CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MỞ RONG HOẠT ĐỘNG MGCK TẠI CTCK 1. Tổng quan về CTCK 1. Khái niệm CTCK Trên thị trường tài chính, TTCK đóng một vai trò hết sức quan trọng và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng nhìn chung được hiểu đơn giản là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán trung và dài hạn. Quy định tại Khoản 18 Điều 6 “Luật Chứng khoán Việt Nam 70/2006/QH11”: “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán”.
Nền kinh tế có thê huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư giúp luân chuyên từ nhưng nguồn tiết kiệm nhỏ tập trung thành nguồn vốn lớn là nhờ có TTCK. Nguồn vốn lớn này sẽ giúp tài trợ cho doanh nghiệp duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Thêm vào đó, TTCK còn là nơi cho các cá nhân có nơi đầu tư và chứng khoán trong nền kinh tế có thanh khoản. CTCK là một trong nhiều cá thể hoạt động trên TTCK.
Sự chuyên nghiệp khi thực hiện nghiệp vụ, kiến thức chuyên môn vững vàng và cơ cấu bộ máy hợp lý về tài chính và chính dịch vụ cung cấp của các CTCK sẽ đóng vai trò quan trọng, là cá thể tác động đến sự phát triển của TTCK và toàn bộ nền kinh tế. Các CTCK đang ngày càng chứng tỏ mình là một mắt xích không thê thiếu của TTCK. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm CTCK. Theo Giáo trình “TTCK”, trường Đại học KTQD, “CTCK là một định chế tải chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK” Theo Giáo trình “77CK”, Học viện tài chính, “CTCK là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên TTCK, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như một ngành nghề kinh doanh chính.” Theo Giáo trình “7TCK”, Dai học Ngoại thương, “CTCK là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của UBCKNN cấp.” CTCK có thé tô chức ở 2 loại cơ bản là CTCP và công ty TNHH.
Quyết định của UBCKNN số 04/1998/QĐ-UBCK3 quy định “CTCK là công ty cô phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán”. Do những ưu điểm của CTCP nên chủ yếu các CTCK hoạt động theo hình thức này. Phân loại CTCK Dé phân loại các CTCK có nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cách phân loại theo mô hình tổ chức hay được sử dụng. Theo cách phân loại này, chúng ta sẽ có CTCK đa năng và CTCK chuyên doanh.
CTCK đa năng “CTCK đa năng được tô chức dưới hình thức một tô hợp dich vu tài chính tổng hợp”, gồm kinh doanh chứng khoán, tiền tệ và dịch vụ khác. CTCK đa năng lại có 2 hình thức: - CTCK đa năng một phan: Theo hình thức này, sẽ có sự phân biệt giữa các hoạt động kinh doanh như bảo hiểm, chứng khoán và hoạt động tiền tệ. Nói theo một cách khác, một ngân hàng phải thành lập công ty con với các hoạt động được hạch toán độc lập và bóc tách riêng rẽ nếu muốn kinh doanh chứng khoán hoặc bảo hiểm, những hoạt động này phải tách bạch với hoạt động chính của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ. - CTCK đa năng hoàn toàn: Bên cạnh tiền tệ, các sản phẩm tài chính khác được ngân hàng đồng thời kinh doanh như bảo hiểm, chứng khoán.
CTCK chuyên doanh “CTCK chuyên doanh là các CTCK chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách và các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Đặc điểm của CTCK Về vốn của CTCK Khác với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa không bị bị ràng buộc bởi những quy định về vốn thì các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, CTCK đều phải tuân thủ về số vốn điều lệ theo luật quy định. Quy định về số vốn điều lệ dé thành lập CTCK ở mỗi nước sẽ khác nhau, và sẽ có quy định về cụ thé mức vốn tùy loại kinh doanh. Quy định tại “Luật Chứng khoán Việt Nam” có số vốn tối thiểu cho các hình thức tự doanh, môi giới, tư vấn đầu tư và bảo lãnh phát hành theo thứ tự 100 tỷ đồng, 25 tỷ đồng, 10 tỷ đồng và 165 tỷ đồng.
Đây chính là căn cứ quyết định CTCK có thể được tham gia hoạt động nghiệp vụ nào trên thị trường và giúp bảo vệ các NĐT khi giao dịch thông qua CTCK. Về đội ngũ nhân sự của CTCK Đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao do đây là lĩnh vực phức tạp, tác động trực tiếp đến nên kinh tế và thị trường tài chính. Theo Thông tư 197/2015/TT-BTC về “Quy 6 định về hành nghề chứng khoán”: “ Người hành nghề chứng khoán là người được UBCKNN cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán và đang làm việc tại CTCK, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán”. Về ban lãnh đạo của CTCK Cũng như những đặc điểm về đội ngũ nhân sự của các CTCK, ban lãnh đạo của CTCK ngoài đòi hỏi chuyên môn năng lực tốt còn cần kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán, cụ thé theo Thông tư 210/2012/TT-BTC về “Hướng dẫn về thành lập và hoạt động CTCK”: “Giám đốc (Tổng Giám đốc) CTCK phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất ba (03) năm và có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu ba (03) năm; Có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ”.
Về cơ sở vật chất CTCK CTCK phải đáp ứng day đủ cơ sở hạ tang và trang thiết bị để hỗ trợ cho việc mua bán chứng khoán như địa điểm, sàn mua bán với bảng giá điện tử, hệ thống về lưu trữ và bảo mật thông tin, hệ thống và trang thiết bị dự phòng. Về lợi ích bị xung đột giữa quyền lợi của CTCK và khách hàng Khác với việc luôn gắn lợi ích của khách hàng với lợi ích của doanh nghiệp và không xảy ra mâu thuẫn về lợi ích của những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ hay sản xuất kinh doanh, thì những CTCK có tham gia khuyến nghị đầu tư, tự doanh, môi giới sẽ có xung đột lợi ích giữa người sử dụng dich vụ và người cung cap dịch vu. Chức năng và vai trò của CTCK CTCK là một trung gian tài chính quan trọng của TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung. Chức năng và vai trò của CTCK đã được thé hiện phần nào trong khái niệm của nó — kinh doanh chứng khoán theo chuyên môn hóa.
Việc có thể vận hành trơn tru của TTCK có sự giúp đỡ không nhỏ từ các CTCK khi vận chuyên vốn từ nơi nhàn rỗi sang nơi thiếu, qua đó mang lại nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển, góp phần tăng trưởng kinh tế. Chức năng của CTCK Thứ nhất, CTCK giúp luân chuyên vốn từ người mua (thừa vốn) sang người bán (thiếu vốn). Trên thực tế, đề tiến hành hoạt động kinh doanh thường cần một số vốn rất lớn. Khi đó, họ sẽ tìm đến những nơi huy động chủ yếu như vay ngân hàng, huy động vốn trên sàn chứng khoán hoặc phát hành trái phiếu.
Sử dụng vốn vay với tỷ lệ hợp lý sẽ là đòn bây cho doanh nghiệp, nhưng nếu sử dụng quá nhiều sẽ khiến lợi nhuận của doanh nghiệp bị bảo mòn do chi phí lãi vay cao. Thêm vào đó, thủ tục vay ngân hàng 7 còn khá rắc rối và trở ngại cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, họ thường ưa chuộng kênh huy động vốn qua các loại chứng khoán như cô phiếu và trái phiếu. Lúc này, các CTCK phát huy khả năng của mình thông qua hoạt động phát hành va bảo lãnh phát hành, giúp người cần vốn (doanh nghiệp) tiếp cận với người thừa vốn (NĐT) một cách dễ dàng và thuận tiện hơn.
Thứ hai, CTCK cung cấp cơ chế giá cho các giao dịch. Cụ thể, trên thị trường, CTCK sẽ đóng vai trò đầu mối dé giúp các giao dịch khớp lệnh với nhau qua bảng giá điện tử bao gồm giá bán, giá mua và khối lượng giao dịch. Thứ ba, CTCK góp phần tạo thanh khoản trên thị trường cho chứng khoán. CTCK giúp việc chuyển đổi thành tiền mặt của các loại chứng khoán diễn ra một cách dễ dàng và nhanh chóng dựa theo các quy chế hiện hành.
Trên TTCK Việt Nam hiện nay, sau hai ngày (T+2) kề từ ngày khớp lệnh giao dịch sẽ là ngày thanh toán tiền mua chứng khoán. Ngược lại, đối với việc bán chứng khoán, sau khi khớp lệnh, tiền cũng sẽ về tài khoản của NDT tại CTCK sau hai ngày. Thứ tư, CTCK có chức năng điều tiết và bình ổn thị trường. Đối với NDT va doanh nghiệp, CTCK có thé là trung gian tài chính nhưng thêm vào đấy, trên TTCK, CTCK đồng thời có khả năng là một NDT với hoạt động tự doanh.
Thông thường, cung cầu thị trường bị tác động khá đáng kế khi CTCK thực hiện hoạt động này do họ giao dịch với quy mô rộng và tiềm lực lớn. Vai trò CTCK Trong thị trường tài chính, CTCK đóng vai trò rất quan trọng. Với mỗi chủ thể khác nhau thì vai trò của CTCK cũng khác nhau. Đối với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp (tổ chức phát hành) khi tham gia TTCK đều có mong muốn tiếp cận tối đa dòng vốn trên thị trường nhằm duy trì, hỗ trợ và thúc day các dự án hay vận hành kinh doanh.
Tuy nhiên, về phía tổ chức phát hành và những người đầu tư góp vốn, theo quy định của Việt Nam, không được giao dịch trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tô chức tài chính trung gian. Lúc này, CTCK trở thành một nơi vô cùng quan trọng là trung gian tài chính trong việc điều tiết vốn từ nơi thừa (NDT) đến nơi thiếu (doanh nghiệp) của nền kinh tế. CTCK sẽ tiến hành dich vụ MGCK và bảo lãnh phát hành. Đối với các NDT Do các NDT trên TTCK rất đa dạng về quy mô lẫn hình thức, họ có thé là KHCN, KHTC hoặc mang quốc tịch nước ngoài, và không phải NDT cũng có đủ khả 8 năng cũng như cơ hội tìm đến những thông tin đáng tin cậy để trợ giúp quyết định đầu tư.
Lúc này, CTCK tiếp tục đóng vai trò là trung gian tài chính, thông qua hoạt động MGCK của mình, giúp các NDT tiếp cận những cơ hội một cách nhanh chóng và chuẩn xác nhất. Đối với TTCK Đối với TTCK, CTCK có hai vai trò chính, đó là: Thứ nhất, CTCK giúp điều tiết thị trường, xác định giá cả.