MỞ ĐẦU Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới, có nhiều điều kiện thuận lợi cho các sinh vật phát triển. Theo thống kê "Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích" (của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới - IUCN), thì tại Việt Nam hiện có gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2. Trong số đó, nguồn tài nguyên cây có tiềm năng được sử dụng trong y học chiếm khoảng 30%. Theo Danh lục Cây thuốc Việt Nam của Viện Dược liệu (2016) về điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc cho thấy ở Việt Nam có tổng số 5.117 loài và dưới loài, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm rêu, tảo và nấm lớn, trong đó thuộc nhóm thực vật bậc cao có mạch có tới hơn 5.
Theo thông tư số 40/2013/TT-BYT của Bộ Y tế có 334 loài thuộc danh mục thuốc thiết yếu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Như vậy, việc sử dụng các dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng được quan tâm. (họ Vòi voi, Boraginaceae) là một chi thực vật bao gồm có 7 loài, trong đó, có 2 loài được người dân dùng làm thuốc là E. asperula (dót, xạ đen) để giải độc mát gan, tăng cường chức năng gan, hỗ trợ điều trị viêm gan, vàng da; điều trị u bướu, mụn nhọt, ung thũng; hoặc làm thuốc chống viêm kháng khuẩn cho các bệnh nhân mắc bệnh viêm nhiễm.
Cây xạ đen E. asperula là cây thuốc thuộc nhóm thanh nhiệt giải độc có tên khoa học vị thuốc là Herba Ehretiae asperulae (thông tư số 40/2013/TT-BYT của Bộ Y tế). Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại những nghiên cứu sâu về chi Ehretia hay cây xạ đen E. asperula ở tỉnh Hòa Bình nói riêng vẫn ở mức rất hạn chế.
Các công trình nghiên cứu này thường vẫn đang ở giai đoạn xác định tên loài, cũng như bước đầu xác định được một số hợp chất hóa học thứ cấp cơ bản. Những nghiên cứu khác như đánh giá hiện trạng phân bố cũng như trữ lượng, đặc tính sinh học và ứng dụng trong nghiên cứu chữa bệnh vẫn còn rất ít không 1 chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Do vậy, chúng tôi chọn cây xạ đen E. asperula ở tỉnh Hòa Bình để làm đối tượng nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn: ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY XẠ ĐEN (Ehretia asperula Zoll.
& Moritzi) TẠI TỈNH HÒA BÌNH Mục tiêu của luận văn là giám định lại tên loài của cây xạ đen đồng thời đánh giá tình hình thực trạng cây xạ đen ở tỉnh Hòa Bình. Sau đó, tiến hành nghiên cứu tạo cao chiết và đánh giá hoạt tính sinh học của loài xạ đen. Để đạt được mục tiêu trên chúng tôi thực hiện các nội dung sau: - Thu hái và giám định tên khoa học của cây xạ đen - Đánh giá hiện trạng cây xạ đen tại tỉnh Hòa Bình - Chiết tách các phân đoạn và một số hợp chất từ cây xạ đen - Thử hoạt tính sinh học của các cao chiết và hợp chất tinh khiết. Đặc điểm phân loại 1.Chi Cườm rụng (Ehretia P.
Đặc điểm phân loại Chi Ehretia được P. Browne mô tả lần đầu tiên vào năm 1756 và đặt theo tên của nhà thực vật học Georg Dionysius Ehret (17̣08-1770). Công trình nghiên cứu của Miller J.S (1989) được xem là một trong những công trình nghiên cứu thống nhất về mặt phân loại, không chỉ phân loại đúng danh pháp cũng như tên loài của Ehretia tinifolia L., Miller còn có công trình về chi Cườm rụng ở Madagasca. Trong 7 loài ông mô tả có tới 5 loài là loài mới cho khoa học [44].
Ở Trung Quốc, trong khi Lian và Liu nghiên cứu khá kỹ họ Boraginaceae và cũng công bố nhiều tài liệu liên quan tới họ thưc vật này ở phần lục địa thì Hsiao và môt số tác giả khác lại tập trung nghiên cứu họ này ở Đài Loan và cũng công bố môt số công trình liên quan tới chi Ehretia [62]. Chi Cườm rụng (Ehretia P. Browne) thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae), bộ Hoa lốc (Polemoniales), lớp Hai lá mầm (Dycotyledones) [3],[6], [9], [10], [15],[ 62]. Chi Cườm rụng bao gồm các cây gỗ hay cây bụi, thường xanh, kích thước trung bình tới các cây gỗ cao tới 30 m, thân thẳng và đường kính tới 65 cm, có rãnh ở gốc, vỏ màu nâu hoặc xám, có nhiều vết nứt nhỏ, vỏ trong thì xốp và có sợi, màu vàng nhạt.
Lá đơn, mọc cách, có cuống, mép lá nguyên hay khía răng cưa, đôi khi lượn sóng, có gân hình mang, không có lá kèm. Cụm hoa ở đầu cành hay nách lá, phân nhánh hoặc không, đôi khi sắp xếp thành dạng ngù hoăc xim cuộn một ngả (xim bọ cạp). Hoa lưỡng tính, mẫu 5, đài rời, xếp lớp, có 5 thùy; tràng màu trắng hay vàng, hình ống hoặc hình chuông, ít khi hình phễu, trên có 5 thùy, các thùy mở rộng hoặc uốn cong gập lại. Nhị 5, chỉ nhi đ̣ ính trên ống tràng, vượt ra khỏi tràng, bao phấn hình thuôn tới hình bầu dục thuôn.
Bầu thường hình trứng, 2 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Vòi nhuy ̣ở đỉnh bầu, chia 2 nhánh hoặc xẻ sâu tới giữa vòi nhụy, ̣ núm nhụy 2, hình đầu hoặc 3 thon dài. Quả hạch, màu vàng, cam hoăc đỏ nhạt, gần hình cầu, nhẵn, vỏ quả trong khi chín chia 2 ô, mỗi ô 2 hạt họăc 4 ô, mỗi ô 1 hạt [3], [6], [9], [15]. Về mặt hệ thống học, đôi khi chi Cườm rụng lại được tách thành một họ riêng biệt họ Cườm rụng (Ehretiaceae).
Trên thế giới, chi này bao gồm khoảng 50 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á, châu Âu, châu Phi [44], [46], [62]. Các loài khác nhau của chi Ehretia được nghiên cứu và tách các hợp chất alkaloid, axit phenolic, flavonoid, benzoquinon, glycosides cyanogenetic và axit béo [8, 40] có hoạt tính sinh học tốt như kháng viêm, chống ung nhọt [24]. Rễ, vỏ cây, lá, quả, gỗ của cây thuộc chi Ehretiaare được sử dụng làm thuốc chống viêm, ho, ngứa, sưng tấy, tiêu chảy, kiết lỵ, sốt, suy nhược và giang mai [37, 62]. Ở Zimbabwe, các phần khác nhau của Ehretia obtusifoliaare được sử dụng để điều trị đau họng, đau răng ở trẻ sơ sinh, đau bụng, đau bụng kinh, vô sinh ở phụ nữ [42].
Ở Trung Quốc, loài Ehretia thyrsiflora đã được sử dụng để làm trà đắng [44]. Ở Ấn Độ, Ehretia laevis được sử dụng để điều trị đau đầu và loét, nó cũng có các đặc tính kháng sán lá, lợi tiểu, tiêu đờm [50]. Vỏ bên trong của E. laevis được sử dụng làm thực phẩm [60].
Ehretia serrata, một loài thực vật có nguồn gốc từ Pakistan được biết đến là Puna [45]. Gỗ của chi này được sử dụng cho mục đích làm nhiên liệu và lá sử dụng làm cho gia súc. Các tài liệu nghiên cứu đối với cây Xa ̣đen (E. asperula) trên thế giới rất ít, có thể do cây này chỉ phân bố ở Viêt Nam, Trung Quốc và Malaysia.
Tình hình nghiên cứu về chi Cườm rụng tại Việt Nam Gagnepain và Courcher là những tác giả có nghiên cứu về họ Boraginaceae ở Việt Nam. Trong cuốn Thực vật chí đại cương Đông Dương các tác giả đã mô tả 8 loài thuộc chi Cườm rụng [62]. Khi viết về chi Cườm rung ở Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê và mô tả 3 loài. Theo phân loại của Phạm Hoàng Hộ chi Cườm rụng ở Việt Nam có 7 loài [8].
Theo Võ Văn Chi trong cuốn “Từ điển cây thuốc” ông lại cho là chi Ehretia chỉ có 5 loài do 4 loài E. đươc chuyển sang chi Carmona và E. thyrsiflora Nakai trở thành tên đồng nghĩa của loài E. Theo Bùi Hồng Quang (2007) chi Cườm rụng ở Việt Nam có 6 loài [14].
Ngoài các tài liệu chuyên khảo kể trên trong danh mục của các Vườn Quốc gia như Cúc Phương hay Pù Mát, các loài của chi Cườm rụng cũng được thống kê. Trong danh mục các loài thực vật phân bố tại VQG Pù Mát Nghệ An, Nguyễn Nghĩa Thìn cho rằng loài E. có phân bố tại đây, như vậy có 7 loài thực vật thuộc chi Cườm rụng tại Việt Nam [16]. Ở Việt Nam chi Ehretia có 7 loài, trong đó 2 loài được người dân dùng làm thuốc là E.
Hoàng Quỳnh Hoa (2010) đã phân loại, mô tả đầy đủ đặc điểm hình thái, lập khóa phân loại lưỡng phân và bảng khóa mở cũng như đặc điểm vi phẫu cành và lá của 7 loài thuộc chi Ehretia P. ở miền Bắc Việt Nam [6]… và lần đầu tiên công bố và xác định tên khoa học của các loài trong chi Ehretia P. ở miền Bắc Việt Nam, bao gồm: E.Cây xạ đen Ehretia asperula Zoll. Đặc điểm sinh học Cây xạ đen Ehretia asperula Zoll.et Mor lần đầu tiên được định danh vào năm 1864 bởi ZoZoll.
Cây xạ đen là một trong những cây thuốc nam nổi tiếng với nhiều công dụng chữa bệnh. Đây là loài cây mọc tự nhiên trong các khu rừng của nước ta như Hòa Bình, Tuyên Quang, Ninh Bình, Quảng Bình…[4], [11]. Xạ đen cũng bắt nguồn từ dân tộc Mường, khi mà người Mường còn chưa biết bệnh ung thư là gì thì mỗi lúc thấy ốm yếu, mệt mỏi, vàng da thì họ đều hái loài cây này về làm thuốc. Theo tiếng Mường thì gan nghĩa là “xạ”, loài cây này khi cắt sẽ chảy ra một lớp nhựa đen, vì thế cái tên “xạ đen” ra đời.
Ngoài ra, cây xạ đen 5 còn được gọi là cây “Duồng khụ” - ý nói đây là một cây thuốc rất tốt của người Mường. Trước đây, mế Hậu (cụ Bùi Thị Bẻn, dân tộc Mường, ở huyện Kim Bôi, Hoà Bình, là mẹ của Lương y Đinh Thị Phiển đã dùng cây xạ đen, còn gọi là xạ đen cuống để chữa bệnh vô sinh. Nay bà Phiển là người thừa kế bài thuốc xạ đen của mế Hậu để chữa bệnh ung thư. Do đó mà cây này còn có tên là cây ung thư [8].
Đến giữa những năm 80 của thế kỷ trước, giáo sư Lê Thế Trung (Viện Quân y 103) đã chỉ đạo điều tra 14 cây thuốc nam mà dân gian cho là có tác dụng trị bệnh ung thư. Trong đó, có cây xạ đen với ký hiệu K10. Theo các sách phân loại thực vật trước đây, loài cây này có tên Việt Nam là “Dây gối Ấn Độ” hoặc “Dây gối bắc”, tên khoa học của cây này là Celastrus hindssi Benth., thuộc họ Dây gối (Celastraceae) [19]. Tuy nhiên, đến năm 2006 một số nghiên cứu của Đại học Dược Hà Nội kết hợp với các nhà sinh thái học của Viện Sinh thái và Tài Nguyên sinh vật đã khẳng định lại rằng cây xạ đen Hòa Bình có tên khoa học là Ehretia L., thuộc chi Ehretia, họ Vòi voi (Boraginaceae) [20].