Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh với đề tài "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường đại học Sư phạm Việt Nam" (Mã số: 9340101) do nghiên cứu sinh Vũ Quảng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Hường, hoàn thành vào năm 2020.

Về tính cấp thiết và bối cảnh nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học (GDĐH) đang chuyển dịch theo hướng cạnh tranh thương mại và cơ chế thị trường giáo dục, trong khi nguồn ngân sách nhà nước có xu hướng giảm dần, buộc các trường đại học phải tìm kiếm nguồn tài chính khác (Ginsbeg, 1991; Lawson, 1992; Nguyễn Thị Anh Vân, 2015). Dưới góc độ marketing dịch vụ, GDĐH được xem là một loại hình dịch vụ đặc thù mà kết quả đầu ra chính là sự phát triển tinh thần, kiến thức, kỹ năng và kết quả tốt nghiệp của người học (Fisk và các cộng sự, 2007; Dann, 2008). Tại Việt Nam, hệ thống đào tạo giáo viên gồm 66 cơ sở (14 trường đại học sư phạm và 52 trường đại học có khoa sư phạm) đang đối mặt với nhiều bất cập về chất lượng đào tạo, số lượng sinh viên sư phạm tốt nghiệp chưa có việc làm ngay trong giai đoạn 2018–2019 ước tính khoảng 40% (Nguyễn Trang, 2018; Bùi Minh Tuấn, 2013). Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDĐH theo Nghị quyết 19 của Ban Chấp hành Trung ương và định hướng tự chủ đại học, việc quy hoạch mạng lưới và nâng cao chất lượng đầu ra của khối ngành sư phạm trở thành yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Mặc dù các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ như SERVQUAL (Parasuraman và các cộng sự, 1988), SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992) hay HEdPERF (Abdullah, 2006b) đã được ứng dụng trong giáo dục, hầu hết các công trình trước đây chỉ tập trung đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên (Weerasinghe & Fernando, 2018; Mohamed và các cộng sự, 2018; Phạm Thị Liên và các cộng sự, 2016) mà chưa đi sâu phân tích tác động trực tiếp của các nhân tố dịch vụ giáo dục đến chất lượng đầu ra của sinh viên. Đồng thời, mô hình năng lực chuyên môn giáo viên COACTIV (Baumert & Kunter, 2013) chưa được kết hợp với các thang đo chất lượng dịch vụ GDĐH để đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm dưới góc nhìn quản trị kinh doanh tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng các thang đo, mô hình và đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường đại học sư phạm (ĐHSP) Việt Nam trong bối cảnh thực tế. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Xây dựng mô hình lý thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường đại học sư phạm.
  2. Đánh giá tác động của các nhân tố đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường đại học sư phạm Việt Nam.
  3. Đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đầu ra sinh viên tại các trường ĐHSP Việt Nam.

Bốn câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:

  1. Mô hình nào là phù hợp để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng đầu ra sinh viên tại các trường ĐHSP Việt Nam?
  2. Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên tại các trường ĐHSP Việt Nam?
  3. Mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường ĐHSP Việt Nam là như thế nào?
  4. Các trường ĐHSP Việt Nam cần có các biện pháp gì để góp phần nâng cao chất lượng đầu ra sinh viên?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng đầu ra sinh viên tại các trường ĐHSP.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên trên cơ sở kế thừa, điều chỉnh thang đo HEdPERF (Abdullah, 2006b) và mô hình COACTIV (Baumert & Kunter, 2013).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 7 trường ĐHSP chủ chốt trên toàn quốc (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, ĐHSP Đà Nẵng, ĐHSP Huế, ĐHSP Thái Nguyên) và khảo sát cựu sinh viên ngành sư phạm đang công tác tại các trường tiểu học, THCS, THPT ở 15 tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Giang, Tuyên Quang, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sóc Trăng, Bến Tre, Bình Dương, Tiền Giang, Cần Thơ).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2010–2018 (cập nhật đến 2019); dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019; các giải pháp đề xuất định hướng đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh hai nội dung chính: các nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo và các tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên.

Về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên, tác giả phân loại thành 5 nhóm nhân tố chính và nhóm yếu tố bổ trợ:

  • Chương trình đào tạo: Harvery và Green (1993), Church (1998), Chen và các cộng sự (2007), Đoàn Văn Dũng (2015), Đàm Trí Cường (2015), Trương Thị Hiền (2017), Rossi (2017), Nguyễn Thu Hương (2014) chỉ ra rằng mục tiêu, nội dung, tính cập nhật và phương pháp đào tạo quyết định hệ thống chuẩn kiến thức, kỹ năng được trang bị cho người học.
  • Đội ngũ giảng viên: Rainey và Murova (2004), Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hoa Kỳ (2006), Chen và các cộng sự (2007), Wenglinsky (1997), Hauptman (2006), Đinh Thị Minh Tuyết (2010), Phạm Trần Lê (2010), Nguyễn Khắc Bình (2012), Alos và các cộng sự (2015), Shehry và Youssif (2017), Doãn Thị Mai Hương (2017) xác định năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên là nhân tố trực tiếp tạo ra chất lượng dịch vụ giáo dục.
  • Cơ sở vật chất: Kwan và Ng (1999), Heynerman (2001), Hauptman (2006), Chen và các cộng sự (2007), Gamage và các cộng sự (2008), Nguyễn Văn Tuấn (2008), Nguyễn Huy Chương (2008), Mushtaq và Khan (2012), Trần Dương Quốc Hòa (2016), Mohamed và các cộng sự (2018) chứng minh diện tích mặt bằng, phòng thí nghiệm, thư viện, giáo trình và học liệu điện tử ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả học tập và nghiên cứu.
  • Đội ngũ hỗ trợ: Elliott và Shin (2002), Nadiri và các cộng sự (2009), Malik và các cộng sự (2010), Aigbavboa và Thwala (2013), Pathmini và các cộng sự (2014), Weerasinghe và Fernando (2018) xem xét thái độ phục vụ, tính chuyên nghiệp và sự hỗ trợ của khối hành chính đối với sinh viên.
  • Các dịch vụ gia tăng: Cassel và Eklo (2001), Abdullah (2006b), Alvis và Raposo (2006), Hoàng Thị Phương Thảo và Nguyễn Kim Thảo (2012), Andrea và Benjamin (2013), Hanssen và Solvoll (2015), Lê Ngọc Thắng (2017), Võ Văn Việt (2017) phân tích các hoạt động đoàn hội, tư vấn học tập - hướng nghiệp, y tế, nội trú và hoạt động ngoại khóa.
  • Các yếu tố khác: Chất lượng đầu vào (Geiser & Santelices, 2007; Nguyễn Văn Tuấn, 2008; Alam và các cộng sự, 2014; Maruzzella Rossi, 2017), thái độ học tập (Suhaily & Soelasih, 2015), đặc điểm gia đình và kinh tế - xã hội (Harmon & Walker, 2000; Chevalier & Lanot, 2001; Ermisch & Francesconi, 2001; Agus & Makhbul, 2002; Minnesota, 2007; Singh và các cộng sự, 2016), nguồn lực tài chính (Hanushek, 1989, 1991; Hedges và các cộng sự, 1994; Holloway, 2006; Lê Đức Ngọc, 2011; Tumen, 2013).
Nhóm nhân tố tác động Các nghiên cứu tiêu biểu được tác giả tổng hợp
Chương trình đào tạo Harvery & Green (1993), Church (1998), Đoàn Văn Dũng (2015), Nguyễn Thu Hương (2014), Rossi (2017)
Đội ngũ giảng viên Wenglinsky (1997), Hauptman (2006), Nguyễn Khắc Bình (2012), Alos và các cộng sự (2015), Doãn Thị Mai Hương (2017)
Cơ sở vật chất Kwan & Ng (1999), Heynerman (2001), Nguyễn Văn Tuấn (2008), Mushtaq & Khan (2012), Mohamed và các cộng sự (2018)
Đội ngũ hỗ trợ Elliott & Shin (2002), Nadiri và các cộng sự (2009), Malik và các cộng sự (2010), Weerasinghe & Fernando (2018)
Dịch vụ gia tăng Abdullah (2006b), Hoàng Thị Phương Thảo & Nguyễn Kim Thảo (2012), Lê Ngọc Thắng (2017), Võ Văn Việt (2017)

Về tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên, các công trình trước đây sử dụng: tiêu chuẩn AUN-QA (2016); điểm trung bình học kỳ GPA/CGPA (Tho, 1994; Stephan & Schaban, 2002; Abdullah, 2005; Darling, 2005; Galiher, 2006; Tahir & Naqvi, 2006; Robert & Sampson, 2011; Shehry & Youssif, 2017); tỷ lệ có việc làm và mức độ đáp ứng công việc (Harvey & Green, 1993; Church, 1998; Nguyễn Văn Tuấn, 2008; Phạm Văn Quyết & Phạm Văn Huệ, 2015); năng lực thực hiện nghề nghiệp, kỹ năng mềm và phẩm chất đạo đức (Lê Kim Long & Phạm Minh Trí, 2012; Phạm Văn Nam, 2012; Baumert & Kunter, 2013; Bui Thi Nga và các cộng sự, 2015; Nguyễn Minh Tuấn, 2015; Sái Công Hồng, 2016; Nguyễn Thị Thanh & Lê Thị Hạnh, 2017; Đoàn Huệ Dung & Lê Thị Tuyết Mai, 2017; Lê Chi Lan, 2018).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các nghiên cứu tại Việt Nam tiếp cận chất lượng đào tạo sư phạm thuần túy dưới góc độ khoa học giáo dục, thiếu khung phân tích định lượng từ góc nhìn quản trị dịch vụ kinh doanh. Luận án tích hợp mô hình HEdPERF và COACTIV nhằm lượng hóa mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố dịch vụ đào tạo của trường sư phạm với các cấu phần chất lượng đầu ra của sinh viên sư phạm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết và mô hình sau:

  1. Khái niệm chất lượng và chất lượng GDĐH: Định nghĩa theo ISO 8402, quan điểm 5 khía cạnh chất lượng của Harvey và Green (1993), quan điểm của Middlehurst (1992), Vroeijenstijn (1992), INQAAHE, Koslowski (2006), Akareem và Hossain (2012), Ashraf và các cộng sự (2009), Nguyễn Thị Quế Anh (2017), Holdford và Patkar (2003), O'Neill và Palmer (2004).
  2. Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984): Đánh giá qua chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.
  3. Mô hình SERVQUAL (Parasuraman và các cộng sự, 1988) và SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992): Đánh giá 5 khoảng cách dịch vụ và 5 thành phần: Phương tiện hữu hình, Độ tin cậy, Khả năng đáp ứng, Năng lực phục vụ, Sự cảm thông; mô hình E-S-QUAL (2005).
  4. Mô hình 5 yếu tố của SEAMEO (1999): Đầu vào, Quá trình đào tạo, Kết quả đào tạo, Đầu ra, Hiệu quả.
  5. Mô hình 4 cấp độ đánh giá đào tạo của Kirkpatrick (1975, 1994, 1996): Phản ứng, Nhận thức, Hành vi, Kết quả.
  6. Thang đo HEdPERF (Abdullah, 2006b): Gồm 6 nhóm nhân tố (Học thuật, Ngoài học thuật, Danh tiếng, Tiếp cận, Chương trình học, Thấu hiểu) được điều chỉnh lại thành 5 nhóm nhân tố độc lập phù hợp bối cảnh trường sư phạm.
  7. Mô hình COACTIV (Baumert & Kunter, 2013): Bắt nguồn từ Shulman (1986, 1987), Bromme (1992, 1997), Bransford và các cộng sự (2005), gồm 4 thành phần năng lực nghề nghiệp giáo viên, được luận án rút gọn thành 2 nhóm biến phụ thuộc phản ánh chất lượng đầu ra.
  8. Lý luận về đặc thù đào tạo sư phạm: Nghiệp vụ sư phạm (Lục Thị Nga, 2007; Nguyễn Thị Kim Dung, 2015), quan điểm về người thầy là "cỗ máy cái" và niềm tin sư phạm của Xukhomlinxky (Hà Thế Ngữ & Đặng Vũ Hoạt, 1987), hoạt động liên kết trường phổ thông/mầm non và nghiên cứu khoa học giáo dục.

Hệ thống biến số và thang đo được thiết kế trong mô hình nghiên cứu:

  • Biến độc lập (5 nhóm nhân tố dịch vụ đào tạo):
    • Chương trình đào tạo (CTĐT): 06 chỉ báo (kế thừa HEdPERF, bổ sung 03 chỉ báo mới).
    • Đội ngũ giảng viên (GV): 08 chỉ báo (bổ sung 01 chỉ báo mới).
    • Cơ sở vật chất (CSVC): 09 chỉ báo (bổ sung 02 chỉ báo mới).
    • Hỗ trợ người học (HTNH): 11 chỉ báo.
    • Các dịch vụ gia tăng (DVGT): 09 chỉ báo (bổ sung 02 chỉ báo mới).
  • Biến phụ thuộc (Chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm):
    • Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm (NL_NV): 08 chỉ báo.
    • Niềm tin và ý thức nghề nghiệp (NT_YT): 06 chỉ báo.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu định tính sơ bộ: Thực hiện thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý giáo dục và giảng viên tại các trường sư phạm để hiệu chỉnh các thang đo kế thừa từ HEdPERF và COACTIV, bổ sung các biến quan sát đặc thù cho phù hợp với môi trường sư phạm tại Việt Nam.
  2. Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm bằng bảng hỏi, sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22 để kiểm định sơ bộ độ tin cậy thang đo (Cronbach's alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  3. Nghiên cứu định lượng chính thức:
    • Mẫu nghiên cứu: Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên mẫu khảo sát diện rộng tại 7 trường ĐHSP chủ chốt và cựu sinh viên đang giảng dạy tại 15 tỉnh/thành phố trên cả nước.
    • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's alpha (qua các bước sàng lọc đến lần 3); phân tích nhân tố khám phá EFA (với kiểm định KMO và Bartlett, ma trận xoay nhân tố); phân tích nhân tố khẳng định CFA; kiểm định trung bình (T-test/ANOVA đối với biến định tính như mối quan hệ giữa nhóm GV_CSV đến NL_NV và NT_YT); phân tích hệ số tương quan Pearson; hồi quy đa biến (đánh giá hệ số xác định R², kiểm định tự tương quan Durbin-Watson); phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để xác định trọng số hồi quy chuẩn hóa và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về GDĐH và chất lượng đào tạo. Tác giả phân tích các nhóm nhân tố tác động (chương trình, giảng viên, cơ sở vật chất, đội ngũ hỗ trợ, dịch vụ gia tăng, chất lượng đầu vào, đặc điểm gia đình và quản lý tài chính). Chương này tổng hợp các tiêu chí đánh giá đầu ra (GPA/CGPA, việc làm, chuẩn năng lực, kỹ năng mềm, phẩm chất đạo đức) và phân tích thực trạng sinh viên sư phạm ra trường thiếu việc làm (khoảng 40% giai đoạn 2018–2019 theo Nguyễn Trang, 2018). Tác giả tổng kết các công trình chính qua Bảng 1.1 và khẳng định khoảng trống nghiên cứu về việc đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm dưới góc độ quản trị dịch vụ đại học.

Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường đại học sư phạm

Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận về GDĐH, chất lượng dịch vụ giáo dục và tính chất đặc thù của các trường ĐHSP. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết nền tảng: Gronroos (1984), SERVQUAL (Parasuraman và các cộng sự, 1988), SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992), SEAMEO (1999), Kirkpatrick (1975) và thang đo HEdPERF (Abdullah, 2006b). Đối với chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm, tác giả kế thừa mô hình năng lực COACTIV (Baumert & Kunter, 2013) kết hợp phân tích các khía cạnh đặc thù như rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (Lục Thị Nga, 2007; Nguyễn Thị Kim Dung, 2015), quan hệ liên kết với trường phổ thông/mầm non, hoạt động NCKH giáo dục và việc xây dựng niềm tin nghề nghiệp (Hà Thế Ngữ & Đặng Vũ Hoạt, 1987). Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 nhóm biến độc lập tác động đến 2 nhóm biến phụ thuộc cấu thành chất lượng đầu ra (NL_NV và NT_YT) cùng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu hai giai đoạn. Giai đoạn định tính sơ bộ phục vụ điều chỉnh thang đo. Thang đo sau điều chỉnh gồm: Chương trình đào tạo (6 biến quan sát), Đội ngũ giảng viên (8 biến quan sát), Cơ sở vật chất (9 biến quan sát), Hỗ trợ người học (11 biến quan sát), Dịch vụ gia tăng (9 biến quan sát), Năng lực chuyên môn nghiệp vụ (8 biến quan sát), Niềm tin và ý thức nghề nghiệp (6 biến quan sát). Tác giả trình bày kết quả kiểm định sơ bộ thang đo qua Bảng 3.7 đến 3.13. Giai đoạn định lượng chính thức mô tả quy trình chọn mẫu tại 7 trường ĐHSP lớn và cựu sinh viên tại 15 tỉnh/thành, quy trình thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019, cùng quy trình phân tích dữ liệu trên SPSS 22 (Cronbach's alpha, EFA, CFA, T-test, ANOVA, hồi quy đa biến và SEM).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 phản ánh hai nội dung trọng tâm:

  1. Thực trạng hoạt động đào tạo của các trường ĐHSP: Phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2018 (cập nhật 2019) về quy mô trường lớp, sinh viên, cơ cấu sinh viên theo khối ngành, mạng lưới 66 cơ sở đào tạo giáo viên, số lượng và trình độ đội ngũ giảng viên (tiến sĩ, thạc sĩ), cơ sở vật chất và tình hình việc làm của sinh viên ra trường.
  2. Kết quả kiểm định định lượng:
    • Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (Bảng 4.5).
    • Kiểm định độ tin cậy Cronbach's alpha đối với các thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc (Bảng 4.6 đến 4.12, qua 3 lần lọc để loại các biến không đạt).
    • Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc và biến độc lập với kiểm định KMO và Bartlett đạt yêu cầu, xác định rõ các nhân tố qua ma trận xoay (Bảng 4.13 đến 4.16).
    • Phân tích nhân tố khẳng định CFA.
    • Kiểm định trung bình (T-test/ANOVA) cho biến định tính (Bảng 4.17, 4.18).
    • Phân tích tương quan Pearson (Bảng 4.19) và hồi quy tuyến tính đa biến: kết quả ước lượng hệ số hồi quy, hệ số xác định R² và hệ số Durbin-Watson cho biến NL_NV (Bảng 4.20, 4.21) và biến NT_YT (Bảng 4.22, 4.23).
    • Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM: ước lượng mối quan hệ giữa các nhân tố, trọng số hồi quy chuẩn hóa (Bảng 4.24, 4.25) và bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 4.26).

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng đầu ra sinh viên các trường Đại học Sư phạm Việt Nam

Chương 5 thảo luận chi tiết các kết quả đạt được từ phân tích thực trạng và phân tích mô hình định lượng về mức độ tác động của từng nhân tố dịch vụ đào tạo đến hai khía cạnh chất lượng đầu ra (năng lực chuyên môn nghiệp vụ; niềm tin và ý thức nghề nghiệp). Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống khuyến nghị và giải pháp quản trị cho các trường ĐHSP Việt Nam định hướng đến năm 2025, tập trung vào: đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thực hành nghề nghiệp; nâng cao trình độ và phương pháp giảng dạy của giảng viên; hiện đại hóa cơ sở vật chất và học liệu điện tử; nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ và các dịch vụ gia tăng. Chương này cũng trình bày các hạn chế của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Bổ sung khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của sinh viên ngành sư phạm dưới góc độ kinh tế và quản trị kinh doanh trong bối cảnh đổi mới giáo dục và tự chủ đại học.
  2. Kế thừa và hiệu chỉnh thang đo chất lượng dịch vụ GDĐH (HEdPERF) thành 05 nhóm nhân tố độc lập phù hợp với trường sư phạm: Chương trình đào tạo (6 chỉ báo, 3 chỉ báo mới), Đội ngũ giảng viên (8 chỉ báo, 1 chỉ báo mới), Cơ sở vật chất (9 chỉ báo, 2 chỉ báo mới), Hỗ trợ người học (11 chỉ báo), Dịch vụ gia tăng (9 chỉ báo, 2 chỉ báo mới).
  3. Rút gọn mô hình COACTIV từ 4 nhóm thành 2 nhóm biến phụ thuộc đo lường chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm (8 chỉ báo) và Niềm tin và ý thức nghề nghiệp (6 chỉ báo).
  4. Xây dựng và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính đo lường tác động của các nhân tố chất lượng dịch vụ đào tạo đến chất lượng đầu ra sinh viên khối ngành sư phạm tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về quy mô đào tạo, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất và việc làm của sinh viên sư phạm tại Việt Nam giai đoạn 2010–2018 (cập nhật 2019).
  2. Làm rõ mức độ tác động của từng nhân tố dịch vụ đến hai cấu phần chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm, cung cấp căn cứ thực nghiệm cho các nhà quản lý trường đại học.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị quản lý cho các trường ĐHSP Việt Nam đến năm 2025 nhằm nâng cao chất lượng đầu ra, đáp ứng yêu cầu tự chủ và quy hoạch mạng lưới đào tạo giáo viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát tập trung tại 7 trường ĐHSP trọng điểm và cựu sinh viên tại 15 địa phương tham gia dự án phát triển năng lực các trường sư phạm, chưa khảo sát toàn diện tất cả 66 cơ sở đào tạo giáo viên trên cả nước.
    • Các yếu tố ngoại lai như đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình, thu nhập, điểm chuẩn đầu vào trung học phổ thông và cơ chế quản lý tài chính chi tiết chưa được tích hợp vào mô hình kiểm định định lượng chính thức.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các trường đại học đa ngành có khoa đào tạo sư phạm và các trường cao đẳng sư phạm địa phương.
    • Bổ sung các biến kiểm soát về chất lượng đầu vào, nền tảng gia đình và cơ chế tài chính nhằm hoàn thiện mô hình đánh giá toàn diện các yếu tố tác động đến chất lượng đầu ra sinh viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục đại học (HEdPERF) với mô hình năng lực nghề nghiệp (COACTIV), quy trình xử lý dữ liệu từ EFA, CFA đến SEM trên SPSS.
  • Đối với giảng viên và cán bộ quản lý các trường ĐHSP: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, tái cấu trúc chương trình đào tạo, hoàn thiện công tác bồi dưỡng giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất và nâng cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo): Cung cấp dữ liệu thực trạng và luận cứ thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chính sách quy hoạch mạng lưới trường sư phạm, đổi mới cơ chế đào tạo giáo viên theo Nghị quyết 19 và lộ trình tự chủ đại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận nghiên cứu chất lượng đầu ra sinh viên sư phạm từ góc độ chuyên ngành nào?
Luận án tiếp cận vấn đề dưới góc độ chuyên ngành Quản trị kinh doanh, coi GDĐH là một loại hình cung cấp dịch vụ đào tạo đặc thù, sinh viên là trung tâm và chất lượng đầu ra là kết quả của quá trình cung ứng các dịch vụ giáo dục trong bối cảnh tự chủ đại học.

2. Luận án đã tích hợp những mô hình lý thuyết nền tảng nào để xây dựng khung phân tích?
Tác giả đã tích hợp và hiệu chỉnh hai mô hình chính: thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục đại học HEdPERF của Abdullah (2006b) đối với các nhân tố tác động và mô hình năng lực chuyên môn giáo viên COACTIV của Baumert và Kunter (2013) đối với tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra sinh viên.

3. Cơ cấu thang đo các biến độc lập và biến phụ thuộc trong luận án gồm những nhóm nào?
Mô hình gồm 5 nhóm biến độc lập: Chương trình đào tạo (6 chỉ báo), Đội ngũ giảng viên (8 chỉ báo), Cơ sở vật chất (9 chỉ báo), Hỗ trợ người học (11 chỉ báo), Dịch vụ gia tăng (9 chỉ báo); và 2 nhóm biến phụ thuộc: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm (8 chỉ báo), Niềm tin và ý thức nghề nghiệp (6 chỉ báo).

4. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những đối tượng và phạm vi địa bàn nào?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019 tại 7 trường ĐHSP chủ chốt (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, ĐHSP Đà Nẵng, ĐHSP Huế, ĐHSP Thái Nguyên) và cựu sinh viên sư phạm đang công tác tại các trường phổ thông ở 15 tỉnh/thành phố trên cả nước.

5. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật định lượng nào để phân tích dữ liệu?
Luận án sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22 để thực hiện: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach's alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, kiểm định trung bình T-test/ANOVA, phân tích tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Quảng đã giải quyết vấn đề đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra sinh viên các trường ĐHSP Việt Nam dưới góc nhìn Quản trị kinh doanh. Bằng việc tích hợp mô hình chất lượng dịch vụ HEdPERF và mô hình năng lực COACTIV, công trình đã xây dựng và kiểm định hệ thống thang đo gồm 5 nhóm nhân tố tác động và 2 nhóm biến đầu ra trên mẫu khảo sát diện rộng tại các trường sư phạm trọng điểm. Các kết quả phân tích thực trạng và kiểm định mô hình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ban hành các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên đến năm 2025 trong bối cảnh đổi mới và tự chủ giáo dục đại học.