trên toàn bộ các xã vùng đệm; kết hợp phương pháp âm học với quan sát trực tiếp theo tuyến để kiểm kê chính xác số lượng cá thể và đánh giá chi tiết cấu trúc đàn của loài tại khu vực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Động vật rừng, Sinh học thực nghiệm và Bảo tồn đa dạng sinh học.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Quy trình thiết kế mạng lưới trạm quan trắc âm học ngoài thực địa và kỹ thuật ứng dụng thiết bị ghi âm chuyên dụng SM3 kết hợp phần mềm Raven Pro 1.5 trong nghiên cứu âm học sinh vật học (bioacoustics).
  • Phương pháp tích hợp dữ liệu tọa độ âm học vào phần mềm ArcGIS và MapInfo để xây dựng bản đồ phân bố động vật rừng nguy cấp.
  • Bộ dữ liệu tổng quan về phân loại thú linh trưởng Việt Nam, cùng các số liệu điều tra cơ bản về địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật và dân sinh kinh tế - xã hội tại huyện Nam Trà My, phục vụ trực tiếp cho công tác xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu phổ âm của loài Vượn đen má vàng phía Bắc và tỷ lệ tiếng kêu giữa hai giới tính ra sao?

Qua phân tích các tệp ghi âm thực địa bằng phần mềm Raven Pro 1.5, tác giả đã trích xuất được tổng cộng 294 phổ âm thanh, bao gồm 228 phổ âm của cá thể đực và 66 phổ âm của cá thể cái. Số lần phát ra tiếng kêu của vượn đực cao gấp 3,4 lần so với vượn cái.

2. Thiết bị và thời gian biểu ghi âm thực địa được tác giả thiết lập như thế nào?

Nghiên cứu sử dụng 3 máy ghi âm phổ rộng chuyên dụng SM3 (Wildlife Acoustics Inc.) đặt cách nhau khoảng 1 km, gắn trên thân cây tại các dông, đỉnh núi thuộc 18 điểm đặt máy ở 6 trại khảo sát. Máy được cài đặt tự động thu âm từ 04h00 đến 08h00 sáng hàng ngày.

3. Sự khác biệt cơ bản về âm học giữa cá thể vượn đực và cá thể vượn cái trong khóa luận là gì?

Âm điệu tiếng hót của cá thể đực trưởng thành mang tính ngân nga, chuỗi nốt kéo dài và có tần suất phát âm cao; trong khi tiếng hót của con cái trưởng thành (great call) có âm lượng lớn, chất âm đanh, khàn hơn và có vai trò phối hợp tạo nên bản đồng ca báo hiệu lãnh thổ của đàn.

4. Hiện trạng thảm thực vật và tài nguyên rừng tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh được thống kê như thế nào?

Toàn khu bảo tồn có 14.006 ha rừng tự nhiên, chiếm 76% tổng diện tích đề xuất (18.430 ha). Trong đó, rừng giàu chiếm 6.940,8 ha (37,7%), rừng trung bình chiếm 2.910,6 ha (15,8%), rừng nghèo chiếm 3.525,9 ha (19,1%) và rừng phục hồi chiếm 628,5 ha (3,4%). Rừng có độ che phủ tán trên 10 m chiếm khoảng 70 - 80% diện tích.

5. Những mối đe dọa trực tiếp nào đối với loài Vượn đen má vàng phía Bắc được tác giả phát hiện tại khu vực nghiên cứu?

Các mối đe dọa ghi nhận thực tế gồm có: tình trạng khai thác gỗ rừng tự nhiên bất hợp pháp; sự hiện diện của các lán trại thợ săn trong vùng lõi; hoạt động bẫy bắt thú hoang dã; và việc phát vén rừng làm nương rẫy du canh của cộng đồng dân cư các xã vùng đệm do điều kiện kinh tế khó khăn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Mạnh Tùng đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực địa về đặc điểm âm học và phân bố không gian của loài Vượn đen má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam. Thông qua phương pháp điều tra âm học thụ động bằng máy ghi âm SM3 và phần mềm Raven Pro 1.5, nghiên cứu đã phân tích 294 phổ âm thanh thực địa và xác lập bản đồ phân bố của loài tại 4 xã trọng điểm Trà Leng, Trà Linh, Trà Tập và Trà Nam. Các kết quả định lượng về tần suất kêu, sự sai khác âm học giữa cá thể đực và cái cùng các phát hiện về sinh cảnh rừng tự nhiên đóng vai trò là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý, giám sát và hoạch định giải pháp bảo tồn loài linh trưởng nguy cấp này.