ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xưa đến nay, dược liệu vẫn luôn là nguồn tài nguyên quý giá đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vậy nên, việc tìm ra thuốc mới có hiệu quả tốt, mức độ an toàn cao, có ít tác dụng không mong muốn phục vụ nhu cầu điều trị và chữa bệnh của con người đang rất được quan tâm, nhất là những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư. Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc ung thư khá cao, trong đó phổ biến như ung thư gan, phổi, vú, dạ dày và đại trực tràng. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu chiết xuất các chất có hoạt tính dược học chống ung thư từ thực vật đang trở thành trọng điểm trong nền y dược học hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Theo ước tính, Việt Nam đã xác định được khoảng 3.830 loài cây dược liệu dùng làm thuốc, chiếm khoảng 36% trong số 10.500 loài thực vật bậc cao đã biết. Trong số đó, có 54 vị thuốc có tác dụng trị ung thư đã được công bố như: bạch hoa xà thiệt thảo, nghệ, tỏi, xạ đen, nấm linh chi, an xoa, bán chi liên, hoa hòe, mãng cầu xiêm,. Tuy kho tàng dược liệu khá phong phú nhưng việc nghiên cứu công dụng kháng ung thư lại tỏ ra rời rạc, thiếu phương hướng chỉ đạo chung, tính hiệu quả chưa cao, chưa chú ý đến việc giữ gìn bản sắc của y học cổ truyền, thậm chí một số công trình còn chưa đảm bảo tính chuẩn xác và khoa học. Đó là chưa kể đến việc nghiên cứu công dụng kháng ung thư của nhiều bài thuốc cổ phương, tân phương và các bài thuốc gia truyền hầu như vẫn còn bị bỏ ngỏ.
Nhìn ra thế giới, ngoài Paclitaxel (tên thương mại là Taxol) - một hợp chất chống ung thư chiết xuất từ cây Thủy tùng Thái Bình Dương, từ năm 1961 đến năm 2014 có 12 hợp chất khác từ thực vật đã được cấp phép như thuốc điều trị ung thư. Sau đó, NCI (National Cancer Institute) đã khởi động một chương trình sàng lọc mới, tìm kiếm dịch chiết ở cả thực vật, động vật và vi sinh vật; đồng thời thử nghiệm tác động lên 60 dòng tế bào ung thư ở người. Điều này sẽ mang lại một tương lai rất sáng trong việc điều trị ung thư sau này. 1 Đứng trước những triển vọng cảu việc sử dụng cây thuốc làm thuốc hỗ trợ điều trị ung thư và nhìn thấy được sự hạn chế của những bài thuốc đó chưa được phổ biến rộng rãi tới nhân dân, nhóm 4 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Đức Lợi xin đựo tổng hợp lại một số cây thuốc có tác dụng như vậy thông qua bài tiểu luận của nhóm “Tổng quan về một số cây thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư”.
Bài tiểu luận của nhóm 4 gồm 5 phần: Phần 1: Cây thuốc hỗ trợ điều trị ung thư phổi. Phần 2: Cây thuốc hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày. Phần 3: Cây thuốc hỗ trợ điều trị ung thư gan. Phần 4: Cây thuốc hôc trợ điều trị ung thư vú.
Phần 5: Cây thuốc hỗ trợ điều trị ung thư đại tràng. CÂY THUỐC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƢ PHỔI 1. Về thực vật 1. Tên khoa học, tên thƣờng gọi, tên địa phƣơng Tên khoa học: Celastrus hindsii Benth et Hook, Họ: Celastraceae (Dây gối) [5] Tên thường gọi: Xạ đen, cây dây gối Ấn Độ, thanh giang đằng.
Đặc điểm thực vật Xạ đen thuộc loại cây dây leo thân gỗ, mọc thành búi, thân cây dạng dây dài từ 3-10m. Cành tròn, lúc non có màu xám nhạt, không có lông, sau chuyển sang màu nâu, có lông, về sau có màu xanh. Lá mọc so le, phiến lá hình bầu dục xoay ngược, dài 7-12cm, rộng 3-5cm thường có 7 cặp gân phụ, bìa có răng thấp, mặt lá không có lông, lá không rụng theo mùa, cuống lá dài 5 – 7mm. 3 Chùm hoa ở ngọn hay nách lá, dài 5-10cm, cuống hoa 2-4mm, hoa mẫu 5 cánh, cánh hoa trắng.
Quả hình trứng, dài 1cm, khi chín có màu vàng và tách ra thành 3 mảnh, hạt có áo hạt màu đỏ hồng. Mùa hoa: tháng 3-5, mùa quả: tháng 8-12. Phân bố, số loài cây này thuộc chi Cây mọc ở vùng thấp với độ cao 1000-1500m. Phân bố ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar.
Ở Việt Nam, cây Xạ đen Châu Âu (Celastrus hindsii) rất hiếm gặp trong tự nhiên. Phân bố rải rác ở Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ninh, vườn quốc gia Cúc Phương, Thừa Thiên Huế, Tây Nguyên…[51] 1. Bộ phận dùng Lá, rễ, thân, vỏ cây. Thời điểm thu hái Cây xạ đen từ lúc trồng đến lúc thu hoạch mất khoảng 6 tháng.
Cứ khoảng 6 tháng xạ đen lại cho thu một lần, một năm xạ đen sẽ cho thu hoạch 2 lần. Vị thuốc Thông kinh, lợi tiểu, giải nhiệt: 15g xạ đen, 12g kim ngân hoa. Dùng các vị thuốc đã phơi khô đem sao vàng rồi hãm như nước chè. Uống hết thuốc trong ngày.
[55] Tăng cường hệ miễn dịch, giảm căng thẳng: 15g xạ đen, 15g giảo cổ lam và 15g nấm linh chi. Dùng tất cả nguyên liệu trong 1 thang thuốc và sắc uống hàng ngày. [5] Hỗ trợ điều trị các bệnh về gan: 50g xạ đen, 30g cà gai leo và 10g mật nhân. Cho tất cả nguyên liệu trong 1 thang thuốc rồi cho vào nấu cùng với khoảng 2 lít nước trong khoảng 15 phút.
Dùng uống thay nước hàng ngày. Tóm tắt Xạ đen cũng như nhiều loại cây khác thuộc họ Celastraceae rất giàu các hợp chất như alkaloids, sesquiterpenes, diterpenes, triterpen, glycoside tim và flavonoid; các hợp chất này thể hiện tác dụng diệt khuẩn và chống ung thư in vitro. Chi tiết Các polyphenol: Ly và cộng sự đã tiến hành chiết xuất và phân lập được từ dịch chiết Methanol 50% từ lá của loài Celastrus hindsii Benth. Kết quả thu được 8 hợp chất polyphenol gồm rutin, kaempferol 3-rutinoside, axit rosmarinic, axit lithospermic và axit lithospermic B, và ba oligome mới của axit rosmarinic, một dimer và hai trimers.
Đây đều là các chất có khả năng chống oxi hóa rất tốt. 5 Các sesquiterpene và triterpene: Từ thân cây loài Celastrus hindsii Benth, Hui-Chi HUANG cùng nhóm nghiên cứu đã xác định các estar agarofuran sesquiterpene, 1b, 2b, 6a, 15b- tetracetoxy-8b, 9a-dibenzoyloxy-b-dihydroagarofuran (celahin D) , emarginatine E. Ba triterpen được xác định gồm loranthol, lupenone và friedelinol. Bốn hợp chất triterpene mới, celasdin-A (14), celasdin-C (15), celasdin-B (16) và cytotoxic maytenfolone-A, được phân lập từ Celastrus hindsii.
Đánh giá sinh học cho thấy maytenfolone -A có khả năng kháng tế bào ung thư gan (HEPA-2B, EDs0 = 2.3 zg/ml) và ung thư biểu mô vòm họng (KB, EDs0 = 3,8 g/ml – 1). Celasdin-B đã được tìm thấy đã thể hiện khả năng ức chế sao chép HIV hoạt động trong các tế bào lympho H9 với ECs0 là 0,8 zg/ml. Theo Lou và cộng sự, trong loài Celastrus hindsii Benth có các triterpenoids loại oleanane (1- 2) mới và một diterpenoid loại podocarpane mới, 7 cùng với 20 hợp chất đã biết (5 -24 ) được phân lập từ thân cây Celastrus hindsii. Ngoài ra, tất cả các hợp chất được đánh giá cho các hoạt động chống vi rút in vitro của chúng chống lại vi rút hợp bào hô hấp (RSV) bằng các xét nghiệm giảm hiệu ứng tế bào (CPE).
Các hợp chất 7, 10, 11, 19 và 24 thể hiện hoạt động chống RSV rõ ràng với các giá trị IC50 từ 1,55 đến 6,25 M. Một loại macrocyclic lactone mới có tên Hindsiilactone A , 5,8- quinoflavan, Hindsiiquinoflavan B và ba hợp chất đã biết (Combretastatin D-2 , Combretastatin D-3 và isocorn) được phân lập từ chiết xuất ethanol 80% từ thân cây Celastrus hindsii. Tất cả các hợp chất phân lập được đánh giá có độc tính tế bào chống lại bốn dòng tế bào khối u ở người gồm: NCI-H187, HCT116, BC-1 và HuH7. Tổng quan các nghiên cứu loài, chi trong nƣớc và trên thế giới Tác dụng chống ung thư của cây xạ đen đã được chứng minh trong đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống ung thư của cây xạ đen” là đề tài cấp Nhà nước do giáo sư Lê Thế Trung làm chủ nhiệm, thực hiện tại Học viện Quân y giai đoạn 1987-1999.
Năm 1999 đề tài được nghiệm thu và cây xạ đen được công nhận là một vị thuốc nam có tác dụng điều trị ung thư. Ngoài ra, có một số nghiên cứu khác như sau: “Nghiên cứu tác dụng ức chế tế bào ung thư và chống oxy hóa của lá xạ đen (Celastrus hindsii Benth et Hook)”. Bùi Thị Thanh Duyên, Đặng Kim Thu, Vũ Mạnh Hùng, Bùi Thanh Tùng (2020), VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. [5] “Phân đoạn toàn diện các chất chống oxy hóa và bằng phương pháp GC- MS và ESI-MS trong lá loài Celastrus hindsii ”.
Tran Duc Viet, Tran Dang Xuan, Truong Mai Van, Yusuf Andriana, Ramin Rayee, Hoang-Dung Tran (2019), Comprehensive Fractionation of Antioxidants and GC-MS and ESI-MS Fingerprints of Celastrus hindsii Leaves, Medicines, 6, pp. “Đánh giá độc tính của chiết xuất từ loài Celastrus hindsii Benth ở Việt Nam”. Thanh Loan Pham, Van Huy Nguyen, Thi Tam Tien Ha, Thi Le Thu Hoang, Chi Nghia Phan, Thi Quyen Nguyen (2020), Evaluation of Acute 9 Toxicity and Semi-chronic Toxicity of Extract from Celastrus hindsii Benth, Pak. Tình hình chiết xuất, phân lập, định tính, định lƣợng Xác định tổng hàm lượng phenolic: Hàm lượng phenol được đánh giá bằng phương pháp Folin-Cicalteau Các mẫu thử nghiệm được trộn với 0,125 mL thuốc thử Folin-Ciocalteu và sau đó lắc trong 6 phút.
Sau đó, thêm 1,25 mL Na2CO3 7% vào. Các dung dịch hỗn hợp được điều chỉnh bằng methanol đến thể tích 3 ml, trộn kỹ và ủ ở nhiệt độ môi trường trong điều kiện tối. Độ hấp thụ sau đó được ghi lại ở bước sóng 765 nm. Tổng hàm lượng phenol được biểu thị bằng miligam đương lượng axit gallic trên gam dịch chiết hoặc phần (mg GAE / g dịch chiết) theo đường cong chuẩn.
Tất cả các mẫu được phân tích trong 3 lần lặp lại. [15] Xác định tổng hàm lượng flavonoid: Tổng hàm lượng flavonoid của C. hindsii được xác định bằng phương pháp màu nhôm clorua. Cho 100 µL nhôm (III) clorua hexahydrat (2%) vào 100 µL mẫu chuẩn rutin.
Sau khi ủ ở nhiệt độ phòng và trong điều kiện tối trong 15 phút, độ hấp thụ được đo ở bước sóng 430 nm. 10 Tổng hàm lượng flavonoid là được tính theo đường cong chuẩn và được biểu thị bằng mg rutin đương lượng trên mỗi g dịch chiết hoặc phần (mg RE / g chiết xuất). [15] Tính chất chống oxy hóa: - Phương pháp 2,2-Diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) Hoạt tính chống oxy hóa của chiết xuất và các phân đoạn cô lập được ước tính bởi phương pháp DPPH. [15] Trộn hỗn hợp chứa 0,5 mL mỗi mẫu, 0,25 mL 0,5 nM DPPH, và 0,5 mL dung dịch đệm axetat 0,1 M (pH 5,5) được chuẩn bị và đặt trong bóng tối trong 30 phút ở điều kiện môi trường xung quanh.