CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản Hoạt động kinh doanh là tất cả những hoạt động, những nghiệp vụ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các hoạt động này thường tuân thủ theo quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị và quy luật cung cầu. Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở toàn doanh nghiệp nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp.
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức phù hợp với điều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Ý nghĩa của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh [18] Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng đề ra các quyết định kinh doanh, kiểm tra và đánh giá điều hành hoạt động kinh doanh. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro.
Khi phân tích hoạt động kinh doanh chúng ta không chỉ phân tích các điều kiện bên trong của doanh nghiệp mà ta còn phân tích các điều kiện bên ngoài tác động vào doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp dự đoán được rủi ro và có kế hoạch phòng ngừa hoặc hạn chế tác hại của nó. 6 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều hết sức cần thiết với mỗi doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp thấy rõ nguyên nhân cùng với nguồn gốc phát sinh vấn đề và có hướng giải quyết cụ thể để cải tiến quản lý.
Phân tích hoạt động kinh tế là việc phân chia các hiện tượng, quá trình và các kết quả kinh tế thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó bằng các phương pháp khoa học xác định các nhân tố ảnh hưởng và xu thế ảnh hưởng của từng nhân tố đến quá trình kinh tế. Từ đó đề xuất các biện pháp để phát huy sức mạnh, khắc phục điểm yếu, khai thác tiềm năng, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả. Nội dung phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh [18] Với tư cách là một môn khoa học độc lập, phân tích kinh doanh có đối tượng nghiên cứu riêng.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình nó là một hoạt động kinh doanh và đồng thời nó cũng là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với tác động của các yếu tố ảnh hưởng, nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả hoạt động kinh doanh có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần phải đạt được. Kết quả hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động theo cơ chế thị trường cần phải định hướng theo mục tiêu dự toán.
Quá trình phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh cần định lượng tất cả các chỉ tiêu là kết quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ở những chỉ số xác định cùng với độ biến động xác định. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh trước hết phải xác định hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, cùng với việc xác định mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu xây dựng mối liên hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế khác nhau, để phản ứng với tính phức tạp đa dạng của nội dung phân tích. Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Phương pháp chi tiết Thứ nhất, chi tiết theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu: Mọi kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu, đều bao gồm nhiều bộ phận.
Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được. Với ý nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh doanh. Trong phân tích kết quả sản xuất nói chung, chỉ tiêu giá trị sản lượng thường được chi tiết theo các bộ phận có ý nghĩa kinh tế khác nhau. Thứ hai, chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình.
Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian thường xác định không đều. Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được các giải pháp có hiệu quả cho công việc kinh doanh. Tùy theo đặc tính của quá trình kinh doanh, tùy nội dung kinh tế của từng chỉ tiêu phân tích và tùy mục đích phân tích khác nhau có thể lựa chọn trong khoảng thời gian và chỉ tiêu chi tiết cho phù hợp. Thứ ba, chi tiết theo địa điểm: Phân xưởng, tổ đội.
thực hiện các kết quả kinh doanh được ứng dụng rộng rãi trong phân tích kinh doanh trong các trường hợp sau: - Một là, đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ. Trong trường hợp này, tùy chỉ tiêu khoán khác nhau có thể chi tiết mức thực hiện khoán các đơn vị có cùng nhiệm vụ như nhau. 8 - Hai là, phát hiện các đơn vị tiên tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Tùy mục tiêu đề ra có thể chọn các chỉ tiêu chi tiết phù hợp về các mặt: Năng suất, chất lượng, giá thành.
- Ba là, khai thác các khả năng tiềm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, đất đai. trong kinh doanh. Phương pháp so sánh Khi tiến hành so sánh cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản như: xác định số gốc so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh. Gốc để so sánh ở đây có thể là các trị số chỉ tiêu kỳ trước, kỳ kế hoạch hoặc cùng kỳ năm trước (so sánh theo thời gian), có thể so sánh mức đạt được của các đơn vị với một đơn vị được chọn làm gốc so sánh - đơn vị điển hình trong một lĩnh vực nào đó (so sánh theo không gian).
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến động tuyệt đối, tương đối cùng biến động xu hướng của chỉ tiêu phân tích. So sánh tuyệt đối: ∆ = C1 – C0 (1.1) C1 So sánh tương đối: %∆ = (1.2) C0 Trong đó: C1: Số liệu kỳ phân tích C0: Số liệu kỳ gốc. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh [11, trang 17] Để đánh giá chính xác có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu chi tiết đó phải phản ánh được sức sản xuất, các hao phí cũng như sức sinh lợi của từng yếu tố, của từng loại vốn. Nhóm chỉ tiêu tổng quát 1.
Sức sản xuất Sức sản xuất là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào mang lại mấy đơn vị kết quả sản xuất đầu ra. Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn, 9 chứng tỏ hiệu quả sử dụng đầu vào càng cao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất Sức sản xuất = (1.3) Yếu tố đầu vào Tùy theo mục đích phân tích, “đầu ra phản ánh kết quả sản xuất” có thể sử dụng một trong số các chỉ tiêu như: tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng số luân chuyển thuần. “Yếu tố đầu vào” bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay.
Sức sinh lợi Sức sinh lợi hay khả năng sinh lợi là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào hay một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu “sức sinh lợi” tính ra càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi càng cao, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại Đầu ra phản ánh lợi nhuận Sức sinh lợi = (1.4) Yếu tố đầu vào hay đầu ra phản ánh kết quả Tùy thuộc vào mục đích phân tích, “đầu ra phản ánh lợi nhuận” có thể là lợi nhuận gộp về bán hàng, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thế. còn “yếu tố đầu vào hay đầu ra phản ánh kết quả sản xuất” giống như chỉ tiêu “sức sản xuất” ở trên. Suất hao phí Suất hao phí là chỉ tiêu cho biết: để có 1 đơn vị “đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay lợi nhuận” doanh nghiệp phải hao phí mấy đơn vị chi phí hay “yếu tố đầu vào”.
Trị số của chỉ tiêu “Suất hao phí” tính ra càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. 10 Yếu tố đầu vào Suất hao phí = (1.5) Đầu ra phản ánh kết quả hay lợi nhuận 1. Hiệu quả sử dụng chi phí Chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm.
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải trả thuế gián thu theo luật thuế đã quy định: Thuế VAT, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng chi phí = (1.6) Tổng chi phí trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện một đồng chi phí bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu đựơc bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất này càng cao càng tốt và ngược lại. Lợi nhuận sau thuế Hiệu quả sử dụng chi phí = (1.7) Tổng chi phí trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt và ngược lại.