CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN DICH VU HO TRỢ SAU CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về dịch vụ 1. Khái niệm về dịch vụ Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của địch vụ nên hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Chăng hạn, Từ điển Việt Nam giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”.
Tuy nhiên cách giải thích này còn khái quát và chưa thực sự làm rõ được bản chất của dịch vụ. Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”, tác giả đã đưa ra khái niệm dịch vụ :“Dịch vụ là các lao động của con người được kết tỉnh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”. Khi so sánh với cách giải thích của Từ điện bách khoa thì cách giải thích nay đã làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ — dịch vụ là kết tỉnh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có bốn đặc điểm quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình hoạt động dịch vụ một cách có hiệu quả.
- Thứ nhất là, tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình. Không giống như các sản phẩm vật chất khác, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng. Một người đi cắt tóc không thẻ nhìn thấy kết quả trước khi mua dịch vụ đó. Một người đi máy bay không thể biết trước được chuyến bay đó có an toàn hạ cánh đúng lịch trình, và có được phục vụ chu đáo hay không cho tới khi bước ra khỏi sân bay.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng của dịch vụ, họ sẽ suy diễn về chất lượng của dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin uy tín và giá cả mà họ thấy. Vì vậy, nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là vận dụng những bằng chứng dé làm cho cái vô hình trở thành hữu hình, cố gắng nêu lên được những bằng chứng vật chất và hình tượng hoá món hàng trừu tượng của mình. - Thứ hai là tính không chia cắt được: Dịch vụ thường sản xuất và tiêu dùng một cách không đồng thời hăn với hàng hoá vật chất, sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nắc trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Còn trong trường hợp dịch vụ, thì người cung ứng dịch vụ và khách hàng cùng có mặt đồng thời tham gia vào quá trình dịch vụ, nên sự giao tiếp giữa hai bên tạo ra tính khác biệt của Marketing dịch vụ.
- Tiếp theo là tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ thường không én định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo sư đầu ngành thực hiện sẽ có chất lượng cao hơn nhiều so với một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề. Và các cuộc phẫu thuật riêng của giáo sư cũng sẽ khác nhau tuỳ theo tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh than của ông ta trong lúc tiễn hành ca mô. - Cuối cùng là tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thê lưu kho được.
Nếu máy bay vắng khách thì giờ đến vẫn phải cất cánh với nửa khoang ghế trống. Trong khi nhu cầu về dich vụ thường dao động rất lớn, có những thời điểm rất đông khách (trong ngày, trong tuân, trong thang, trong năm) thì người cung ứng dịch vụ phải có nhiều phương tiện cung ứng lên gấp bội dé đảm bảo phục vụ trong giờ cao điểm. Ngược lại, khi vắng khách vẫn phải tốn các chi phi cơ bản như trả lương cho nhân viên, thuê địa điểm. Đề khắc phục được vướng mắc này và cân đối cung cầu tốt hơn, có thê định giá phân biệt, hệ thống đặt chỗ trước, thuê nhân viên bán thời gian.
Phát triển dịch vụ 1. Khái niệm về phát triển dịch vụ Phat trién là “biến đổi hoặc làm cho biến đôi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” còn “đổi mới là thay đổi cho khác hăn với cái trước, tiền bộ hơn „ khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình từ tiền lên từ thấp đến cao. Phát triên không chỉ đơn thuần tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng.
Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định. Như vậy phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng. Phát triển dịch vụ là sự gia tăng về chất và lượng của dịch vụ, làm cho dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng. Dịch vụ là sản phẩm vô hình, do đó việc đánh giá sự gia tăng chat và lượng của dịch vụ chỉ mang tính chất tương đối, phụ thuộc vào từng đối tượng sử dụng, được đánh giá trên mặt bằng chung các nhà cung cấp dịch vụ đó.
Các nội (lung về phát triển dịch vụ Từ những đặc điểm của dịch vụ mà việc phát triển dịch vụ bao gồm các nội dung sau: Một là, gia tăng số lượng, chủng loại: nội dung này thể hiện tính đa dạng của dịch vụ mà nhà cung cấp mang đến cho khách hàng. Dịch vụ đa dạng sẽ giúp cho nhà cung cấp có cơ hội đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng doanh thu. Sự đa dạng hóa cần phải được thực hiện trong tương quan so với nguồn lực hiện có của nhà cung cấp. Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, nên nhà cung cấp không ngừng phải cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất đặc biệt là xu hướng liên kết những dich vụ thành những “gói hàng” đa đạng và tiện lợi.
Các nhà cung cấp đa năng còn chủ động cạnh tranh bằng cách lắn sang các hoạt động khác. Như vậy nhà cung cap vừa thu được nhiều lợi nhuận vừa tránh bớt rủi ro trong kinh doanh Hai là, quy mô, doanh số dịch vụ: Một nhà cung cấp được đánh giá là phát triển dịch vụ trước hết phái đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng khách hàng. Mức độ đáp ứng yêu cầu khách hàng càng cao, khách hàng sử dụng dịch vụ càng nhiều đẫn tới số lượng dịch vụ cung ứng ra thị trường càng lớn. Đánh giá sự gia tăng quy mô dịch vụ người ta đánh giá theo từng giai đoạn, từng thời kỳ Ba là, đối tượng, số lượng khách hàng.
Một nhà cung cấp được đánh giá là có dịch vụ phát triển, trước hết phải đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng khách hàng. Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng cao, khách hàng cảng sử dụng nhiều dịch vụ của nhà cung cấp đó dẫn tới số lượng dịch vụ cung ứng ra thị trường càng lớn. Bốn là, thị phần. Thị phần là phần thị trường mà nhà cung cấp đó nắm giữ được.
Đây là tiêu chí chung để đánh giá sự phát triển của bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Số lượng khách hàng càng đông, thị phần càng lớn chứng tỏ nhà cung cấp đó đã thành công trong việc đưa dịch vụ ra thị trường. Tuy nhiên, nếu thị phần giảm sút chưa thể khăng định chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp có vấn đề, khi đó cần phải xem xét yếu tố khách quan liệu có sự gia tăng các đối thủ cung cấp loại hình dịch vụ này dẫn đến chiếc bánh thị trường bị chia sẻ hay không? Ngân hàng nào có chất lượng phục vụ tốt, đa dạng về dịch vụ, đánh vào tâm lý người tiêu dùng về lãi suất, tính tiện ích. sẽ gianh được thắng lợi.
Như vậy, tiêu chí thị phần trên thị trường cũng được coi là tiêu chí quan trọng trong đánh giá sự phát triển của dịch vụ của một nhà cung cấp. Năm là, hệ thông kênh phân phối. Hệ thống kênh phân phối thể hiện qua số lượng các địa điểm phân phối đang hoạt động. Đây là phương thức tiếp cận khách hàng trực tiếp tại điểm phân phối.
Hệ thống phân phối rộng lớn thê hiện tiềm lực của các nhà cung cấp là một trong những phương thức quảng bá thương hiệu của mỗi nhà cung cấp. Hiện nay, kênh phân phối truyền thông đang dần bộc lộ những hạn chế về mặt thời gian và không gian khi nhu cầu sử dụng dịch vụ của các khách hàng đòi hỏi đáp ứng mọi lúc mọi nơi. Do đó, xu hướng mở rộng thêm các kênh phân phối và mạng lưới với các thiết bị trên nền tảng công nghệ cao đang rất cần thiết trong cuộc cạnh tranh “giành giật” khách hàng giữa các nhà cung cấp. Sáu là, thu nhập.
Mục tiêu cuối cùng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn đạt tới là tối đa hóa lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc phát triển dịch vụ đối với hoạt động kinh doanh của mỗi nhà cung cấp. Dịch vụ chỉ được coi là phát triển toàn diện khi lợi nhuận thu được cũng phải tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra. Tiêu chí về sự gia tăng hiệu quả hoạt động là tiêu chí tổng hợp và phản ánh kết quả của quá trình phát triên dịch vụ của mỗi nhà cung cấp.
Đối với mỗi dịch vụ cung ứng ra thị trường chỉ tiêu về hiệu quá hoạt động là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định việc tiếp tục phát triên dịch vụ hay tạm dừng triển khai dịch vụ nếu hiệu quả mang lại không như kỳ vọng đặt ra. Bay là, sự hài lòng của khách hàng. Các dịch vụ cung ứng được khách hàng sử dụng nhiều thê hiện sự tiện ích của các loại địch vụ đó và cũng có nghĩa là sự hải lòng của khách hàng đối với dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Việc đánh giá mức độ hài lòng có thé chia thành 3 nhóm để hỏi ý kiến khách hàng: Rat hai lòng, hài lòng và không hài lòng.
Thông qua kết quả thống kê sẽ giúp ngân hàng có những chính sách phù hợp nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Khái niệm dịch vụ cho vay, dịch vụ hỗ trợ sau cho vay 1.