Tổng quan nghiên cứu

Khai thác quá mức và suy thoái sinh cảnh rừng đang đặt nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại tỉnh Yên Bái trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Tại xã Cảm Ân, huyện Yên Bình, tổng diện tích tự nhiên đạt 2.464,09 ha với diện tích đất có rừng là 1.127 ha. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn lại 230 ha (chiếm 9,33% diện tích tự nhiên), trong khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp rất hạn chế với 315 ha, bao gồm 54 ha đất trồng lúa nước. Toàn xã có 2.833 nhân khẩu sinh sống tại 741 hộ gia đình thuộc 8 thôn, trong đó có 187 hộ nghèo và cận nghèo, chiếm tỷ lệ 24,8%. Áp lực mưu sinh khiến người dân địa phương phụ thuộc lớn vào việc thu hái tự nhiên các loài lâm sản ngoài gỗ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các dữ liệu kiểm kê khoa học về thành phần loài, hiện trạng phân bố và tri thức bản địa trong việc sử dụng thảo dược của 10 dân tộc cùng sinh sống như Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng. Mục tiêu cụ thể của công trình là điều tra, lập danh lục 127 loài cây thuốc, đánh giá kinh nghiệm thu hái, sơ chế, thị trường tiêu thụ và xây dựng phương án bảo tồn kết hợp phát triển kinh tế cộng đồng. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trọn vẹn trên địa bàn 8 thôn của xã Cảm Ân trong giai đoạn 2012 - 2014. Ý nghĩa của luận văn thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tận dụng 720 ha rừng sản xuất để phát triển dược liệu dưới tán rừng, vừa bảo vệ nguồn gen quý vừa nâng cao thu nhập cho 741 hộ dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết nền tảng: Lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management) và Lý thuyết tri thức sinh thái bản địa (Traditional Ecological Knowledge). Quản lý dựa vào cộng đồng khẳng định vai trò chủ thể của người dân địa phương trong việc bảo vệ, gây trồng và hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Song song đó, tri thức sinh thái bản địa là hệ thống kinh nghiệm đúc kết qua nhiều thế hệ của đồng bào các dân tộc thiểu số trong nhận biết, thu hái và phối ngũ các bài thuốc nam truyền thống.

Mô hình nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực vật học truyền thống và phương pháp tiếp cận có sự tham gia của các bên liên quan. Bốn khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Lâm sản ngoài gỗ, Tính đa dạng thực vật dược liệu, Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), và Sinh kế lâm nghiệp bền vững. Ngoài ra, khung phân tích đa dạng họ thực vật dựa trên chỉ số chuẩn của Tolmachov (1974) được sử dụng để kiểm định độ phong phú của hệ thực vật khu vực nghiên cứu với ngưỡng tỷ lệ 10 họ giàu nhất nằm trong khoảng 40% đến 50%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa tài liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2012 - 2013 của xã Cảm Ân, hồ sơ dự án bảo tồn dược liệu VM049) và dữ liệu sơ cấp ngoài hiện trường. Phương pháp chọn mẫu mục đích được áp dụng để lựa chọn cỡ mẫu gồm 20 hộ gia đình tiêu biểu đại diện cho nhóm thầy lang, bà mế giàu kinh nghiệm, hộ nông dân trồng cây thuốc và các cơ sở thu gom, kinh doanh dược liệu. Nghiên cứu thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa cắt qua các dạng sinh cảnh đặc trưng gồm rừng tự nhiên 230 ha, rừng sản xuất 720 ha, ven nương rẫy, sông suối và vườn hộ gia đình để thu thập mẫu tiêu bản theo quy chuẩn thực vật học với kích thước tiêu bản 41 x 29 cm.

Phương pháp phân tích hình thái so sánh kết hợp tra cứu bộ Danh lục các loài thực vật Việt Nam được lựa chọn để giám định chính xác tên khoa học của từng loài. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng công cụ ma trận cho điểm và sơ đồ mảng của phương pháp PRA để phân tích nguyên nhân khó khăn, đánh giá chuỗi giá trị và lựa chọn loài cây thuốc ưu tiên. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính chính xác về mặt phân loại sinh học, đồng thời phản ánh khách quan nhu cầu, nguyện vọng và kinh nghiệm thực tiễn của cộng đồng dân cư trong suốt timeline nghiên cứu 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã phát hiện và lập danh lục được 127 loài cây thuốc thuộc 116 chi và 66 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Phân bố loài giữa các ngành có sự chênh lệch rõ rệt: ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 63 họ (chiếm 95,45%), 113 chi (chiếm 97,41%) và 124 loài (chiếm 97,64%). Trong ngành Mộc lan, lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm 45 họ (71,43%), 89 chi (78,76%) và 96 loài (77,42%), trong khi lớp Loa kèn (Liliopsida) đóng góp 18 họ (28,57%) và 28 loài (22,58%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chỉ ghi nhận 2 họ, 2 chi, 2 loài (1,57%) và ngành Thông (Pinophyta) có 1 họ, 1 chi, 1 loài (0,79%).

Mười họ thực vật có số lượng loài lớn nhất bao gồm họ Cúc với 11 loài (chiếm 8,66%), họ Thầu dầu với 10 loài (chiếm 7,87%), họ Tiết dê với 5 loài (chiếm 3,94%), cùng các họ Cà phê, Đậu, Dâu tằm, Cỏ roi ngựa (mỗi họ 4 loài, chiếm 3,15%), họ Trúc đào, Ngũ gia bì, Hoa môi (mỗi họ 3 loài, chiếm 2,36%). Tổng cộng 10 họ này chiếm 51 loài (40,16% tổng số loài) và 46 chi (40,71% tổng số chi), thỏa mãn tiêu chí đa dạng họ theo Tolmachov.

Về dạng sống, cây thân thảo chiếm tỷ lệ lớn nhất với 43 loài (33,86%), tiếp theo là cây bụi với 31 loài (24,41%), dây leo với 26 loài (20,47%), cây thân gỗ với 23 loài (18,11%), dạng phụ sinh có 2 loài (1,57%) và thân cau dừa có 1 loài (0,79%). Về nguồn gốc, có tới 78 loài phân bố hoàn toàn trong tự nhiên (chiếm 61,42%), 43 loài được người dân gây trồng (chiếm 33,86%) và chỉ có 6 loài tồn tại ở cả hai trạng thái (chiếm 4,72%). Nghiên cứu cũng xác định được 6 loài dược liệu nguy cấp, quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, bao gồm Củ bình vôi, Củ dòm, Hoàng đằng, Hoàng tinh hoa trắng, Lá khôi và Mật gấu.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ 61,42% loài cây thuốc phải khai thác trực tiếp từ tự nhiên trong bối cảnh rừng tự nhiên chỉ còn 230 ha phản ánh nguy cơ cạn kiệt nghiêm trọng các loài dược liệu bản địa. Việc người dân thu hái theo phương thức tận diệt, đặc biệt đối với các loài lấy rễ và củ như Củ dòm, Ba kích, Hoàng tinh, đã khiến trữ lượng tự nhiên suy giảm mạnh. So sánh với các nghiên cứu tổng quan của Viện Dược liệu cho thấy thực trạng này tương đồng với xu hướng chung của cả nước, khi hơn 90% sản lượng dược liệu tiêu thụ vẫn phụ thuộc vào nguồn rừng tự nhiên.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu dạng sống và biểu đồ tròn phân chia nguồn gốc cây thuốc, giúp làm nổi bật ưu thế của nhóm thân thảo (33,86%) và tính dễ tổn thương của nhóm thân gỗ (18,11%) trước các tác động chặt phá. Bảng ma trận đánh giá ưu tiên lựa chọn loài cho thấy các mô hình trồng xen Lá khôi, Gừng dưới tán bưởi, quế hoặc trồng Mạch môn, Ba kích dưới tán 720 ha rừng keo mở ra triển vọng kinh tế to lớn, giải quyết đồng thời bài toán bảo tồn nguồn gen và xóa đói giảm nghèo cho 187 hộ nghèo tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và nhân rộng các mô hình nông lâm kết hợp trồng cây dược liệu dưới tán 720 ha rừng sản xuất. Ủy ban nhân dân xã Cảm Ân phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Yên Bình triển khai trồng thử nghiệm và mở rộng diện tích 15 đến 20 ha các loài có giá trị thương mại cao như Mạch môn, Ba kích, Đinh lăng và Lá khôi trong khung thời gian 24 tháng tới.

Thứ hai, thiết lập chế độ bảo vệ nghiêm ngặt đối với 230 ha rừng tự nhiên còn lại nhằm bảo tồn nguyên vị các quần thể dược liệu nguy cấp. Hạt Kiểm lâm huyện Yên Bình chủ trì phối hợp cùng cộng đồng 8 thôn xây dựng quy ước bảo vệ rừng, ngăn chặn triệt để hành vi khai thác tận diệt đối với 6 loài quý hiếm thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP gồm Củ dòm, Củ bình vôi, Hoàng tinh hoa trắng, Hoàng đằng, Mật gấu và Lá khôi trong lộ trình 1 đến 3 năm.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật thu hái, sơ chế và bảo quản dược liệu. Trạm Y tế xã Cảm Ân cùng Hội Đông y tỉnh Yên Bái tổ chức 10 khóa tập huấn kỹ thuật cho 200 lượt người dân và 20 hộ chuyên canh, hướng dẫn xây dựng giàn sấy thuốc nam và kho bảo quản đạt chuẩn, phấn đấu giảm tỷ lệ hư hỏng sau thu hoạch từ mức 30% hiện nay xuống dưới 10% trong vòng 12 tháng.

Thứ tư, xây dựng chuỗi liên kết giá trị và phát triển thương hiệu thuốc nam Cảm Ân. Hợp tác xã nông lâm nghiệp địa phương cần ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với 3 đến 5 công ty dược phẩm uy tín tại tỉnh Yên Bái và thành phố Hà Nội, đặt mục tiêu nâng mức đóng góp của kinh tế cây thuốc lên 25% đến 30% trong tổng thu nhập của các hộ tham gia chuỗi giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu lâm học, thực vật học và dược liệu học có thể sử dụng hệ thống dữ liệu phân loại 127 loài cây thuốc, 116 chi, 66 họ cùng các chỉ số đa dạng sinh học theo Tolmachov làm tư liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu sâu về nguồn gen thực vật vùng Tây Bắc.

Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp, kiểm lâm và khuyến nông cấp cơ sở tìm thấy trong luận văn các luận cứ thực tế để lập kế hoạch quản lý rừng bền vững, chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt và tận dụng 720 ha rừng sản xuất để phát triển mô hình lâm sản ngoài gỗ.

Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị quản lý dự án phát triển cộng đồng có thể kế thừa phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) để thiết kế các dự án xóa đói giảm nghèo, sinh kế bền vững tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện tương đồng với xã Cảm Ân.

Các hộ gia đình làm nghề y học cổ truyền và doanh nghiệp kinh doanh thảo dược có thể tham khảo danh mục bài thuốc gia truyền, khung giá thu mua dược liệu và kỹ thuật gây trồng các loài có tiềm năng thương mại lớn như Mạch môn, Ba kích, Lá khôi để mở rộng quy mô sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Xã Cảm Ân ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc và ngành thực vật nào chiếm ưu thế? Nghiên cứu ghi nhận 127 loài cây thuốc thuộc 116 chi, 66 họ thuộc 3 ngành thực vật. Trong đó, ngành Mộc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 124 loài (đạt 97,64%), tiếp theo là ngành Dương xỉ với 2 loài (1,57%) và ngành Thông có 1 loài (0,79%).

Những loài cây thuốc quý hiếm nào tại khu vực đang bị đe dọa tuyệt chủng? Có 6 loài dược liệu nguy cấp được ghi nhận gồm Củ dòm, Củ bình vôi, Hoàng đằng, Hoàng tinh hoa trắng, Lá khôi và Mật gấu. Các loài này nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và nhóm IIA của Nghị định 32/2006/NĐ-CP do bị khai thác cạn kiệt trong tự nhiên.

Tỷ lệ giữa cây thuốc mọc tự nhiên và cây thuốc được gây trồng có sự chênh lệch ra sao? Cây thuốc mọc tự nhiên chiếm tỷ lệ áp đảo với 78 loài (đạt 61,42%), trong khi cây thuốc được nhân dân gây trồng chỉ có 43 loài (chiếm 33,86%) và nhóm vừa có trong tự nhiên vừa được gây trồng đạt 6 loài (chiếm 4,72%).

Chỉ số đa dạng họ theo phương pháp của Tolmachov tại địa phương đạt kết quả như thế nào? Tổng số loài của 10 họ giàu nhất là 51 loài, chiếm tỷ lệ 40,16% tổng số loài điều tra. Tỷ lệ này nằm trong khoảng 40% đến 50%, chứng minh khu hệ thực vật làm thuốc tại xã Cảm Ân có mức độ đa dạng họ rất cao.

Các mô hình gây trồng cây thuốc nào đang mang lại hiệu quả thực tế tại Cảm Ân? Các mô hình tiêu biểu gồm trồng Mạch môn dưới tán rừng keo, trồng xen Lá khôi và Gừng dưới tán bưởi hoặc quế, cùng mô hình vườn đồi chuyên canh Đinh lăng và Ba kích, mang lại nguồn thu nhập bổ sung ổn định cho người dân.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm kê và lập danh lục khoa học chi tiết cho 127 loài cây thuốc thuộc 116 chi, 66 họ tại xã Cảm Ân, khẳng định ưu thế tuyệt đối của ngành Mộc lan (97,64%).
  • Đánh giá hiện trạng phân bố với 61,42% số loài có nguồn gốc tự nhiên, chỉ ra sự cấp thiết phải bảo vệ nguồn tài nguyên trước sự thu hẹp của 230 ha rừng tự nhiên.
  • Xác định và đề xuất giải pháp bảo tồn đặc biệt cho 6 loài thực vật làm thuốc quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
  • Chứng minh tính khả thi của phương pháp tiếp cận có sự tham gia (PRA) trong việc gắn kết 741 hộ dân tham gia phát triển và tiêu thụ sản phẩm dược liệu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về kỹ thuật gây trồng, chế biến, bảo tồn và liên kết thị trường trên diện tích 15 đến 20 ha rừng sản xuất.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh toàn diện đầu tiên về tài nguyên cây thuốc bản địa tại xã Cảm Ân, tạo cầu nối khoa học giữa tri thức dân gian và công tác bảo tồn lâm sinh học. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung chuyển giao công nghệ ươm giống bản địa và hoàn thiện chuỗi tiêu thụ sản phẩm dược liệu giai đoạn 2015 - 2020. Các cơ quan quản lý và nhà đầu tư cần nhanh chóng chung tay triển khai mô hình quản lý dựa vào cộng đồng để biến tiềm năng dược liệu thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho địa phương.