ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng Việt Nam rất phong phú và đa dạng là nơi sinh tồn của hàng trăm, hàng nghìn loài động, thực vật nhƣng một thực trạng đáng buồn là trong những năm gần đây dƣới áp lực của sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số, chặt phá rừng lấy đất xây dựng nhà ở và các nhà máy đã tác động lên nguồn tài nguyên rừng. Những cây gỗ, cây thuốc có giá trị bị thƣơng mại hóa do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng đang bị tàn phá nhƣờng chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, làm cho rừng không những bị suy thoái về số lƣợng mà cả chất lƣợng, bên cạnh đó việc nghiên cứu gây trồng còn hạn chế chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của thị trƣờng cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của những loài cây quý hiếm trong tự nhiên. Hiểu đƣợc vai trò của tài nguyên rừng và hiên trạng suy giảm nhanh chóng của chúng chính phủ ta đã có nhiều biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này nhƣ: ban hành Sách Đỏ Việt Nam, luật Đa Dạng Sinh Học, Nghị Định 32/2006 NĐ-CP….
Bên cạnh các văn bản pháp luật chúng ta áp dụng hàng loạt các biện pháp khác nhƣ: Khoanh nuôi bảo vệ, sử dụng tài nguyên hợp lý, gây trông rừng… Coi bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng là nhiệm vụ thƣờng xuyên và lâu dài nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ các loài quý hiếm. Đặc biệt là các loài có giá trị cao về kinh tế và đa dạng sinh học. Tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì là một trong những VQG (Vƣờn Quốc gia) có giá trị cao về đa dạng sinh học của Việt Nam, thực vật phong phú, đa dạng. Theo danh lục thực vật VQG Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ.Với một số loài đặc trƣng nhƣ: Mỡ Ba Vì (Maglolia baviensis), Sặt Ba Vì (Fargesia baviensis), Thu hải đƣờng Ba Vì (Begonia baviensis)… Nhiều loài cây quý hiếm đƣợc xếp vào sách đỏ Việt Nam nhƣ: Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.), Chu sa liên (Aristolochia tuberosa), Bách xanh (Calocedrus macrolepis)… 1 Hoa tiên là một loài thực vật quý, đƣợc ghi tên trong sách đỏ Việt Nam.
Đây là loài có giá trị nguồn gen và giá tri kinh tế cũng rất cao. Theo kinh nghiệm của bà con nơi đây, Hoa tiên có nhiều công dụng trong y học làm thuốc chữa bệnh, rễ và thân rễ dùng làm thuốc ho, chữa viêm họng, hoa làm thuốc bổ. Tuy nhiên số lƣợng loài ngoài tự nhiên có xu hƣớng giảm nhanh do bị khai thác quá mức, và ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu, công tác bảo tồn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Do chúng ta chƣa biết rõ về khu vực phân bố và điều kiện sống của chúng ngoài tự nhiên nên khó khăn cho công tác bảo vệ và bảo tồn, phát triển loài Hoa tiên.
Để có những hiểu biết sâu hơn về loài Hoa tiên nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ và bảo tồn tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Hoa tiên(Asarum glabrum Merr.) phục vụ công tác bảo tồn loài tại Vườn Quốc gia Ba Vì” 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới về loài Hoa tiên Trên thế giới, hiện còn khoảng 90 loài thuộc chi Asarum L. tập chung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á một vài loài ở khu vực Bắc Mĩ, một vài loài đặc hữu ở khu vực Châu Âu 39 loài ở Trung Quốc trong đó có 34 loài đặc hữu. Việt Nam có 7 loài thuộc chi Asarum L. Tại Trung Quốc thì chúng đƣợc phân bố ở Quảng Đông, Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc.
Chi Hoa tiên hay còn gọi là chi tế Tân (Asarum L.) là loài cây thân thảo trong họ Mộc hƣơng (Aristolochiaceae juss). Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo sống nhiều năm, cao 20-30 cm. Thân rễ tròn có đốt; mang nhiều rễ phụ dài; có thể phân nhánh. Lá mọc so le, gồm 2-3 cái; cuống dài, nhẵn, khi non màu tía sau chuyển thành màu lục nhạt.
Phiến lá mỏng, hình tim nhọn đầu, 13-18 x 8-12 cm; gốc lá tạo thành 2 thuỳ, gần nhọn, cách xa nhau; mặt trên lá nhẵn, mặt dƣới có lông thƣa ở gân; mép nguyên. Hoa thƣờng chỉ có 1 cái, mọc ở kẽ lá; cuống hoa ngắn màu tím nâu, thƣờng mọc rủ xuống, nhƣng hoa lại hƣớng cong lên. Lá bắc 3, hình tam giác nhọn, tồn tại cùng với quả. Bao hoa màu nâu xám hình phễu hơi cong; đầu chia thành 3 thuỳ tam giác hay hình mác; họng màu tím nâu có vân trắng.
Nhị 12, chỉ nhị ngắn, màu đỏ tím; trung đới tròn đầu, vƣợt lên trên bao phấn. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu nâu xám nhạt. Hạt nhỏ, màu đen. Ƣa thích các khu vực ẩm ƣớt, nhiều bóng râm và đất nhiều mùn.
Chi này phân bố rộng rãi ở châu Mỹ, châu Á, châu Âu. Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 5-6, quả tháng 6-8. Hạt phát tán gần, nên thấy cây con xung quanh gốc cây mẹ. Thân rễ đôi khi cũng đẻ nhánh con, có thể lấy để trồng.
Cây đặc biệt ƣa ẩm, ƣa bóng; thƣờng mọc trên đất nhiều mùn dọc theo hành lang khe suối, dƣới tán rừng kín thƣờng xanh ẩm, ở độ cao 1000-1600 m. Loài Hoa tiên hƣờng có giá trị y học rất cao, đƣợc dùng làm thuốc chữa bệnh ho, tê thấp, khó tiêu, đau bụng, bệnh đƣờng ruột. Lá tƣơi vò hoặc giã nát, đắp bó chữa trẹo chân, sai khớp. Không dùng cho phụ nữ có thai uống.
3 Vùng Đông Nam Á đƣợc coi là trung tâm đa dạng và phong phú nhất của chi Hoa tiên (Asarum L.) Wu-Zheng-yi et al(2003) đã công bố trong thực vật chí Trung Quốc có 39 loài và 4 thứ thuộc chi Asarum L: Yong Wang et al.(2004) đã bổ sung thêm một loài mới cho chi Asarum ở Trung Quốc là Asarum campiniflorum Wang Yong & Wang Q.nov…, nâng tổng số loài lên 40 loài.(1995, 2010) công bố chi Asarum L trên tạp chí Taiwania có 6 loài gồm ( A.tiapingshanianum); Chang-tse Lu et al. (2010) đã bổ sung thêm 5 loài mới ở đoài loài là A.satsumense, nâng tổng số lên 11 loài thuộc chi Asarum L. Hwang Shu-mei và Wang siu Tak-Ping (1990) đã phát hiện loài mới thuộc chi Asarum và đặt tên là A. Cho đến nay, A.hongkongense là loài duy nhất của chi Asarum mới gặp phân bố tại Hồng Kong.
Ohwi J (1965) đã thống kê có 4 loài Asarum caulesens Maxim, A. Cho đến năm 1991, satake và Momyama (1982) và Sugawara T (1991) đã thống kê đƣợc 40 loài thuộc chi Asarum tại Nhật Bản. Trong những nghiên cứu tiếp theo ,Sugawara T (1996) đã bổ sung thêm 2 loài mới A. Cho hệ thực vật của quốc gia này.
Oh Byohung-Un và nnk (1997) đã công bố một loài mới là A.kim, nâng tổng số loài thuộc chi Asarum lên 7 loài và 3 thứ Ở Malaysia,hiện có 6 loài A. Ở Bắc Mĩ có 6 loài thuộc chi Asarum, trong đó có 2 loài khá phổ biến và có phân bố rộng: một loài ở phía đông (Asarum canadense) và một loài ở phía tây 4 (Asarum caudatum); hai loài đặc hữu ở califonia (A.hartwegii); một loài khác đặc hữu ở Oregon (một tiểu Bang ở phía tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì ) là Asarum wagneri và một loài khác nữa (A.marmoratum) đƣợc trồng ở phía tây Oregon và phía bắc califonia ; có 2 thứ là Asarum canadense var canadense và Asarum canadense var reflexum ở các Tiểu bang Carolinas, Virginia và Georgia thuộc vùng tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì. Các công trình đề cập đến chi Hoa tiên (Asarum L.) nói chung và loài Hoa tiên nói riêng (Asarum glabrum Merr.) chủ yếu là các công trình nghiên cứu phân loại nhƣ Merril (1942) hay các công trình nghiên cứu về hóa sinh nhƣ :Tsukasa iwashina, Junichi kirachima (2000).Các công trình nghiên cứu đều cho thấy chi Hoa tiên (Asarum L.) thƣờng có tinh dầu với thành phần chính là metyl eugeno,myrsen. Các loài trong chi Hoa tiên còn chứa các hợp chất khác nhƣ Aristolochia acid, các secqterpen, sterol.
Một số hợp chất glycosyl flagonoid.Trong đó có nhiều hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn, kháng histamin và có khả năng chứa ung thƣ. Cho đến nay, các dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố của loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) chỉ đƣợc đề cập đến qua các công trình phân loại ở Trung Quốc. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài này trên thế giới hầu nhƣ chƣa có.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về loài Hoa tiên Theo tài liệu Phạm Hoàng Hộ(1999), Nguyễn Tiên Bân(2003), Võ Văn Chi(2003) chi Hoa tiên (Asarum L.) ở Việt Nam có 7 loài, đó là các loài Biến hóa núi cao (Asarum blansae Franch), Biến hóa blume (Asarum blume Duch), Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance), Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) Tế hoa petelot (Asarum petelotii O.C Schmidt), Tế hoa mạng (Asarum reticulatum Merr. Trong đó có 3 loài là Biến hóa núi cao(Asarum blansae Franch) phân hạng trong sách đỏ Việt Nam EN A1c,d và là yếu tố đặc hữu bắc bộ, đây đƣợc coi là loài nguy cấp và có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong tƣơng lai gần, quần thể suy giảm khoảng 50%, do 5 suy giảm nơi cƣ trú và khai thác quá mức.
Loài Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance) đƣợc phân hạng VU A1a,c,d và loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) (đây là loài sẽ nguy cấp đứng trƣớc nguy cơ sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong một tƣơng lai gần, do suy giảm quần thể khoảng 20% vì suy giảm nơi cƣ trú và khai thác quá mức và là yếu tố đặc hữu Đông Dƣơng đƣợc đƣa và sách đỏ việt Nam năm (1996, 2007) và nghị định 32/2006 NĐ-CP của chính phủ. Những nghiên cứu về các loài trong chi Hoa tiên hầu nhƣ chƣa có. Từ thực tế hiện trạng số lƣợng và trữ lƣợng các cá thể của loài Hoa tiên ngoài tự nhiên và nguy cơ đe dọa tuyệt chủng của chúng, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu các cơ sở khoa học để bảo tồn phục hồi và sử dụng bền vững tính đa dạng các loài của chi Hoa tiên ở Việt Nam là vấn đề thời sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao. Trong một đợt nghiên cứu về đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang vào năm(1996), Nguyễn Nghĩa Thìn đã phát hiện ra loài A.blansae tại khu vực bản Bung, xã Thanh Tƣơng.
Trần Đình Nghĩa (1997) cũng đã phát hiện loài này phân bố ở khu vực Tắt kẻ, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang. Theo nghiên cứu của GS.