Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh tại trường trung học cơ sở vân hà đông anh hà nội

Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục về tích hợp dạy học Ngữ văn với giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh tại trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

155
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý dạy học

Quản lý dạy học là một lĩnh vực quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong việc giảng dạy môn Ngữ văn. Quản lý dạy học không chỉ bao gồm việc tổ chức và điều hành các hoạt động dạy học mà còn liên quan đến việc phát triển năng lực của giáo viên và học sinh. Trong bối cảnh hiện nay, việc tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh vào môn Ngữ văn là cần thiết để hình thành nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh. Theo đó, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn phải chú trọng đến việc giáo dục giá trị sống, giúp học sinh phát triển toàn diện. Việc quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý dạy học

Quản lý dạy học là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm tra các hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Quản lý dạy học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là trong việc giảng dạy môn Ngữ văn. Môn Ngữ văn không chỉ giúp học sinh tiếp cận với văn hóa, lịch sử mà còn hình thành nhân cách và kỹ năng sống. Việc tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh vào môn Ngữ văn sẽ giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị văn hóa và xã hội, từ đó hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong cuộc sống. Điều này cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.

1.2. Các yếu tố tác động đến quản lý dạy học

Quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như: chính sách giáo dục, năng lực của giáo viên, sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng. Giáo dục cần có sự đồng bộ giữa các cấp quản lý và sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội. Đặc biệt, giáo viên cần được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao năng lực giảng dạy và quản lý lớp học. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển toàn diện. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý dạy học.

II. Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn

Tại trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội, thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh đang gặp một số khó khăn. Quản lý dạy học chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến việc giáo viên và học sinh chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh vào môn Ngữ văn. Nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, chưa tạo ra được môi trường học tập thân thiện và hiệu quả. Học sinh cũng chưa có nhiều cơ hội để thực hành và trải nghiệm các giá trị sống trong thực tế.

2.1. Thực trạng hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Vân Hà hiện nay chủ yếu tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà chưa chú trọng đến việc giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh. Giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, ít áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Điều này dẫn đến việc học sinh không hứng thú với môn học, không phát huy được khả năng sáng tạo và tư duy độc lập. Hơn nữa, việc thiếu các hoạt động ngoại khóa và trải nghiệm thực tế cũng làm giảm hiệu quả giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh.

2.2. Thực trạng quản lý hoạt động học

Quản lý hoạt động học của học sinh tại trường THCS Vân Hà còn nhiều hạn chế. Quản lý chưa thực sự chú trọng đến việc theo dõi và đánh giá quá trình học tập của học sinh. Việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học chưa hiệu quả, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Học sinh chưa được khuyến khích tham gia vào các hoạt động học tập tích cực, dẫn đến việc thiếu động lực học tập. Cần có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng hoạt động học của học sinh, từ đó góp phần vào việc giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh.

III. Biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả dạy học

Để nâng cao hiệu quả quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường THCS Vân Hà, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể. Quản lý dạy học cần được thực hiện một cách đồng bộ và có hệ thống, từ việc xây dựng kế hoạch dạy học đến việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Cần chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực cho giáo viên, giúp họ áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả. Hơn nữa, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục học sinh.

3.1. Xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp

Kế hoạch dạy học cần được xây dựng một cách chi tiết, rõ ràng, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tế. Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu dạy học, nội dung tích hợp và phương pháp dạy học phù hợp. Việc xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp sẽ giúp giáo viên có định hướng rõ ràng trong quá trình giảng dạy, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với các giá trị sống một cách tự nhiên và hiệu quả.

3.2. Tăng cường bồi dưỡng giáo viên

Bồi dưỡng giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Cần tổ chức các khóa bồi dưỡng về phương pháp dạy học tích cực, giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho giáo viên. Việc này không chỉ giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn mà còn tạo động lực cho họ trong công tác giảng dạy. Hơn nữa, giáo viên cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm trong việc dạy học tích hợp.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh tại trường trung học cơ sở vân hà đông anh hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu pháp QL hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống TLVM ở trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống TLVM nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Một số khái niệm cơ bản về quản lý 1. Quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia.

Hoạt động quản lý (QL) xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa cá nhân con người. Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động QL đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó.

Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của loài người.Taylor - người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động - cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. 327] Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về quản lý.

8 Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đhóa và kiểm tra”. 9] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. 25] Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu.

Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Như vậy, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau. Nhưng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức, đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra. Nhưng sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.

Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm xã hội đó và ngoài ra còn sáng tạo ra những kinh nghiệm mới làm giàu và phong phú thêm, bổ sung thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại, thúc đẩy xã hội loài người không ngừng phát triển. Như vậy, giáo dục chính là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho họ. 9 Quản lý giáo dục là một chuyên ngành được phát triển trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm QLGD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm QLGD trong phạm vi quản lý một hệ thống GD nói chung mà hạt nhân của hệ thống QLGD. Trong cuốn “Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục”, M.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên. 94 Theo tác giả Bush T. (trong tác phẩm Theories of Education Management, PCP, London, 1995): “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.

Ở Việt Nam, QLGD cũng là lĩnh vực được nhiều nhà quan tâm nghiên cứu. Theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục), chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. 114-115] Theo Đặng Xuân Hải, Nguyễn Sỹ Thư: Quản lý nhà nước về giáo dục là: “Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan có trách nhiệm về quản lý giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo , duy trì kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu được giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước”. 6] 10 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.

31] Những khái niệm trên về QLGD tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GD của từng cơ sở và toàn bộ hệ thống GD đạt tới mục tiêu. Tóm lại, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục. Chức năng quản lý giáo dục.

Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý, là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Thông qua các chức năng QL, người ta xác định các khối lượng công việc cơ bản và trình tự tiến hành các công việc của quá trình QL. Trong mọi quá trình QL, người QL phải thực hiện một dãy chức năng kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt buộc, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ QL đến khi kiểm tra các kết quả đạt được. Qua nghiên cứu lý luận và thực tế của công tác QL nói chung ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là việc làm không thể thiếu được của chủ thể quản lý.

Về số lượng các chức năng quản lý, hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý. 11 - Chức năng kế hoạch hóa: Là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Dạy Học Ngữ Văn Tích Hợp Giáo Dục Nếp Sống Thanh Lịch Văn Minh THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về việc quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ Văn theo hướng tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh THCS. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về phương pháp dạy học tích hợp mà còn đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho giáo viên, nhà quản lý giáo dục và những ai quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lý dạy học môn ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện đông anh hà nội, nghiên cứu về phát triển năng lực học sinh thông qua môn Ngữ Văn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động dạy học môn ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở thành phố móng cái tỉnh quảng ninh cũng là một tài liệu đáng đọc, tập trung vào việc áp dụng chương trình giáo dục mới trong dạy học Ngữ Văn. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục phát triển năng lực dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho giáo viên ngữ văn trung học sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về phát triển năng lực dạy học đọc hiểu, một kỹ năng quan trọng trong giáo dục Ngữ Văn.