Chương 1 : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2 : Thực trạng về quản lý hoạt động thực tập của học sinh trường Trung cấp Y tế Nam Định Chương 3 : Một số biện pháp quản lý hoạt động thực tập của học sinh trường Trung cấp Y tế Nam Định 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Với cách nhìn nhận mới về quản lý hiện nay, quản lý là một nhân tố quan trọng trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội hiện nay đó là: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Trong đó quản lý có vai trò mang tính chất quyết định thành công.
* Khái niệm quản lý Từ khi xuất hiện xã hội loài người, con người đã biết quy tụ thành bầy, thành nhóm để tồn tại và phát triển. Từ lao động đơn lẻ đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao động cao hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành … đó chính là chức năng quản lý. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tuỳ theo các quan điểm tiếp cận khác nhau.
- Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang sắp xếp, đưa hệ vào thế “phát triển”.Taylor (1856 – 1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” 15, tr. Theo Henry Fayon (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức” 15, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Koontz (người Mỹ) thì “Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể”. Theo Mary Parker Follet thì: quản lý là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Theo từ điển Bách khoa về Giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được giải nghĩa là việc “Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội”.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (đối tượng quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình hoá qua sơ đồ sau: Công cụ Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Phương pháp Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ …. Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
* Vai trò của quản lý: Quản lý có vai trò tập hợp có tổ chức các hành vi của người cán bộ quản lý. Vai trò này phân làm ba nhóm, bao gồm: - Vai trò liên nhân cách: Gồm vai trò đại diện, vai trò thủ lĩnh, vai trò liên hệ. - Vai trò thông tin: Người cán bộ quản lý vừa là người giữ vai trò của người hiệu thính viên, vừa là phát thanh viên, đồng thời là phát ngôn viên. - Vai trò quyết định: Gồm vai trò người sáng nghiệp, vai trò người dàn xếp, phân phối nguồn lực, vai trò thương thuyết * Các chức năng cơ bản của quản lý Nghiên cứu về bản chất của hoạt động quản lý người ta nhận thấy quản lý có tính tất yếu khách quan đồng thời có tính tất yếu chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý.
Mặt khác quản lý vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật lại vừa có tính xã hội rộng rãi.chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất, đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý. Chức năng quản lý là một công cụ của quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý, nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Xã hội luôn phát triển và nền sản xuất xã hội luôn vận động và phát triển nên chức năng quản lý cũng không ngừng biển đổi, cải tiến và hợp lý hoá theo quá trình phát triển của xã hội. Vậy chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ hợp các chức năng tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Tất cả các chức năng quản lý gắn bó và quy định lẫn nhau, phân loại các chức năng quản lý là liên kết chúng lại với nhau thành một hệ thống trọn vẹn, đồng thời phân chia chúng thành những phân hệ dựa trên những dấu hiệu chung, theo một quy tắc nhất định. Những chức năng quản lý chung là những chức năng mà bất cứ một chủ thể quản lý ở bất cứ lĩnh vực nào, cấp quản lý nào đều phải thực hiện, bất kỳ ai khi triển khai quá trình quản lý cũng phải thực hiện chức năng này. Các chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách logíc bắt buộc.
Những người đầu tiên nghiên cứu về chức năng quản lý là F.W Taylor (1856-1915) và Henri Fayol (1841-1925) đã đưa ra 5 chức năng quản lý, gần đây người ta thu gọn chỉ còn 4 chức năng cơ bản: - Chức năng kế hoạch hoá; Chức năng tổ chức; Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo); Chức năng kiểm tra. Mối liên hệ các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau: Kế hoạch Kiểm tra, đánh giá Thông Tổ chức tin Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý. * Nhiệm vụ của quản lý Nhiệm vụ của quản lý bao gồm: Quản lý tổ chức, quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế và quản lý xã hội, các yếu tố này liên hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống.
Cụ thể: - Nhiệm vụ quản lý kỹ thuật nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các thành viên trong hệ thống là một nhiệm vụ thường xuyên và liên tục. Một hệ thống luôn có nhu cầu ổn định và phát triển. Muốn phát triển thì không thể thiếu việc nâng cao tay nghề, trình độ của mọi phần tử thuộc hệ thống đang quản lý. Các nhà quản lý cần có kế hoạch nhân sự và kinh phí dành cho việc đào tạo và đào tạo lại các nhân viên của mình sao cho công việc không ngừng trệ.
Mỗi một công việc đều cần sự phát triển chuyên môn nên không thể bỏ qua bất cứ khâu nào. Bên cạch việc bồi dưỡng chuyên môn cho mọi người, các nhà quản lý cũng cần có kế hoạch cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ làm cho năng xuất lao động ngày càng cao, hiệu xuất lao động ngày càng tăng, giảm giá thành sản phẩm, hạn chế gây ô nhiễm môi trường… Việc hoàn chỉnh kỹ thuật và đổi mới công nghệ là một nhiệm vụ không thể thiếu được đối với công tác quản lý nếu muốn cho hệ thống tồn tại và phát triển. - Nhiệm vụ quản lý kinh tế: Công tác tổ chức - kỹ thuật cuối cùng cũng sẽ nhằm vào phát triển kinh tế. Nhiệm vụ quản lý kinh tế có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động đời sống xã hội.
Mỗi nền kinh tế đưa ra một hình thức quản lý kinh tế phù hợp. - Nhiệm vụ quản lý xã hội: Quản lý xã hội là giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn. Nhiệm vụ quản lý xã 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội bao gồm mọi công việc có liên quan đến tổ chức chỗ ăn ở, làm việc, nghỉ ngơi giải trí, đi lại của người dân. Tuỳ theo mục tiêu quản lý mà các nhiệm vụ quản lý có mức độ khác nhau.
Nhưng dù đối tượng quản lý là gì thì nhiệm vụ quản lý cũng có mối quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ nhau. Không thể có trạng thái quản lý đơn lẻ mà dẫn đến thành công. * Các hình thức quản lý: Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý, các hình thức tổ chức quản lý cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu.