ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu rừng đặc dụng của Việt Nam gồm 164 khu (bao gồm 30 Vƣờn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trƣng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nƣớc và trên biển đã và đang đƣợc xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nƣớc. Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trƣớc mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mãi mãi về sau. Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã đƣợc thành lập năm 1995 theo Công văn số 26/TTUB-NL2 ngày 22-3-1995. Với tổng diện tích tự nhiên 35.159 ha, trong đó khu bảo tồn 24.801 ha, rừng phòng hộ 10.
Khu bảo tồn này nằm trên địa bàn 3 huyện 3 huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hƣơng Khê. Nơi đây là khu vực sinh sống của rất nhiều loài động thực vật trong đó có một số loài đang nằm trong sách đỏ của hệ thống đông thực vật của Việt Nam: Lim xanh ( Erythrophleum fordii), Sến mật (Madhuca pasquieri), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Vàng tâm (Manglietia fordiana). Các loại động vật quý hiếm nhƣ: Trĩ sao (Rheinartia ocellata ocellata), Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis), Vƣợn đen má trắng (Hylobates gabriellae), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis),Hổ (Panthera tigris), Bò tót (Bos gaurus)…. Ngoài ra,nơi đây có rất nhiều loài bò sát, lƣỡng cƣ và ếch nhái sinh sống và phát triển ở nơi đây nhƣ Tắc kè (Gecko gecko), Rắn mối (hoặc thằn lằn bóng), (Mabuya multifasciata), Rắn nƣớc (Natrix piscator), Ếch cây cựa ( Rhacophorus robertingeri), Ếch cây màng bơi đỏ( Rhacophorus rodopus).
tạo nên cho một vùng đất đa dạng vê sinh học rất cao. Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầu cuộc sống nên ngƣời dân nơi đây đã có các hoạt động sản xuất cũng chặt phá rừng và săn bắt mua bán động vật hoang dã nói chung và các loài bò sát - ếch nhái nói riêng diễn ra và đã làm ảnh hƣởng 1 không nhỏ đến đa dạng sinh học ở khu bảo tồn.Vì vậy việc bảo vệ và kiểm soát nguồn tài nguyên là vô cùng cần thiết hiện nay. Để làm đƣợc việc này, những ngƣời quản lí cần cần nắm bắt những thông tin về tình trạng phân bố và các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh. Xuất phát từ thực tiễn đó đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ bò sát ếch nhái tại khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ- Hà Tĩnh” đƣợc thực hiện với mục đích cung cấp những thông tin cơ bản nhằm giúp công tác quản lí và bảo tồn tài nguyên một các bền vững.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐÊ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về phân loại ếch nhái - bò sát ở Việt Nam Có nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân loại Bò sát, Ếch nhái ở nƣớc ta. Trƣớc đây, chủ yếu dựa vào sự khác nhau về hình thái bên ngoài nhƣ: Sự khác nhau về đầu mõm, chân, đuôi, môi trƣờng sống,. Chẳng hạn, những loài sống dƣới nƣớc thƣờng có đuôi hoặc chân có màng bơi ( họ cá cóc), những loài sống chui thƣờng không có chân( họ ếch giun), các loài sống ở cây thƣờng có ngón chân rộng thành đĩa bám ( họ ếch cây).
Theo Nguyễn Quang Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) thống kê đƣợc ở 258 loài Bò sát và 82 loài Ếch Nhái. Đến năm (2005) Nguyễn Quang Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng phát hiện 296 loài Bò sát, 162 loài Ếch nhái. Đây là kết quả của các nghiên cứu đƣợc thực hiện ở nhiều nơi trên khắp cả nƣớc nhất là ở vùng núi sâu vùng núi xa. Sau đó đến năm 2008 các tác giả trên đã công bố và tổng hợp đƣợc 369 loài Bò sát và 176 loài Ếch nhái.
Nguyễn Quảng Trƣờng, Phùng Mỹ Trung (2013) phát hiện 5 loài Ếch nhái và 10 loài Bò sát mới, đƣợc các nhà nghiên cứu công bố dựa trên các tƣ liệu khoa học thu thập đƣợc trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam hay tham khảo mẫu vật đang lƣu trữ ở các bảo tàng động vật. Loài mới đƣợc phát hiện ngay trong nhà ở vùng đồng bằng hay trong các khu rừng nhiệt đới ở vùng núi cao. Các công trình công bố về những phát hiện mới liên tục đƣợc xuất bản chứng tỏ hiệu quả hợp tác trong nghiên cứu của các nhà khao học Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực khám phá đa dạng sinh học ở các nƣớc nhiệt đới, nơi có nhiều tiềm năng đa dạng sinh học rất cao nhƣng cũng chịu nhiều áp lực do tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu. Qua đây cho thấy Bò sát, Ếch nhái ở nƣớc ta đƣợc nhiều tác giả quan tâm.
Các loài đƣợc phát hiện không ngừng đƣợc tăng lên theo thời gian, các công trình khám phá không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt 3 Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa học Việt Nam và nƣớc ngoài. Bảng tổng kết phân loại Bò sát, Ếch Nhái theo thời gian Bò sát Ếch nhái Nguồn thông tin Năm Bộ Họ Loài Bộ Họ Loài Nguyên Quang Sáng và Hồ Thu Cúc 1996 3 23 258 3 9 82 Nguyên Quang Sáng và Hồ Thu Cúc Nguyên Quang Sáng, Hồ Thu Cúc và 2005 3 23 296 3 9 162 Nguyễn Quang Trƣờng Nguyên Quang Sáng, Hồ Thu Cúc và 2008 3 24 369 3 10 176 Nguyễn Quang Trƣờng Nguyễn Quang Trƣờng và Phùng Mỹ 2013 3 24 379 3 10 181 Trung Qua bảng trên ta thấy đƣợc thành phần loài phát hiện tăng theo các năm do kinh tế đất nƣớc ngày càng đƣợc ổn định từ đó thành lập KBT hoặc VQG để giám sát, điều tra và bảo tồn nguồn tài nguyên. Thành phần loài tăng tuy nhiên về số lƣợng giảm có thể do vậy cần tiến hành các nghiên cứu để bảo tồn các loài nguy cấp quý hiếm. Lƣợc sử nghiên cứu Bò sát - Ếch nhái ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các loài bò sát ếch nhái đƣợc tiến hành thực hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên cả nƣớc từ những thập kỉ trƣớc.
Và Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ bò sát, ếch nhái đƣợc thực hiện bởi Morice (1875) ở miền Nam Việt Nam. Tác giả đã thống kê đƣợc 114 loài bò sát và 13 loài ếch nhái. Tirant (1885), trong một công trình nghiên cứu về bò sát, ếch nhái Việt Nam và Campuchia, đã xác đinh đƣợc 116 loài bò sát, ếch nhái. Trong đó có 17 4 loài ếch nhái: 16 loài thuộc bộ không đuôi (Anura) và một loài thuộc bộ không chân (Gymnophiona).
So với Morice (1875), số loài phát hiện còn nhiều hơn do mở rộng khu vực nghiên cứu. Trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 công trình của Bourret R. đã thống kê mô tả đƣợc 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dƣơng, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của Buorret R.
có nói nhiều đến Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ. Ông công bố bổ sung nhiều loài cho danh mục Bò sát, Ếch nhái (Buorret R. Trong giai đoạn 1945 đến 1954 không có ghi nhận mới cho khu hệ Ếch nhái ở Việt Nam do ảnh hƣởng của chiến tranh. Sau khi miền Bắc Việt Nam đƣợc giải phóng (năm 1954) và từ năm 1956 nghiên cứu Ếch nhái đƣợc tiếp tục và đẩy mạnh.
Trong thời gian này, các công trình nghiên cứu về ếch nhái do các nhà khoa học trong nƣớc đảm nhiệm. Kết quả điều tra đạt đƣợc nhƣ: năm – 1976 Trần Khiêm cùng cộng sự đã ghi nhận đƣợc 68 loài ếch nhái. Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố danh lục và khóa đinh loại cho 87 loài ếch nhái ở Việt Nam, trong đó có 85 loài ếch nhái không đuôi, 1 loài cá cóc và 1 loài ếch giun. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khóa định loại Thằn Lằn Việt Nam và thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam.
Năm 1981- 1982, nghiên cứu các đặc điểm phân loại, xây dựng khóa định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 loài rắn thuộc 9 họ và 69 giống. Năm 1985, Trần Kiên, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Sáng báo các danh lục khu hệ Bò sát, ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài Bò sát, 90 loài ếch nhái. Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài. Những nghiên cứu về ếch nhái đƣợc đẩy mạnh từ những năm 1990 trở lại đây.
Việc thành lập các VQG và KBTTN đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá cụ thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo cơ sở cho việc 5 lập kế hoạch quản lý. Vì vậy danh lục các loài động vật trong đó đƣợc công bố và bổ sung thêm qua nhiều đợt khảo sát. Từ năm 1992-1997, Lê Nguyên Nhật và cộng sự đã xác định danh sách các loài ếch nhái tại: KBTTN Hoàng Liên Sơn có 25 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ; VQG Cúc Phƣơng có 17 loài thuộc 3 họ, 1 bộ; Tây Nam Nghệ An có 17 loài thuộc 5 họ, 1 bộ; Ngọc Lĩnh (Kon Tum) có 19 loài thuộc 5 họ, 2 bộ. Năm 1993, Hoàng Xuân Quang đã công bố công trình nghiên cứu khu hệ bò sát, ếch nhái tại khu vực Bắc Trung Bộ và xác định đƣợc 34 loài ếch nhái thuộc 7 hộ, 2 bộ.
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã thống kê thành phần loài, phân bố, giá trị và tình trạng của 82 loài ếch nhái Việt Nam thuộc 9 họ, 3 bộ. Năm 2005, theo số liệu của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự thì số lƣợng ếch nhái Việt Nam đã lên tới 162 loài. Gần đây nhất, năm 2009 danh lục ếch nhái – bò sát Việt Nam đã đƣợc công bố lên đến 174 loài ếch nhái thuộc 11 họ và 3 bộ. Thông qua những công trình điều tra và nghiên cứu đã bổ sung thêm gần 100 loài mới cho danh lục ếch nhái Việt Nam so với danh lục trƣớc đó của Đào Văn Tiến năm 1977.
Các phƣơng pháp chủ yếu là điều tra theo tuyến và theo điểm. Các kết quả cũng chỉ ra các mối đe dọa chính đối với khu hệ ếch nhái Việt Nam bao gồm: khai thác quá mức, mất hoàn cảnh sống… 1.