Luận văn thạc sĩ thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên báo cần thơ và báo đồng khởi

Luận văn thạc sĩ phân tích thông điệp khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên Báo Cần Thơ và Báo Đồng Khởi, đánh giá tác động truyền thông.

2020

163
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ 'Thông Điệp Khởi Nghiệp Sáng Tạo Cho Thanh Niên Trên Báo Cần Thơ Và Báo Đồng Khởi' tập trung vào việc phân tích thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo dành cho thanh niên thông qua hai tờ báo địa phương là Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và hỗ trợ thanh niên trong quá trình phát triển bản thân. Bối cảnh nghiên cứu được đặt trong giai đoạn 2019, khi khởi nghiệp sáng tạo trở thành xu hướng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

1.1. Lý do chọn đề tài

Khởi nghiệp sáng tạo đang là chủ đề nóng trong xã hội, đặc biệt là với thanh niên. Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin về cơ hội việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, và giáo dục khởi nghiệp còn hạn chế. Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi là hai kênh truyền thông quan trọng tại khu vực ĐBSCL, đóng vai trò truyền tải thông điệp về khởi nghiệp đến thanh niên. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của hai tờ báo trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về thông điệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời phân tích nội dung và hình thức truyền tải thông điệp trên Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp, giúp thanh niên tiếp cận hiệu quả hơn với các cơ hội khởi nghiệp.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn dựa trên các lý thuyết về truyền thôngkhởi nghiệp sáng tạo, đồng thời kế thừa các nghiên cứu trước đây về vai trò của báo chí trong việc truyền tải thông điệp. Các khái niệm như thông điệp truyền thông, tinh thần khởi nghiệp, và hỗ trợ khởi nghiệp được phân tích kỹ lưỡng. Nghiên cứu cũng tham khảo các công trình quốc tế về khởi nghiệp sáng tạo, như cuốn sách 'Quốc gia khởi nghiệp' của Dan Senor và Saul Singer, để làm rõ các yếu tố thành công trong khởi nghiệp.

2.1. Khái niệm khởi nghiệp sáng tạo

Khởi nghiệp sáng tạo được định nghĩa là quá trình tạo ra các ý tưởng mới, ứng dụng công nghệ và phương pháp quản lý hiện đại để phát triển doanh nghiệp. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của tinh thần khởi nghiệp và sự hỗ trợ từ các tổ chức, chính phủ trong việc thúc đẩy khởi nghiệp.

2.2. Vai trò của báo chí trong khởi nghiệp

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo, giúp thanh niên tiếp cận thông tin về cơ hội việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, và giáo dục khởi nghiệp. Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi là hai kênh truyền thông chính tại khu vực ĐBSCL, góp phần thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong thanh niên.

III. Phân tích thực trạng thông điệp khởi nghiệp

Nghiên cứu tiến hành phân tích nội dung và hình thức truyền tải thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo trên Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi trong năm 2019. Kết quả cho thấy, hai tờ báo đã tích cực đưa tin về các điển hình startup thành công, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, và hoạt động huấn luyện kỹ năng mềm. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế trong việc đa dạng hóa thông tin và kết nối với cộng đồng khởi nghiệp.

3.1. Nội dung thông điệp

Các thông điệp chủ yếu tập trung vào chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, điển hình startup thành công, và xây dựng tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, thông tin về kỹ năng mềmkết nối nhà đầu tư còn hạn chế.

3.2. Phương thức truyền tải

Hai tờ báo sử dụng đa dạng hình thức truyền tải, bao gồm bài viết, hình ảnh, và video. Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữhình ảnh chưa thực sự thu hút, cần cải thiện để tăng hiệu quả truyền thông.

IV. Giải pháp và kiến nghị

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo trên Báo Cần ThơBáo Đồng Khởi. Các giải pháp bao gồm đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức truyền tải, và tăng cường kết nối với cộng đồng khởi nghiệp. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục khởi nghiệphỗ trợ khởi nghiệp trong thanh niên.

4.1. Giải pháp nâng cao nhận thức

Cần tăng cường tuyên truyền về tinh thần khởi nghiệpcơ hội việc làm thông qua các chương trình giáo dục và hoạt động cộng đồng.

4.2. Giải pháp đổi mới nội dung

Đa dạng hóa nội dung thông điệp, tập trung vào kỹ năng mềm, kết nối nhà đầu tư, và mô hình khởi nghiệp sáng tạo để thu hút sự quan tâm của thanh niên.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên báo cần thơ và báo đồng khởi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên báo chí. Chương 2: Thực trạng thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên Báo Cần Thơ và Báo Đồng Khởi. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên trên Báo Cần Thơ và Báo Đồng Khởi. 16 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG ĐIỆP VỀ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CHO THANH NIÊN TRÊN BÁO CHÍ 1.

Truyền thông và thông điệp truyền thông trên báo chí 1. Truyền thông Khái niệm truyền thông: Truyền thông theo tiếng Anh là “Communication”, nghĩa là sự truyền đạt thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc. Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Communis” với nghĩa là “làm cho phổ biến, công cộng”. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.

Nhờ truyền thông, giao tiếp con người tự nhiên trở thành con người xã hội. Hiện nay, trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, các học giả đã đưa rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Ordway Tead (1959) nhận định: “Truyền thông là sự tổng hợp của thông tin đưa đi và nhận lại về kiến thức kinh nghiệm nào đó nhằm thay đổi thái độ, kiến thức và kỹ năng, kéo theo đó là sự thay đổi về hành vi. Nó gồm những nỗ lực lắng nghe của các bên tham gia, sự giám sát liên tục các vấn đề của người giao tiếp và sự trao đổi nhạy bén các quan điểm cá nhân nhằm đạt đến mức độ cao hơn của sự hiểu biết chung và đạt được những mục tiêu chung” [3; tr.

Theo Gerald Miler (1966), “Truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ” [3; tr. Còn theo Keith Davis (1967): “Truyền thông là quá trình truyền thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác [3; tr. Hai tác giả William Newman và Charles Summer (1977) đưa ra khái niệm truyền thông là sự trao đổi các ý tưởng, sự việc, quan điểm hay cảm xúc của hai hoặc nhiều người [3; tr. Rodriques (1992) đã đưa ra nhận định truyền thông có thể được định nghĩa là một sự trao đổi và sự sao chép chính xác những suy nghĩ, cảm xúc, sự việc, niềm tin và ý tưởng giữa các cá nhân thông qua một hệ thống các biểu tượng chung nhằm tạo ra những thay đổi trong hành vi [3; tr.

17 Theo tác giả Dương Xuân Sơn, “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [40, tr. Ở định nghĩa này, tác giả lưu ý đến hai khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời, mà là quá trình mang tính liên tục. Đây là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.

Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Còn theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [42, tr. Quá trình truyền thông là quá trình hai chiều, người khởi xướng (nguồn) và người tiếp nhận đều phải tham gia vào trong hoạt động truyền thông. Người làm truyền thông không thể xem cái mình biết là cái cuối cùng, mà còn phải chú ý tới phản ứng và sự trả lời của người tiếp nhận.

Mô hình truyền thông: Mô hình truyền thông là những bản vẽ, bảng, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ, các hình tượng được sử dụng để biểu đạt những ý kiến phức tạp dưới dạng đồ họa, từ đó cho phép chúng ta nhìn nhận sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ đa dạng hơn về một khái niệm rất phức tạp: truyền thông. Hiệu quả của truyền thông là những vận động xã hội được hình thành dưới tác động của truyền thông, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Hiệu quả có nhiều tầng nấc: - Hiệu quả tiềm năng: có khả năng mang lại hiệu quả nào đó từ chất lượng thông tin. - Hiệu quả tiếp nhận: xem dung lượng nội dung thông tin tiếp nhận như một hiệu quả truyền thông.

18 - Hiệu quả nhận thức: sự thay đổi về quan điểm, tình cảm, thái độ và xã hội dưới tác động của truyền thông, còn được coi là hiệu ứng xã hội của truyền thông. - Hiệu quả thực tế: những biến đổi trên thực tế của con người, xã hội dưới tác động của truyền thông, còn được coi là hiệu ứng xã hội của truyền thông. Quá trình truyền thông gồm những yếu tố cơ bản, như: Chủ thể truyền thông, Thông điệp, Phương tiện truyền thông, Người nhận, Hiệu quả và Nhiễu. Quá trình này được thể hiện trong mô hình truyền thông 2 chiều của Shannon và Weaver năm 1948.

Thông điệp Chủ thể Mã hóa Giải mã Người nhận Phương tiện truyền thông Nhiễu Phản hồi Phản ứng đáp lại Hình 1. Sơ đồ truyền thông 2 chiều của Shannon và Weaver năm 1948 Trong đó: Chủ thể truyền thông (hay nguồn hoặc đầu phát) là yếu tố thông tin tiềm năng và khởi xướng thực hiện truyền thông, có thể đó là cá nhân nói, viết, vẽ hoặc làm động tác… Bên cạnh đó, chủ thể truyền thông cũng có thể là một nhóm người hoặc một tổ chức truyền thông như Đài phát thanh truyền hình, một tờ báo hay rạp chiếu phim. Đây là yếu tố đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình truyền thông. Thông điệp (nội dung): là nội dung thông tin được trao đổi, chia sẻ từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.

Có thể bằng tín hiệu, mã số, lời nói, cử chỉ, thái độ, chữ viết hoặc bất cứ tín hiệu nào mà con người có thể hiểu được và trình bày một 19 cách có nghĩa. Nói cách khác, thông điệp được diễn tả bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận có thể hiểu được. Phƣơng tiện truyền thông (kênh): là khả năng vận dụng các phương tiện có sẵn nhằm truyền tải thông điệp từ đầu phát đến người tiếp nhận hoặc từ nơi này đến nơi khác. Có rất nhiều phương tiện truyền thông được sử dụng hiện nay, như: báo in, truyền hình, radio, internet và mạng xã hội.

Ngƣời nhận (công chúng): là độc giả, khán thính giả đại chúng, là đối tượng các phương tiện truyền thông muốn tiếp cận. Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông, cũng là khâu cuối cùng quyết định kết quả, biến mục đích truyền thông từ khả năng thành hiện thực. Đó là việc tạo ra thay đổi về nhận thức, dẫn tới thay đổi về hành vi của người tiếp nhận, phù hợp với qui mô, tính chất và khuynh hướng của thông điệp. Phản hồi: mỗi thông điệp có thể được hiểu và chấp nhận ở các mức độ khác nhau tùy theo kiến thức, thái độ của người tiếp nhận, đồng thời tùy thuộc vào người cung cấp thông điệp.

Mã hóa: là quá trình biến suy nghĩ được truyền tải trong thông điệp. Chủ thể truyền thông xác định cách người nhận sẽ nhận thông điệp và điều chỉnh sao cho thông điệp được hiểu theo cách họ muốn. Giải mã: người tiếp nhận thông điệp và giải thích thông điệp cho chính họ. Cách giải mã thông điệp có thể khác nhau ở mỗi người nhận thông điệp, hay nói cách khác, một thông điệp có thể được giải mã khác nhau ở những người nhận khác nhau.

Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trong quá trình truyền thông (ví dụ như tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…), dẫn đến tình trạng thông tin, thông điệp bị hiểu sai. Nhiễu ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình truyền thông. Thông điệp càng qua nhiều khâu chuyển tiếp thì càng có nguy cơ chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu. Mô hình này cho thấy, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (chủ thể truyền thông), sau khi thông điệp được mã hóa sẽ truyền tải các kênh truyền thông, thông 20 điệp sẽ được giải mã và đến với người tiếp nhận thông điệp.

Ngoài những đặc điểm chung kế thừa từ mô hình truyền thông của Lasswell, mô hình Shannon và Weaver còn bổ sung thêm yếu tố “nhiễu” có thể gây ảnh hưởng tới tính rõ ràng, sự chính xác của thông điệp hay làm giảm khả năng tiếp nhận thông điệp của người nhận. Ở mô hình hai chiều, công chúng tiếp nhận đóng vai trò quyết định trong quá trình truyền thông. Sự quyết định của công chúng không chỉ dừng ở việc tự do lựa chọn kênh truyền thông, tự do đón nhận thông điệp, mà công chúng còn tham gia trực tiếp (nếu họ muốn), trở thành một yếu tố trong mô hình truyền thông. Lúc này, bản thân công chúng trở thành một nguồn phát thông điệp.

Trong mô hình này, sự áp đặt chủ quan của chủ thể thông điệp có ý nghĩa rất ít đối với quy trình truyền thông. Với mô hình truyền thông đã trình bày, chúng tôi xác định vị trí của nghiên cứu trong mô hình này chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố thông điệp (phân tích thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên). Môi trƣờng truyền thông: Mọi quy trình truyền thông đều diễn ra trong những môi trường cụ thể. Môi trường truyền thông có vai trò tác động đến năng lực và hiệu quả truyền thông, do đó việc nắm bắt, làm chủ và chi phối môi trường truyền thông nhằm tạo được hiệu quả cao là một công việc cần thiết.

Môi trường truyền thông bao gồm hai loại yếu tố chính, gồm các yếu tố môi trường tự nhiên - kỹ thuật và các yếu tố môi trường tâm lý - xã hội. Các yếu tố môi trường tự nhiên - kỹ thuật, như: địa hình, quang cảnh, môi trường xunh quanh, phương tiện kỹ thuật truyền dẫn… bảo đảm cho thông điệp được truyền đến đối tượng một cách đầy đủ và trọn vẹn. Các yếu tố môi trường tâm lý - xã hội, như: sự hưng phấn, cường độ của sự chú ý, sự nhiệt tình tham gia, tâm trạng, tâm lý… có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng truyền thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Thông Điệp Khởi Nghiệp Sáng Tạo Cho Thanh Niên Trên Báo Cần Thơ Và Báo Đồng Khởi là một nghiên cứu chuyên sâu về cách các thông điệp khởi nghiệp sáng tạo được truyền tải đến thanh niên thông qua hai tờ báo địa phương. Tài liệu này không chỉ phân tích nội dung và phương pháp truyền thông mà còn đưa ra những gợi ý thiết thực để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong việc định hướng và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, đồng thời nhận được những bài học quý giá về cách xây dựng thông điệp hiệu quả.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến truyền thông và quản lý, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ đặc điểm phóng sự trọng lang để hiểu sâu hơn về phong cách viết báo chí. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ đánh giá chất lượng dịch vụ kênh truyền hình QRT sẽ cung cấp góc nhìn về chất lượng truyền thông đại chúng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về quản lý và phát triển doanh nghiệp. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan!