CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ TIỀN LƯƠNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về quản trị tiền lương của doanh nghiệp viễn thông 1. Tiền lương của doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm về tiền lương của doanh nghiệp viễn thông a) Khái niệm doanh nghiệp viễn thông Doanh nghiệp viễn thông là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ viễn thông; sản xuất thiết bị, vật liệu viễn thông; xuất nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu viễn thông và tư vấn, khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình viễn thông.
Doanh nghiệp viễn thông là đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông. Theo Pháp lệnh Bưu chính viễn thông có doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng vàr doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. - Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp viễn thông. Được quy định tại luật số: 41/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc Hội về việc ban hành Luật viễn thông.
b) Khái niệm tiền lương, tiền công của doanh nghiệp viễn thông Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế. Đối với thành phần kinh tế Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp trong đó có lao động ngành viễn thông, tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp Nhà nước, các cơ quan tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định. Đối với thành phần kinh tế không phải Nhà nước, tiền lương chịu sự tác động, chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động. Tiền lương trong khu vực này dù vẫn nằm trong khuôn khổ luật pháp và theo những chính sách của Nhà nước nhưng là những giao dịch trực tiếp giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Tiền lương trong ngành viễn thông phản ánh quan hệ giữa Nhà nước với cán bộ công nhân viên viễn thông. Tiền lương trở thành công cụ đắc lực thúc đẩy sự 5 phát triển của sản xuất kinh doanh viễn thông, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên trong ngành. Tiền lương là một vấn đề trọng yếu trong công tác tổ chức sản xuất kinh doanh ngành viễn thông. Nó có quan hệ mật thiết với các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh và biểu hiện rõ chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người lao động ngành viễn thông.
Chính vì vậy tiền lương đúng đắn không những thể hiện đầy đủ nguyên tắc trả lương, mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh tốc độ phát triển sản suất kinh doanh viễn thông, động viên cán bộ công nhân viên thi đua hợp lý hoá sản xuất kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, thực hành tiết kiệm để không ngừng nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm dịch vụ viễn thông, tạo khả năng vật chất cần thiết để nâng cao phúc lợi của người lao động. Nguyên tắc trả lương và chế độ tiền lương a) Nguyên tắc tiền lương - Tiền lương phải được trả trên cơ sở sức lao động và năng suất lao động. Những lao động có trình độ nghề nghiệp cao, thành thạo và chất lượng cao thì được trả công cao và ngược lại. Do vậy, tiền lương phải phản ánh đúng giá trị của sức lao động và được coi là giá cả sức lao động.
- Trả lương phải căn cứ vào điều kiện lao động cụ thể. Việc trả công lao động phải tính đến thực trạng của quá trình lao động để kịp thời động viên năng lực sẵn có, giải phóng sức lao động và bù đắp khó khăn mà người lao động phải gánh chịu nhằm nâng cao năng suất lao động. Trong quá trình lao động, người lao động chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như điều kiện và môi trường lao động, mức độ nặng nhọc của công việc, do vậy, việc trả lương phải đảm bảo hợp lý, thông qua chế độ phụ cấp nhằm bù đắp hao phí lao động cho người lao động. - Trả lương trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Sự thoả thuận là yếu tố tinh thần căn bản của tiền lương trong quan hệ hợp đồng lao động. b) Lương tối thiểu vùng Tiền lương tối thiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường. Theo Bộ 6 luật Lao động: Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ tính các mức lương cho các loại lao động khác. … c) Hệ thống thang bảng lương Thang, bảng lương là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách tiền lương.
Việc xây dựng hệ thống thang, bảng lương phải xuất phát từ đặc điểm lao động khác nhau trong từng ngành nghề và trong điều kiện lao động cụ thể nhằm thiết lập chế độ tiền lương hợp lý cho từng đối tượng lao động. Hệ thống thang, bảng lương: Gồm lương cán bộ lãnh đạo bầu cử và bổ nhiệm; lương cán bộ, công chức chuyên môn hành chính; lương cán bộ, viên chức sự nghiệp…Với doanh nghiệp viễn thông áp dụng thang lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh. Chức năng của tiền lương. a) Chức năng tái tạo sức lao động Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo.
Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị. Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ sự tiến bộ của xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của những thành tựu khoa học - kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra.
Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cả về số lượng và cả về chất lượng (Bùi Xuân Phong, 2006). Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương. Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục. Như vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động của chính mình, sản xuất ra sức lao động mới đồng thời tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cường chất lượng lao động 7 b) Chức năng đòn bẩy kinh tế Các Mác đã viết: "Một tư tưởng tách rời lợi ích kinh tế thì nhất định sẽ làm nhục nó".
Thực tế cho thấy rằng khi được trả công xứng đáng thì người lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp. Thậm chí nó sẽ có những cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội. Ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của người lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng như ngoài xã hội. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
c) Chức năng điều tiết lao động Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ đó tiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội. d) Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động. Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nước.
e) Chức năng công cụ quản lý nhà nước Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh người sử dụng lao động đứng trước hai sức ép là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất. Họ thường tìm mọi cách có thể để làm giảm thiểu chi phí trong đó có tiền lương trả cho người lao động. 8 Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lương, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động. Với các chức năng trên ta có thể thấy tiền lương đóng một vai trò quan trọng việc thúc đẩy sản xuất và phát triển phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Vai trò của tiền lương đối với người lao động, tổ chức và xã hội Tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động và doanh nghiệp. Tiền lương có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho người lao động. Đồng thời tiền lương cũng có tác dụng to lớn trong động viên khuyến khích người lao động yên tâm làm việc.